Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 460/2024/DSPT

Ngày: 05/11/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ,

hợp đồng thế chấp tài sản

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Hồng Dung

- Các thẩm phán: Bà Lê Thị Minh Trang

Bà Hà Thị Phương Thanh

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Ban - thư ký Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa:

Bà Huỳnh Hồng Phil – Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 11 năm 2024 tại Toà án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 337/2024/TLPT.DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ, hợp đồng thế chấp tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXPT.DS ngày 04 tháng 10 năm 2024.

Do Bản án số 60/2024/DSST ngày 28/6/2024 của TAND quận Ô Môn xử sơ thẩm có kháng cáo, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K

Trụ sở: Số 40-42-44, Phạm Hồng T, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M – Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lương Hoàng N, sinh năm 1966 (Quyết định ủy quyền số 331/QĐ-NHKL ngày 22/01/2024). Xin vắng mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Văn B - C - Đoàn luật sư tỉnh K. Có mặt.

* Bị đơn: Ông Trần Thanh Đ, sinh năm 1990. Có mặt

Nơi cư trú: khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Phạm Trang Đ1, sinh năm 1991 (vợ ông Đ)

Nơi cư trú: khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Đ1: Ông Trần Thanh Đ, sinh năm 1990 (Văn bản ủy quyền ngày 22/8/2023). Có mặt

2. Văn phòng C1 (Yêu cầu xử vắng mặt)

Địa chỉ: A Quốc lộ I, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ.

Người kháng cáo: Ngân hàng TMCP K

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án đại diện nguyên đơn trình bày:

Ông Trần Thanh Đ có giao kết với ngân hàng TMCP K (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng dịch vụ số 1456/HĐDV-2019 ngày 07/12/2019 về việc tư vấn giới thiệu sản phẩm cho vay (trả góp ngày) theo quy định của Ngân hàng trong từng thời kỳ cho khách hàng có nhu cầu vay vốn và chịu trách nhiệm đối với việc thẩm định, cấp tín dụng theo thông báo hạn mức bảo lãnh tối đa của cộng tác viên Trần Thanh Đ cho những khách hàng do ông Đ giới thiệu. Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay (nợ gốc, lãi, tiền phạt và các khoản phí khác) cho các hợp đồng tín dụng (vay trả góp) của bên thứ ba (bên vay) mà ông Trần Thanh Đ là cộng tác viên thẩm định, quản lý hồ sơ, đề xuất cho vay theo thông báo hạn mức bảo lãnh tối đa của Ngân hàng theo từng thời kỳ khi bên vay không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng, ông Trần Thanh Đ và bà Phạm Trang Đ1 có ký kết với ngân hàng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 227/18/HĐTC-BĐS/0402- 1794 ngày 30/10/2018. Tài sản bảo đảm gồm: quyền sử dụng đất số CP 262084; số vào sổ: CS05079 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 01/10/2018; số thửa: 163; tờ bản đồ số: 58; diện tích: 67,5m²; mục đích sử dụng: đất ở đô thị; tọa lạc tại số B, khu V, Huỳnh Thị G, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ.

Trong quá trình cộng tác tại Ngân hàng, ông Đ vi phạm quy định cho vay (trả góp ngày), không hợp tác với Ngân hàng để khắc phục hậu quả. Nay Ngân hàng yêu cầu ông Đ phải thanh toán cho ngân hàng TMCP K số tiền tạm tính đến ngày 16/02/2023 là 1.100.528.503 đồng (một tỷ, một trăm triệu, năm trăm hai mươi tám nghìn, năm trăm lẻ ba đồng) trong đó nợ gốc: 640.352.500 đồng, lãi trong hạn: 39.685.014 đồng, lãi quá hạn 420.490.989 đồng và tiền chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật mà ông Đ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp bảo đảm nợ vay theo hợp đồng thế chấp QSD đất và tài sản gắn liền với đất số 277/18/HĐTC - BĐS/0402 - 1794 ngày 30/10/2018 để ưu tiên thanh toán nợ cho ngân hàng.

* Bị đơn ông Trần Thanh Đ cho rằng:

Ngày 30/10/2018 để được ký hợp đồng làm cộng tác viên tại ngân hàng K - chi nhánh Ô, ông Đ buộc phải ký hợp đồng thế chấp để bảo lãnh khoản vay cho tất cả các khách hàng do ông Đ đề xuất vay vốn. Nếu quá trình đề xuất có sai sót thì ông Đ có trách nhiệm thu hồi nợ cho ngân hàng. Nhưng trong quá trình giải ngân, khách hàng do ông Đ tư vấn đều được ngân hàng K duyệt chấp nhận đúng quy định và giải ngân. Sau đó, do tình hình dịch bệnh, khách hàng không có khả năng trả nợ nên ông Đ có yêu cầu ngân hàng thu hồi tài sản đảm bảo của khách hàng vay mà ngân hàng K đang cầm cố hoặc khởi kiện khách vay để thu hồi nợ nhưng không được ngân hàng hỗ trợ và không đưa lên nợ xấu quốc gia. Đối với yêu cầu của nguyên đơn ông Đ có ý kiến như sau:

  • Về khoản vay của khách hàng Huỳnh Võ Thế V đã thu hồi tài sản trả lại cho Ngân hàng rồi nhưng ngân hàng chưa làm thủ tục đối với hợp đồng vay này, ông đề nghị Ngân hàng xem xét lại đối với trường hợp này.
  • - Ông Đ yêu cầu ngân hàng khởi kiện tất cả các khách hàng do ông giới thiệu hiện tại còn nợ ngân hàng (27 khách hàng theo danh sách ngân hàng cung cấp) để thu hồi nợ, trường hợp các khách hàng này không có khả năng thanh toán nợ thì ông Đ có trách nhiệm theo hợp đồng thế chấp đã ký kết, ông Đ không đồng ý trả cho ngân hàng số tiền tạm tính đến 16/02/2023 là: 1.100.528.503 đồng; không đồng ý phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo yêu cầu của ngân hàng.

* Ý kiến của Văn phòng C1:

Ngày 30/10/2018 công chứng viên Nguyễn Hồng Ái A tại Văn phòng C1 (nay là văn phòng C1) công chứng hợp đồng thế chấp QSD đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông Trần Thanh Đ bà Phạm Trang Đ1 và ngân hàng TMCP K - Phòng giao dịch Ô, số công chứng 6212, quyển số 01/2018/TP/CC-SCC/HĐGD với nội dung ông Trần Thanh Đ bà Phạm Trang Đ1 thế chấp toàn bộ QSD đất theo giấy chứng nhận QSD đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CB 262084, số vào sổ CS05079 do Sở Tài nguyên và môi trường thành phố C cấp ngày 01/10/2018, thửa đất 163, tờ bản đồ số 58, đất tại B H, khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ cho ngân hàng để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho các Hợp đồng tín dụng của bên thứ ba tại ngân hàng, các hợp đồng tín dụng do ông Trần Thanh Đ là cộng tác viên thẩm định và đề xuất cho vay. Tại thời điểm công chứng ông Trần Thanh Đ bà Phạm Trang Đ1 có năng lực hành vi dân sự và hoàn toàn tự nguyện lập và ký tên vào hợp đồng sau khi đọc lại toàn bộ nội dung hợp đồng, được công chứng viên giải thích và đã hiểu rõ quyền nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của hai bên, ý nghĩa và hậu quả pháp lý của việc công chứng hợp đồng. Ngân hàng K đã làm thủ tục đăng ký chữ ký, mẫu dấu và đã ký trước hợp đồng này, công chứng viên đã đối chiếu chữ ký, mẫu dấu trên hợp đồng và nhận thấy trùng khớp với mẫu chữ ký, mẫu dấu đã đăng ký tại Văn phòng C1. Mục đích, nội dung của hợp đồng không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên đã được công chứng viên Nguyễn Hồng Ái A tại Văn phòng C1 (nay là văn phòng C1) công chứng đúng theo quy định của Luật công chứng và có hiệu lực theo quy định của pháp luật. Do tính chất công việc phải thường xuyên đi công tác và giải quyết hồ sơ công chứng nên văn phòng công chứng Nguyễn Thị T1 Anh xin được vắng mặt trong quá trình tòa án giải quyết vụ kiện.

Tại phiên tòa sơ thẩm;

Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn rút yêu cầu đối với 03 khách hàng là Huỳnh Kim Thùy M1, Nguyễn Thị Kim Đ2, Nguyễn Tuấn V1. Theo bản tự khai và bản tính lãi do nguyên đơn cung cấp ngày 28/6/2024 thì số nợ tính đến ngày 28/6/2024 là 1.310.188.729 đồng, sau khi trừ ra số nợ của 03 khách hàng thì ông Đ còn nợ nguyên đơn tổng cộng là 1.209.887.799 đồng.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn bổ sung yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho 34 khế ước do ông Đ tư vấn, giới thiệu bởi vì căn cứ theo quy định tại Điều 362 Bộ luật dân sự năm 2004 Ngân hàng đã lồng ghép hợp đồng bảo lãnh vào hợp đồng thế chấp, thời điểm hai bên ký hợp đồng thế chấp kiêm hợp đồng bảo lãnh thì Bộ luật dân sự năm 2004 đang có hiệu lực nên áp dụng theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2004, nguyên đơn cho rằng chỉ căn cứ vào hợp đồng thế chấp kiêm hợp đồng bảo lãnh để yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay chứ không liên quan tới hợp đồng dịch vụ số 1456/HDDV-2019. Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực thì không quy định chung về việc thế chấp và bảo lãnh mà tách ra thành hai điều luật riêng biệt nhưng tinh thần của luật vẫn đảm bảo, nên nguyên đơn đã kế thừa quy định của pháp luật đối với hai chế định thế chấp và bảo lãnh trong cùng một hợp đồng, các bên có quyền tự thỏa thuận những điều mà pháp luật không cấm. Vì thế đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào hợp đồng thế chấp QSD đất và tài sản gắn liền với đất số 277/18/HĐTC-BĐS/0402- 1794 ngày 30/10/2018: buộc ông Trần Thanh Đ phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo hợp đồng thế chấp đã ký kết, tổng số tiền ông Đ phải thanh toán cho nguyên đơn tính đến ngày 28/6/2024 là 1.209.887.799 đồng, trong đó nợ gốc là 591.773.990 đồng; lãi trong hạn: 35.786.441đồng; lãi quá hạn: 582.362.484 đồng và lãi phát sinh từ ngày 29/6/2024 cho đến khi trả hết nợ.

Trường hợp bị đơn không thanh toán nợ hoặc thanh toán không đầy đủ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp QSD đất và tài sản gắn liền với đất số 277/18/HĐTC-BĐS/0402- 1794 ngày 30/10/2018 để thu hồi nợ theo quy định pháp luật. Nguyên đơn xác định chưa khởi kiện đối với các khách hàng còn lại do ông Đ tư vấn giới thiệu đã vi phạm hợp đồng tín dụng với ngân hàng.

Ông Trần Thanh Đ trình bày: Ông không đồng ý với yêu cầu của ngân hàng do ông không vi phạm hợp đồng, nhiều lần ông đề nghị ngân hàng hỗ trợ trong việc khởi kiện các khách hàng vi phạm hợp đồng để thu hồi nợ nhưng ngân hàng không đồng ý nên ông không thể thu tiền đối với các khách hàng này. Ông yêu cầu ngân hàng khởi kiện đối với các khách hàng còn nợ, nếu khách hàng không trả hoặc trả không đủ thì ông đồng ý trả thay theo hợp đồng thế chấp đã ký kết.

Tại bản án số 60/2024/DSST ngày 28/6/2024 của TAND quận Ô Môn tuyên xử:

Tuyên xử: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ngân hàng K về việc buộc bị đơn ông Trần Thanh Đ phải trả số tiền tạm tính đến ngày 28/6/2024 là 1.209.887.799 đồng (một tỷ, hai trăm lẻ chín triệu, tám trăm tám mươi bảy nghìn, bảy trăm chín mươi chín đồng), trong đó nợ gốc là 591.773.990 đồng (năm trăm chín mươi mốt triệu, bảy trăm bảy mươi ba nghìn, chín trăm chín mươi đồng); lãi trong hạn: 35.786.441 đồng (ba mươi lăm triệu, bảy trăm tám mươi sáu nghìn, bốn trăm bốn mươi mốt đồng); lãi quá hạn: 582.362.484 đồng (năm trăm tám mươi hai triệu, ba trăm sáu mươi hai nghìn, bốn trăm tám mươi bốn đồng). Không chấp nhận yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 277/18/HĐTC-BĐS/0402 - 1794 ngày 30/10/2018.

Ngoài ra Bản án còn tuyên về chi phí thẩm định, án phí và quyền kháng cáo theo qui định.

Ngày 28/6/2024 Ngân hàng có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm, đề nghị sửa bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

Tại phiên tòa phúc thẩm Luật sư phía Nguyên đơn đưa ra các căn cứ để cho rằng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở. Tuy nhiên nếu Tòa không chấp nhận yêu cầu đòi nợ của Nguyên đơn thì đề nghị chưa xem xét đối với Hợp đồng thế chấp tài sản.

Quan điểm của Kiểm sát viên:

  • Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký tuân theo pháp luật tố tụng. Các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ theo qui định.
  • Về nội dung: Trên cơ sở chứng cứ cụ thể là các Hợp đồng ký kết giữa hai bên, ở thời điểm hiện tại Ngân hàng chưa khởi kiện khách hàng để thu hồi nợ, chưa có căn cứ xác định khách hàng không trả nợ đầy đủ cho Ngân hàng. Trường hợp khách hàng do ông Đ là cộng tác viên giới thiệu không trả nợ đủ thì Ngân hàng căn cứ vào các hợp đồng tín dụng đã ký để khởi kiện khách hàng vay tiền, nếu họ không trả tiền theo hợp đồng tín dụng thì Nguyên đơn mới có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Do vậy yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn đối với ông Đ là chưa có cơ sở chấp nhận.

Nguyên đơn kháng cáo không có chứng cứ mới nên không có cơ sở để xem xét, vì vậy không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Nguyên đơn. Đề nghị giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán nợ theo hợp đồng thế chấp và hợp đồng dịch vụ nên xác định đây là vụ án tranh chấp hợp đồng dân sự giữa pháp nhân với cá nhân được pháp luật dân sự điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Vụ kiện được thụ lý và giải quyết đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Đối với yêu cầu của ngân hàng TMCP K kháng cáo có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Văn phòng công chứng yêu cầu xét xử vắng mặt nên tiến hành xét xử vắng mặt Nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như lời trình bày của người đại diện cho nguyên đơn tại phiên tòa cho thấy số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả tính đến ngày 28/6/2024 là 1.209.887.799 đồng, đây là số tiền nguyên đơn đã cộng tất cả các khoản nợ chưa thanh toán của các khách hàng do ông Đ giới thiệu, chứ giữa ông Đ và ngân hàng K không có ký kết hợp đồng vay, hơn nữa Ngân hàng xác định không kiện khách hàng nên án sơ thẩm không đưa khách hàng vào tham gia tố tụng là phù hợp.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của Nguyên đơn đồng nghĩa với xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,

[3.1] Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là hợp đồng dịch vụ số 1456/HĐV-2019, thời hạn hợp đồng là ngày 07/12/2019 đến 06/412/2021; hợp đồng thế chấp QSD đất và tài sản gắn liền với đất số hợp đồng thế chấp QSD đất và tài sản gắn liền với đất số 277/18/HĐTC-BĐS/0402- 1794 ngày 30/10/2018, cho thấy giữa ngân hàng và ông Trần Thanh Đ có giao kết hợp đồng dân sự, pháp luật quy định cam kết, thỏa thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được các bên tôn trọng. Xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 117/18/HĐTC-BĐS/0402-5893 thấy rằng hợp đồng này được ký kết vào ngày 30/10/2018 (công chứng ngày 30/10/2018), trước thời điểm các bên ký hợp đồng dịch vụ (ngày 07/128/2019), tại phiên tòa nguyên đơn cho rằng hợp đồng thế chấp kiêm hợp đồng bảo lãnh mà hai bên ký kết không liên quan đến hợp đồng dịch vụ là chưa có cơ sở, bởi lẽ tại mục 1. Điều 1 của hợp đồng thế chấp có quy định: “bên A đồng ý dùng tài sản hợp pháp của mình để thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay (gốc và lãi vốn vay) cho các hợp đồng tín dụng (vay trả góp) của bên thứ ba tại ngân hàng TMCP K do ông Trần Thanh Đ là cộng tác viên thẩm định và đề xuất cho vay”. Điểm a, khoản 2 Điều 16 Quy chế cho vay trả góp ngày của ngân hàng TMCP K có nêu: “cộng tác viên có nghĩa vụ có tài sản bảo đảm để bảo đảm cho các món vay của các khách hàng do cộng tác viên thẩm định và đề xuất cho vay”. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 15 Quy định quản lý cộng tác viên tín dụng (ban hành kèm theo QĐ số 137 ngày 12/01/2019 của Tổng giám đốc ngân hàng K) có quy định: “trường hợp cộng tác viên không thiết lập tài sản bảo đảm thì ngân hàng sẽ tạm ngưng chi trả phí dịch vụ trong thời gian chờ hoàn tất thủ tục thiết lập tài sản bảo đảm”. Tại Điều 292 Bộ luật dân sự 2015 có quy định: “thế chấp tài sản là một trong những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ”, theo đó các bên ký hợp đồng thế chấp để bảo đảm cho việc bị đơn được làm việc tại ngân hàng, nếu không ký hợp đồng thế chấp thì không được làm cộng tác viên. Mục đích thực sự của hợp đồng thế chấp là ngân hàng ràng buộc trách nhiệm với cộng tác viên, nhằm bảo đảm, bảo lãnh cho công việc cộng tác viên của ông Đ, hay khác hơn là bảo đảm cho hợp đồng dịch vụ giữa hai bên.

[3.2] Nguyên đơn đề nghị căn cứ Điều 362 Bộ luật dân sự năm 2004 thì hợp đồng thế chấp này kiêm hợp đồng bảo lãnh, hay khác hơn, hợp đồng bảo lãnh được lồng ghép vào hợp đồng thế chấp; Hội đồng xét xử thấy rằng hợp đồng thế chấp giữa nguyên đơn và bị đơn được ký kết vào ngày 30/10/2018, thời điểm này Bộ luật dân sự năm 2015 đang có hiệu lực pháp luật nên căn cứ theo pháp luật hiện hành để xem xét, giải quyết. Theo quy định tại Điều 317, Điều 322 Bộ luật dân sự năm 2015 về thế chấp tài sản và bảo lãnh là hai hình thức bảo đảm nghĩa vụ được quy định tại hai điều luật khác nhau, và nội dung cũng khác nhau, nên không thể xem hợp đồng thế chấp là hợp đồng bảo lãnh như nguyên đơn trình bày.

[3.3] Đối với các hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng cầm cố tài sản do ông Đ thẩm định và đề xuất cho vay thì ngân hàng và khách hàng ký hợp đồng với nhau, trong đó có 18/34 hợp đồng có cầm cố tài sản (xe mô tô), 16/34 hợp đồng tín chấp nhưng nguyên đơn chưa khởi kiện đối với khách hàng để thu hồi nợ nên chưa có căn cứ xác định khách hàng không trả hoặc trả không đủ, trường hợp các khách hàng do ông Đ giới thiệu không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì nguyên đơn mới được quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đã cam kết của ông Đ.

Tuy nhiên do yêu cầu đòi nợ của Ngân hàng đối với ông Đ không được chấp nhận do chưa đủ điều kiện khởi kiện như nhận định trên nên chưa xem xét hợp đồng thế chấp. Trường hợp sau này khi Ngân hàng khởi kiện các khách hàng mà không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì xem xét đến trách nhiệm của ông Đ đối với Hợp đồng thế chấp tài sản theo luật định.

[4] Xét lời trình bày của bị đơn thấy rằng bị đơn chỉ trình bày yêu cầu của mình nhưng không có đơn phản tố nên Tòa sơ thẩm không thể xem xét yêu cầu này của bị đơn là phù hợp.

[5] Nguyên đơn kháng cáo không cung cấp thêm chứng cứ mới nào khác, vì vậy không có cơ sở để xem xét yêu cầu kháng cáo của Nguyên đơn. Bản án sơ thẩm xử là có căn cứ được giữ nguyên.

[6]Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn phải nộp và ghi nhận đã nộp xong.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của Nguyên đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

[9] Quan điểm của Viện kiểm sát: Nhận xét và đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Q;

Tuyên xử:

  • - Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ của Nguyên đơn
  • - Về nội dung: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Nguyên đơn

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Ngân hàng TMCP K về việc buộc bị đơn ông Trần Thanh Đ phải trả số tiền tạm tính đến ngày 28/6/2024 là 1.209.887.799 đồng (một tỷ, hai trăm lẻ chín triệu, tám trăm tám mươi bảy nghìn, bảy trăm chín mươi chín đồng), trong đó nợ gốc là 591.773.990 đồng (năm trăm chín mươi mốt triệu, bảy trăm bảy mươi ba nghìn, chín trăm chín mươi đồng); lãi trong hạn: 35.786.441 đồng (ba mươi lăm triệu, bảy trăm tám mươi sáu nghìn, bốn trăm bốn mươi mốt đồng); lãi quá hạn: 582.362.484 đồng (năm trăm tám mươi hai triệu, ba trăm sáu mươi hai nghìn, bốn trăm tám mươi bốn đồng). Không chấp nhận yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 277/18/HĐTC-BĐS/0402 - 1794 ngày 30/10/2018.

2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn phải nộp và ghi nhận nộp xong.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyên đơn phải nộp 48.296.634 đồng (bốn mươi tám triệu, hai trăm chín mươi sáu nghìn, sáu trăm ba mươi bốn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp 18.575.000 đồng (mười tám triệu, năm trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 011719 ngày 05/7/2021 thành án phí; Nguyên đơn phải nộp thêm số tiền 29.721.634 đồng (hai mươi chín triệu, bảy trăm hai mươi mốt nghìn, sáu trăm ba mươi bốn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn Ngân hàng phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chuyển số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0004720 ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Chi cục THA dân sự quận N thành án phí (nộp xong).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 05/11/2024.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - TAND Q. Ô Môn;
  • - CCTHA Q. Ô Môn ;
  • - Lưu hồ sơ.

Phan Thị Hồng Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 460/2024/DSPT ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng dịch vụ, hợp đồng thế chấp tài sản

  • Số bản án: 460/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ, hợp đồng thế chấp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger