Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 460/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27/6/2025

V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hạnh

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hiền

Bà Lê Thị Huyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hường - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Phương Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 249/2025/TLST- HNGĐ ngày 10/4/2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2025/QÐST - HNGĐ ngày 25/3/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2025/QÐST-HNGĐ ngày 11/6/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh ngày 29/03/1987; CCCD số [...], cấp ngày 10/4/2021, nơi cấp Cục CSQLHC về TTXH; HKTT: Tổ dân phố G, phường B, quận H, thành phố Hà Nội; chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã N, huyện C, Hà Nội. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đình M, sinh ngày 14/07/1981; CCCD số [...], cấp ngày 04/4/2021, nơi cấp Cục CSQLHC về TTXH; HKTT: TDP G, phường B, quận H, thành phố Hà Nội; trú tại: Số nhà A ngõ C, tổ dân phố G, phường B, quận H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị T trình bày:

Chị và anh Nguyễn Đình M kết hôn với nhau là tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường B, quận H, thành phố Hà Nội ngày 27/10/2006. Sau khi kết hôn vợ chồng chị T về chung sống cùng bố mẹ chồng tại phường B, anh chị ra ở riêng được khoảng 3 năm nay. Trong quá trình chung sống anh chị sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh chị bất đồng quan điểm sống, không chia sẻ được với nhau, hầu hết việc chi tiêu trong gia đình, đóng tiền học cho con phần lớn do chị lo toan, anh M hay uống rượu, ít có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm đến vợ con. Chị T cũng đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh M không thay đổi, dẫn đến việc xúc phạm chị. Mâu thuẫn anh chị trầm trọng vào năm 2023. Chính vì vậy, anh chị sống ly thân mỗi người một nhà từ tháng 01/2024. Chị và cháu L chuyển về bố mẹ đẻ chị T để ở. Anh M và cháu M1 vẫn ở tại số nhà A ngõ C, tổ dân phố G, phường B. Anh, chị không ai còn quan tâm đến ai nữa. Mâu thuẫn của anh chị cũng được gia đình hai bên khuyên giải nhưng không có kết quả và tôn trọng quyết định của chị. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng hàn gắn nên chị tha thiết đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh Nguyễn Đình M.

Về con chung: Chị và anh M có 02 con chung là cháu Nguyễn Quang M1, sinh ngày 05/10/2007 và cháu Nguyễn Sỹ L, sinh ngày 11/02/2013. Hai con chung khỏe mạnh, phát triển bình thường. Hiện tại chị không có thai. Ly hôn chị xin được nuôi cháu L và đồng ý để anh M nuôi dưỡng cháu M1 vì cháu M1 để ở với anh M. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện tại tiền học của các con vẫn do chị chu cấp.

Về điều kiện kinh tế của chị T: Chị T có mở cửa hàng làm Spa (làm đẹp) ở B H, thị trấn C, huyện C, thành phố Hà Nội. Thu nhập khoảng 20.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung, công nợ: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị T tự nguyện nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

2. Bị đơn – anh Nguyễn Đình M: Anh M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của vụ án nhưng anh M không đến Tòa án làm việc, không trình bày ý kiến.

3. Kết quả xác minh tại Tổ dân phố thể hiện: Hiện nay anh M vẫn đáng sinh sống tại TDP G, phường B, quận H, thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống chị T và anh M có mâu thuẫn gì Tổ dân phố không nắm được, không nhận được phản ánh của chị T và anh M. Hiện nay, chị T không còn chung sống với anh M. Nay, chị T xin ly hôn anh M đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

4. Ý kiến đương sự tại phiên tòa:

Chị T vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn anh M. Về con chung: Chị T xin nuôi cháu L, giao cháu M1 cho anh M nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào ý kiến, quan điểm của nguyên đơn, bị đơn và các tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn và xử cho chị Lê Thị T được ly hôn anh Nguyễn Đình M; về con chung: Giao chị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu L, giao cho anh M nuôi dưỡng cháu M1; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, công nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét; về án phí nguyên đơn chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Đình M cư trú tại tổ dân phố G, phường B, quận H, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân quận Hà Đông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về quan hệ tranh chấp: Chị T làm đơn xin ly hôn nên quan hệ tranh chấp được xác định là Ly hôn theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh M đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh M.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị T và anh Nguyễn Đình M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn UBND phường B, quận H, thành phố Hà Nội ngày 27/10/2006 nên hôn nhân giữa chị T và anh M là hôn nhân hợp pháp. Theo chị T xác định mâu thuẫn vợ chồng anh chị phát sinh chủ yếu do bất đồng quan điểm sống, lối sống dẫn đến việc anh chị không còn tình cảm, phải sống ly thân từ tháng 01/2024. Anh, chị không còn quan tâm đến nhau, không còn yêu thương nhau, không còn quan hệ gì với nhau nữa. Quá trình giải quyết vụ án, anh M không đến Tòa án làm việc, không trình bày ý kiến, không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tại phiên tòa chị T vẫn kiên quyết xin ly hôn. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh M đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Yêu cầu của chị T xin ly hôn anh M phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2]. Về con chung: Chị T và anh M có 02 con chung là cháu Nguyễn Quang M1, sinh ngày 05/10/2007 và cháu Nguyễn Sỹ L, sinh ngày 11/02/2013.

Xét việc xin nuôi con chung thấy: Cháu M1 có nguyện vọng ở với anh M, cháu L có nguyện vọng ở với chị T. Thực tế hiện nay, cháu M1 đang ở với anh M. Cháu L đang ở với chị T. Việc nuôi dưỡng con chung là trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của cả bố và mẹ. Chị T có công việc, thu nhập ổn định. Anh M không có ý kiến gì về việc nuôi con. Trên cơ sở xem xét điều kiện đảm bảo nuôi dưỡng con chung, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của các con chung, đảm bảo nguyện vọng của con chung nên giao chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là cháu L, giao anh M nuôi dưỡng cháu M1 đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Anh M, chị T có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

[2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đến khi có Quyết định thay đổi khác.

[2.4]. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị T và anh M đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[2.5]. Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị T được ly hôn anh Nguyễn Đình M.

2. Về con chung: Chị T và anh M có 02 con chung là cháu Nguyễn Quang M1, sinh ngày 05/10/2007 và Nguyễn Sỹ L, sinh ngày 11/02/2013.

Giao chị Lê Thị T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 01 con chung là cháu Nguyễn Sỹ L, sinh ngày 11/02/2013 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

Giao anh Nguyễn Đình M được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 01 con chung là cháu Nguyễn Quang M1, sinh ngày 05/10/2007 đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

Anh Nguyễn Đình M, chị Lê Thị T có quyền, nghĩa vụ đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đến khi có Quyết định thay đổi khác.

4. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị T và anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

5. Về án phí: Chị Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về phần ly hôn. Được đối trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0045125 ngày 10/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Đình M có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận

  • - Đương sự;
  • - TAND Tp. Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông;
  • - Chi cục THADS quận Hà Đông;
  • - UBND phường B, Hà Nội
  • (GCNKH số 32/27.10.2006)
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 460/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 460/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Lê Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Đình M
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger