Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 460/2025/HS-PT

Ngày: 20 - 6 - 2025

 

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Toàn
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Duyên
Ông Nguyễn Văn Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 355/2025/TLPT- HS ngày 08 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Dương Văn L do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2025/HS-ST ngày 08/4/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Long An.

Các bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Hoàng T. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 12/7/1978, tại huyện C, tỉnh Long An. Nơi thường trú: Ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Long An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lái xe. Trình độ học vấn: 05/12. Con ông: Nguyễn Văn M, sinh năm 1935 (chết) và bà: Trương Thị T1, sinh năm 1948 (chết). Vợ: Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1980, có 02 người con, lớn sinh năm 2007 và nhỏ sinh năm 2011.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Tại ngoại có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng T: Ông Nguyễn Hữu X là Luật sư thuộc Văn phòng L1, Đoàn Luật sư tỉnh L (có mặt).

Dương Văn L. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 05/10/1991, tại Thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Nơi thường trú: ấp T, xã V, Thành phố B, tỉnh Bạc Liêu. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lái xe. Trình độ học vấn: 08/12. Con ông Dương Văn K, sinh năm

1964 và bà Quách Thị H, sinh năm 1968 (chết). Vợ: Trần Thị Diễm N1, sinh năm 1991 (đã ly hôn). Con: không có.

Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 89/2017/HSST ngày 26/9/2017 của Tòa án nhân dân Quận 4 và Bản án hình sự phúc thẩm số 685/2017/HSPT ngày 26/12/2017 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa chấp hành nộp án phí.

Tiền sự: không

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 18/6/2024 đến nay (có mặt).

Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo khác; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 01/02/2017, Công ty TNHH T8, địa chỉ: Khu công nghiệp T, xã L, huyện B, tỉnh Long An (Công ty T8) ký kết Hợp đồng nguyên tắc về việc mua hàng hóa (bắp hạt, bã đậu nành, bã bắp lên men, bã cải ngọt, lúa mì, bã cải đắng và các nguyên liệu khác) với Công ty TNHH T8, địa chỉ: Số E, đường C, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Công ty T8). Từ ngày 01/9/2021 đến ngày 18/10/2021, Công ty T8 đặt mua của Công ty T8 04 đơn hàng với tổng khối lượng là 1.000 tấn khô dầu đậu nành.

Ngày 01/10/2019, Công ty T8 ký kết Hợp đồng nguyên tắc về việc mua nguyên liệu thức ăn chăn nuôi với Công ty TNHH T9 và Công ty Cổ phần T10, cùng địa chỉ: thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Địa điểm giao hàng tại trụ sở Công ty T8, thuộc Khu công nghiệp T, xã L, huyện B, tỉnh Long An.

Để thực hiện việc vận chuyển hàng hóa, Công ty TNHH T9 và Công ty Cổ phần T10 ký kết Hợp đồng nguyên tắc giao nhận hàng hóa với Công ty Cổ phần T11, địa chỉ: số F N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty Cổ phần T11 thuê lại các đơn vị khác vận chuyển, trong đó có Công ty TNHH V (Công ty V), địa chỉ: số B Đường A, Khu V, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Huỳnh Văn H1 làm Giám đốc. Ngoài ra, ông Huỳnh Văn H1 cũng là người điều hành hoạt động của Công ty TNHH D1 (Công ty D1), cùng địa chỉ với Công ty V, do bà Nguyễn Thị Bích N2 (vợ ông H1) làm Giám đốc. Phương tiện được sử dụng để vận chuyển hàng hóa là các xe ô tô đầu kéo gắn rơmoóc, chở thùng container không có nắp phía trên, dùng bạt để phủ. Khô dầu đậu nành được vận chuyển từ các cảng/kho tại Thị xã P, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đi theo tuyến Quốc lộ E về giao tại Công ty T8.

Lê Hoàng A là Nhân viên Kho của Công ty T8, theo Hợp đồng lao động ký

kết ngày 01/10/2021, phụ trách việc cân xe vào và cân xe ra, làm phiếu nhập kho và công việc khác theo sự chỉ đạo của cấp trên (Quản lý kho). Khối lượng hàng hóa do Hoàng A xác định trong Phiếu cân là căn cứ để Công ty T8 SoJitz thanh toán tiền mua hàng hóa cho Công ty T8.

Dương Hoàng P là chủ sở hữu xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 51C-918.23 gắn rơmoóc 51R-152.46, được Công ty V thuê vận chuyển khô dầu đậu nành từ các cảng/kho tại Thị xã P, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu giao cho Công ty T8. P đã thỏa thuận với Hoàng A về việc P sẽ bán khô dầu đậu nành trên xe ô tô trong quá trình vận chuyển, Hoàng A hợp thức hóa phiếu cân khi giao hàng cho Công ty T8, P sẽ chia tiền từ việc bán khô dầu đậu nành cho Hoàng A.

Sau khi đã bàn bạc, thống nhất với Hoàng A về việc chiếm đoạt khô dầu đậu nành của Công ty T8 như trên, bị cáo P rủ 07 tài xế khác cùng tham gia chiếm đoạt khô dầu đậu nành trong quá trình vận chuyển, gồm: Dương Văn T2 là tài xế lái xe thuê cho Công ty V, có ký kết hợp đồng, được giao điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 51D-415.40 gắn rơmoóc 51R-129.17; Nguyễn Văn Đ là tài xế lái xe thuê cho Công ty D1, có ký kết hợp đồng, được giao điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 51C-631.35 gắn rơmoóc 51R-128.00; Nguyễn Minh P1 là tài xế lái xe thuê cho Công ty D1, có ký kết hợp đồng, được giao điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 51C-632.25 gắn rơmoóc 51R-119.35; Nguyễn Thanh T3 là tài xế lái xe thuê cho Công ty D1, có ký kết hợp đồng, được giao điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 51C-783.17 gắn rơmoóc 51R-119.19; Dương Văn L là tài xế lái xe thuê cho Công ty D1, có ký kết hợp đồng, được giao điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 51C-708.84 gắn rơmoóc 51R-200.88; Nguyễn Trung T4, được Công ty V thuê làm tài xế theo chuyến, được giao điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 51D-403.75 gắn rơmoóc 51R-128.60 và Nguyễn Hoàng T là tài xế của Công ty TNHH V1, địa chỉ: 2 H, Phường 1, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (đơn vị liên kết vận tải với Công ty V), được giao điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 51C-544.65 gắn rơmoóc 51R-097.78.

Việc bán khô dầu đậu nành trong quá trình vận chuyển được bị cáo P rủ riêng từng tài xế trên và thông tin cho những người này biết việc P đã móc nối với nhân viên cân xe của Công ty T8 để hợp thức hóa phiếu cân giao hàng sau khi bán. P hướng dẫn các tài xế sau khi nhận hàng tại cảng/kho thì điều khiển xe đến phía trước cổng chùa Q2, cặp phía bên phải Quốc lộ E theo hướng Thị xã P đi B thuộc địa phận xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai thì dừng xe để bán khô dầu đậu nành. Hàng hóa được bán bằng cách xúc từ thùng container chuyển sang thùng xe ô tô tải đậu cặp bên. Thời gian bán là vào ban đêm hoặc rạng sáng trước khi giao hàng cho Công ty T8.

Theo thỏa thuận với bị cáo P, bị cáo Hoàng A đã hợp thức hóa phiếu cân trong 05 ngày, đối với 13 xe ô tô đã bị các tài xế bán khô dầu đậu nành trước khi đến giao cho Công ty T8. Cụ thể như sau:

Ngày 25/11/2021: xe ô tô 51D-415.40 do bị cáo T2 điều khiển và xe ô tô 51C-918.23 do bị cáo P điều khiển vận chuyển khô dầu đậu nành đến giao cho Công ty T8. Do khô dầu đậu nành trên xe ô tô 51D-415.40 do bị cáo T2 điều khiển đã bị bán một phần trên đường vận chuyển nên bị cáo Hoàng A hợp thức hóa phiếu cân cho xe ô tô 51D-415.40 của bị cáo T2. Hoàng A thực tế chỉ cân khối lượng đầu vào xe ô tô 51C-918.23 của bị cáo P sau đó lấy khối lượng của xe này để lập phiếu cân cho xe ô tô 51D-415.40 của bị cáo T2. P bán khô dầu đậu nành trên xe 51D-415.40 cho Lê Văn S (tên thường gọi là T5), sinh năm 1987, địa chỉ: Quốc lộ E, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai và được S thanh toán số tiền 89.500.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản của S đến tài khoản của P vào ngày 25/11/2021. P bán khô dầu đậu nành cho S với giá cao nhất là 10.000 đồng/kg. Trong ngày 25/11/2021, P chuyển khoản 28.000.000 đồng vào tài khoản của Hoàng A để chia tiền bán khô dầu đậu nành và chuyển khoản 30.000.000 đồng vào tài khoản của T2.

Kết luận định giá tài sản số 1736/KL-HĐĐG ngày 25/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Long An kết luận: Giá trị 01 (một) kg khô dầu đậu nành tại ngày 19, 25/11/2021 và ngày 08, 09/12/2021 theo Đơn đặt hàng số 211103-SBM ngày 04/9/2021 là 11.683 đồng. Như vậy, giá trị khô dầu đậu nành trên xe 51D-415.40 bị chiếm đoạt là 104.562.850 đồng.

Ngày 08/12/2021: Hoàng A hợp thức hóa phiếu cân cho 04 xe ô tô, gồm xe ô tô 51C-918.23 của bị cáo P, xe ô tô 51C-783.17 của bị cáo T3, xe ô tô 51D-415.40 của bị cáo T2, xe ô tô 51C-544.65 của bị cáo T. Phiếu cân của các xe này được Hoàng A lập “khống”, không sử dụng hệ thống cân điện tử. P bán khô dầu đậu nành trên 04 xe ô tô này cho Trần Văn H2, sinh năm 1980, địa chỉ: Tổ D, K, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương và được H2 thanh toán tổng cộng 370.000.000 đồng bằng hình thức nộp tiền mặt và chuyển khoản từ tài khoản của Lê Thị M1 (vợ H2) đến tài khoản của P vào ngày 08, 09/12/2021. P bán khô dầu đậu nành cho H2 với giá cao nhất là 10.000 đồng/kg. Trong ngày 08/12/2021, P chia tiền bán khô dầu đậu nành cho Hoàng A tổng cộng 95.000.000 đồng, gồm chuyển khoản vào tài khoản của Hoàng A 20.000.000 đồng, chuyển khoản vào tài khoản của ông Lê Văn T6 (cha ruột của Hoàng A) 5.000.000 đồng và chia tiền mặt cho Hoàng A số tiền 70.000.000 đồng; cho Thông số tiền 30.000.000 đồng và chuyển khoản cho T2 số tiền 63.000.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 1736/KL-HĐĐG ngày 25/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Long An kết luận: Giá trị 01 (một) kg khô dầu đậu nành tại ngày 19, 25/11/2021 và ngày 08, 09/12/2021 theo Đơn đặt hàng số 211103-SBM ngày 04/9/2021 là 11.683 đồng. Như vậy, giá trị khô dầu đậu nành trên mỗi xe bị chiếm đoạt là 108.067.750 đồng.

Ngày 09/12/2021: Hoàng A hợp thức hóa phiếu cân cho 03 xe ô tô, gồm xe ô tô 51C-918.23 của bị cáo P, xe ô tô 51D-415.40 của bị cáo T2 và xe ô tô 51C-631.35 của bị cáo Đ. Phiếu cân của các xe này được Hoàng A lập “khống”, không sử dụng hệ thống cân điện tử. P bán khô dầu đậu nành trên 03 xe ô tô này

cho Trương Thị Mộng M2, sinh năm 1986, địa chỉ: số B, Khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương và được Mơ thanh toán tổng cộng 240.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản của Mơ đến tài khoản của P vào các ngày 09/12/2021 và 13/12/2021. P bán khô dầu đậu nành cho Mơ với giá cao nhất là 10.500 đồng/kg. P chia tiền bán khô dầu đậu nành cho Hoàng A với tổng số tiền 75.000.000 đồng, gồm chuyển khoản vào tài khoản của Hoàng A số tiền 5.000.000 đồng và chuyển khoản vào tài khoản của Trần Thị Kim Q (vợ của Hoàng A) số tiền 70.000.000 đồng, chia cho Đ số tiền 33.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của Đ và chuyển khoản cho T2 số tiền 120.000.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 1736/KL-HĐĐG ngày 25/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Long An kết luận: Giá trị 01 (một) kg khô dầu đậu nành tại ngày 09/12/2021 theo Đơn đặt hàng số 211202-SBM ngày 04/9/2021 là 11.664 đồng. Như vậy, giá trị khô dầu đậu nành trên mỗi xe bị chiếm đoạt là 88.868.571 đồng.

Ngày 11/01/2022: xe ô tô 51C-632.25 do bị cáo P1 điều khiển, xe ô tô 51D-415.40 do bị cáo T2 điều khiển, xe ô tô 51C-708.84 do bị cáo L điều khiển và xe ô tô 51C-918.23 do bị cáo P điều khiển vận chuyển khô dầu đậu nành đến giao cho Công ty T8. Do khô dầu đậu nành trên xe ô tô 51C-632.25 do bị cáo P1 điều khiển, xe ô tô 51D-415.40 do bị cáo T2 điều khiển, xe ô tô 51C-708.84 do bị cáo L điều khiển đã bị bán một phần trên đường vận chuyển nên bị cáo Hoàng A hợp thức hóa phiếu cân cho 03 xe ô tô này. Hoàng A thực tế chỉ cân khối lượng đầu vào xe ô tô 51C-918.23 của bị cáo P sau đó lấy khối lượng của xe này để lập phiếu cân cho xe ô tô 51C-632.25 của bị cáo P1, xe ô tô 51D-415.40 của bị cáo T2 và xe ô tô 51C-708.84 của bị cáo L. P bán khô dầu đậu nành trên 03 xe ô tô này cho Lê Văn S, S bán “qua tay” cho Bùi Vinh Q1, sinh năm 1987, địa chỉ: phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh và được thanh toán tổng cộng 454.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản. Cụ thể: ngày 11/01/2022, Q1 chuyển khoản 300.000.000 đồng từ tài khoản của Q1 vào tài khoản của P theo yêu cầu của S; ngày 12/01/2022, S tiếp tục chuyển khoản thanh toán cho P số tiền 154.000.000 đồng từ tài khoản của S đến tài khoản của P. P bán khô dầu đậu nành cho S với giá cao nhất là 10.000 đồng. P chia tiền bán khô dầu đậu nành cho Hoàng A số tiền là 127.000.000 đồng, gồm: chuyển khoản vào số tài khoản của Hoàng A số tiền 20.000.000 đồng, chuyển khoản vào tài khoản của Trần Thị Kim Q (vợ của Hoàng A) số tiền 80.000.000 đồng và chuyển khoản vào tài khoản của Nguyễn Thanh N3 (chị dâu của Hoàng A) số tiền 27.000.000 đồng, chia cho bị cáo P1 số tiền 34.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của P1; chia tiền bán khô dầu đậu nành cho bị cáo L số tiền 40.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của L và chuyển khoản cho T2 số tiền 100.000.000 đồng vào ngày 12/01/2022.

Kết luận định giá tài sản số 1736/KL-HĐĐG ngày 25/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Long An kết luận: Giá trị 01 (một) kg

khô dầu đậu nành tại ngày 11, 21/01/2022 theo Đơn đặt hàng số 220101-SBM ngày 18/10/2021 là 11.360 đồng. Như vậy, giá trị khô dầu đậu nành trên mỗi xe bị chiếm đoạt là 171.914.667 đồng.

Ngày 21/01/2022: xe ô tô 51D-415.40 do bị cáo T2 điều khiển, xe ô tô 51D-403.75 do bị cáo Tín điều K1 và xe ô tô 51C-918.23 do bị cáo P điều khiển vận chuyển khô dầu đậu nành đến giao cho Công ty T8. Do khô dầu đậu nành trên xe ô tô 51D-415.40 do bị cáo T2 điều khiển và xe ô tô 51D-403.75 do bị cáo Tín điều K1 đã bị bán một phần trên đường vận chuyển nên bị cáo Hoàng A hợp thức hóa phiếu cân cho 02 xe ô tô này. Hoàng A thực tế chỉ cân khối lượng đầu vào xe ô tô 51C-918.23 của bị cáo P sau đó lấy khối lượng của xe này để lập phiếu cân cho xe ô tô 51D-415.40 của bị cáo T2, xe ô tô 51D-403.75 của bị cáo T4. P bán khô dầu đậu nành trên 02 xe ô tô này cho Lê Văn S và được S thanh toán tổng cộng 262.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản của S đến tài khoản của P vào các ngày 21/01/2022 và 11/01/2022. P bán khô dầu đậu nành cho S với giá cao nhất là 10.000 đồng. P đã chia tiền cho Hoàng A với tổng số tiền là 59.000.000 đồng, gồm: chuyển khoản vào tài khoản của Hoàng A số tiền 9.000.000 đồng và chuyển khoản vào tài khoản của Trần Thị Kim Q (vợ của Hoàng A) số tiền 50.000.000 đồng; chia cho T4 số tiền 31.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của T4 và chuyển khoản cho T2 số tiền 70.000.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 1736/KL-HĐĐG ngày 25/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Long An kết luận: Giá trị 01 (một) kg khô dầu đậu nành tại ngày 11, 21/01/2022 theo Đơn đặt hàng số 220101-SBM ngày 18/10/2021 là 11.360 đồng. Như vậy, giá trị khô dầu đậu nành trên mỗi xe bị chiếm đoạt là 148.816.000 đồng.

Như vậy, tổng giá trị khô dầu đậu nành của Công ty T8 mà các bị cáo Dương Hoàng P, Lê Hoàng A và các đồng phạm chiếm đoạt là 1.616.815.564 đồng (Một tỷ sáu trăm mười sáu triệu tám trăm mười lăm ngàn năm trăm sáu mươi bốn đồng). P bán khô dầu đậu nành trên 13 lượt xe được thanh toán tổng cộng 1.415.500.000 đồng. P chia cho bị cáo Hoàng A 384.000.000 đồng, bị cáo T 30.000.000 đồng, bị caó Đ 33.000.000 đồng, bị caó P1 34.000.000 đồng, bị caó T4 31.000.000 đồng và bị caó L 40.000.000 đồng, số tiền còn lại 863.500.000 đồng P sử dụng để trả nợ và tiêu xài cá nhân. Bị cáo T2 và T3 không hưởng lợi từ việc bán khô dầu đậu nành, số tiền 383.000.000 đồng bị cáo P nhiều lần chuyển khoản cho bị cáo T2 là tiền Phong trả nợ cho T2.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2025/HS-ST ngày 08/4/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Long An quyết định:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 50; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 04 (bốn) năm tù về tội “Tham ô tài sản”. Thời hạn tù được tính kể từ ngày thi hành án.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017, xử phạt bị cáo Dương Văn L 06 (sáu) năm tù về tội “Tham ô tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam từ ngày 18/6/2024.

Ngoài ra, Toà án nhân dân tỉnh Long An còn tuyên tội danh, hình phạt cho bị cáo khác; trách nhiệm dân sự; án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 08/4/2022, bị cáo Nguyễn Hoàng T kháng cáo xin được hưởng án treo.

Ngày 22/4/2022, bị cáo Dương Văn L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

1. Phần xét hỏi:

- Bị cáo Nguyễn Hoàng T giữ nguyên kháng cáo và trình bày: Bị cáo đồng ý về tội danh mà bị cáo đã bị quy kết, nhưng mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là có phần nghiêm khắc. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp một số tài liệu, chứng cứ mới. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

- Bị cáo Dương Văn L giữ nguyên kháng cáo và trình bày: Bị cáo đồng ý về tội danh mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên. Tuy nhiên mức án 06 năm tù đối với bị cáo là quá cao. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tất cả các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

2. Phần tranh luận:

2.1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

2.1.1. Về việc chấp hành pháp luật của HĐXX, thư ký và những người tham gia tố tụng: Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Đơn kháng cáo của các bị cáo là còn trong thời hạn luật định nên hợp lệ.

2.1.2. Về nội dung: Qua đối chiếu hồ sơ vụ án, Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ và đúng pháp luật, hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo T cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới nhưng không đủ để làm thay đổi nội dung vụ án nên không có cơ sở chấp nhận; đối với bị cáo L không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới nên cũng không có căn cứ để chấp nhận. Do đó, đề nghị HĐXX bác kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

2.2. Phần tranh tụng của bị cáo Nguyễn Hoàng T và người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng T

Không tranh luận về tội danh của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T có nộp thêm tài liệu mới là giấy xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn của UBND xã L; bà ngoại của bị cáo là bà Nguyễn Thị S1 có danh hiệu bà mẹ Việt Nam Anh Hùng; bản thân bị cáo đang điều trị nhiều bệnh. Do đó, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

2.3. Phần tranh tụng của bị cáo Dương Văn L: Bị cáo không trình bày gì thêm và đề nghị HĐXX xem xét theo quy định pháp luật.

2.4. Đại diện viện kiểm sát, luật sư bào chữa, các bị cáo giữ nguyên quan điểm về phần tranh tụng của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

3. Phần các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đã biết lỗi của mình và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm trở về chăm sóc gia đình, làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Dương Văn L thực hiện việc kháng cáo theo đúng quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của các bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:

[2.1] Lê Hoàng A là Nhân viên kho của Công ty T8, được giao nhiệm vụ cân xe vào, cân xe ra, làm phiếu nhập kho, có trách nhiệm quản lý, xác định khối lượng hàng hóa tại thời điểm giao hàng, khối lượng hàng hóa do bị cáo Hoàng A ghi nhận trong Phiếu cân hàng nhập kho là căn cứ để Công ty T8 thanh toán tiền cho Công ty T8. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, bị cáo Hoàng A đã thỏa thuận, câu kết với bị cáo Dương Hoàng P chiếm đoạt khô dầu đậu nành trong quá trình vận chuyển giao cho Công ty T8 rồi hợp thức hóa phiếu cân khi giao hàng. Từ ngày 25/11/2021 đến ngày 21/01/2022, bị cáo Hoàng A, bị cáo P cùng các bị cáo khác đã câu kết chiếm đoạt khô dầu đậu nành trong 05 ngày giao hàng cho Công ty T8, trên 13 xe ô tô, với tổng giá trị là 1.616.815.564 đồng. Bị cáo Dương Văn T2 chiếm đoạt khô dầu đậu nành trên 05 xe ô tô do bị cáo T2 điều khiển, với tổng giá trị là 622.229.838 đồng; bị cáo Nguyễn Thanh T3 chiếm đoạt khô dầu đậu nành trên 01 xe ô tô do bị cáo T3 điều khiển, với giá trị là 108.067.750 đồng; bị cáo Nguyễn Văn Đ chiếm đoạt khô dầu đậu nành trên 01

xe ô tô do bị cáo Đ điều khiển, với giá trị là 88.868.571 đồng; bị cáo Nguyễn Minh P1 chiếm đoạt khô dầu đậu nành trên 01 xe ô tô do bị cáo P1 điều khiển, với giá trị là 171.914.667 đồng; bị cáo Nguyễn Trung T4 chiếm đoạt khô dầu đậu nành trên 01 xe ô tô do bị cáo Tín điều K1, với giá trị là 148.816.000 đồng; bị cáo Nguyễn Hoàng T chiếm đoạt khô dầu đậu nành trên 01 xe ô tô do bị cáo T điều khiển, với giá trị là 108.067.750 đồng; bị cáo Dương Văn L chiếm đoạt khô dầu đậu nành trên 01 xe ô tô do bị cáo L điều khiển, với giá trị là 171.914.667 đồng.

[2.2] Các bị cáo cáo Nguyễn Hoàng T, Dương Văn L nhận thức được hành vi câu kết với Lê Hoàng A, Dương Hoàng P để chiếm đoạt khô dầu đậu nành của Công ty T8 là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi nên vẫn cố tình thực hiện.

Hành vi của các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Dương Văn L là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của Công ty T8 được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu tới hoạt động kinh doanh của Công ty T8 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2.3] Với hành vi nêu tại mục [2.1] và nhận định tại mục [2.2], Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Dương Văn L phạm tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Tại phần Nhận định của Bản án sơ thẩm đã xem xét, đánh giá hành vi phạm tội, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, hậu quả của hành vi phạm tội do các bị cáo thực hiện, từ đó xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An truy tố các bị cáo T, L về tội danh “Tham ô tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự là đúng tội danh và điều luật, có căn cứ, đúng pháp luật, không oan. Tuy nhiên, căn cứ pháp lý về hình phạt của các bị cáo T, L tại phần Quyết định của Bản án sơ thẩm ghi áp dụng quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự là có sai sót về chính tả, nhưng sai sót này không ảnh hưởng đến việc xác định tội danh, khung hình phạt đã như nhận định đối với các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử điều chỉnh lại sai sót tại Bản án sơ thẩm, không gây bất lợi cho các bị cáo.

[3] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Hoàng T

Tòa án cấp sơ thẩm khi lượng hình đã xem xét mức độ thực hiện hành vi phạm tội, vai trò của bị cáo, xem xét nhân thân, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện nộp 30.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, bị cáo có người thân là người có công với Cách mạng, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, từ đó xét xử bị cáo T 04 (bốn) năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo T thực hiện.

Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T kháng cáo xin hưởng án treo và bị cáo cung cấp các tình tiết mới là giấy xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn của UBND xã L; bà ngoại của bị cáo là bà Nguyễn Thị S1 có danh hiệu bà mẹ Việt Nam Anh Hùng; bản thân bị cáo đang điều trị nhiều bệnh nhưng các tình tiết này không làm thay đổi đáng kể tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo T; giữ nguyên phần hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo T.

[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Dương Văn L

Tòa án cấp sơ thẩm khi lượng hình đã xem xét mức độ thực hiện hành vi phạm tội, vai trò của bị cáo, xem xét nhân thân, bị cáo L có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo L là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện nộp 20.000.000 đồng, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, từ đó xét xử bị cáo L 06 (sáu) năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo L thực hiện.

Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo L; giữ nguyên phần hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo L.

Tại phần Nhận định của Bản án sơ thẩm xác định bị cáo L có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật; từ đó xử phạt bị cáo L mức hình phạt như trên là có cơ sở. Tuy nhiên, căn cứ pháp lý về hình phạt của bị cáo L tại phần Quyết định của Bản án sơ thẩm không ghi áp dụng quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là có sai sót về mặt chính tả, nhưng sai sót này không ảnh hưởng đến việc xác định tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt đã tuyên đối với bị cáo L. Do đó, Hội đồng xét xử điều chỉnh lại sai sót tại Bản án sơ thẩm, không gây bất lợi cho bị cáo.

[5] Từ các nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Dương Văn L. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2025/HS-ST ngày 08/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

[6] Trên đây là lập luận của Hội đồng xét xử về việc chấp nhận, không chấp nhận quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát, cũng như lời bào chữa của luật sư bào chữa và các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm.

[7] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn

kháng cáo, kháng nghị.

[8] Án phí hình sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Dương Văn L phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a, khoản 1 Điều 355, Điều 356, của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Dương Văn L, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2025/HS-ST ngày 08/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

1.1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Dương Văn L phạm tội “Tham ô tài sản”.

1.2. Về hình phạt:

  • - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 50; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày thi hành án.
  • - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017, xử phạt bị cáo Dương Văn L 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam từ ngày 18/6/2024.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Dương Văn L mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao; (1)
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh; (1)
  • - TAND tỉnh Long An; (3)
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh; (1)
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Long An; (2)
  • - Bị cáo tại ngoại; (1)
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An; (1)
  • - Cục THADS tỉnh Long An; (1)
  • - Lưu: VP, HS (ĐTM) (6) – (17B).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đức Toàn

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Các Thẩm phán

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị D – Nguyễn Văn Hùng

Vũ Đức T7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 460/2025/HS-PT ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tham ô tài sản

  • Số bản án: 460/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Dương Văn L, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2025/HS-ST ngày 08/4/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger