Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 460/2024/HS-PT
Ngày 13/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn

Các Thẩm phán: 1/ Bà Trần Thị Thúy Hồng

2/ Ông Ngô Đức Thọ

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Bà Cao Thị Hạnh, Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 771/2023/TLPT-HS ngày 09 tháng 10 năm 2023. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc Mai P đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 395/2023/HS-ST ngày 16/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo kháng cáo:

Nguyễn Ngọc Mai P, sinh ngày 13 tháng 9 năm 1984, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 2 đường A, khu phố A, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Kế toán; Con ông: Nguyễn Văn B, sinh năm 1962 và bà Đào Kim T, sinh năm 1962; Có chồng: Trần Quang Q, sinh năm 1980 (Đã ly hôn); Có 04 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh 2019; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 14/12/2018, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh số 01/QĐ-VKS-P3; Ngày 06/4/2022, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh số 03/QĐ-VKS-P3; Bị cáo tại ngoại (Có mặt).

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Vũ Thanh H, Đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt).

Phía người bị hại không kháng cáo: Trường trung học cơ sở G1 ông T1, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo:

  1. Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1964; Nơi cư trú: 177, đường số D, phường B, thành phố T, TP . Hồ Chí Minh.
  2. Bà Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm 1981; Nơi cư trú: 25/1 đường A, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Bà Phan Thị Ngọc C, sinh năm 1978; Nơi cư trú: 69/1 đường B, phượng B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Ông Trần Anh T2, sinh năm 1981; Nơi cư trú: 129 đường L, KDC В, А, D, tỉnh Bình Dương.
  5. Bà Nguyễn Thi L, sinh năm 1975; Nơi cư trú: 1502/30/226 N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, vụ án có nội dung như sau:

Trường trung học cơ sở G1 ông T1 (sau đây gọi tắt là T3 Giồng Ông T1) được thành lập theo Quyết định số 269/QĐ-UB ngày 20/8/1992 của Ủy ban nhân dân huyện T, sau này là Ủy ban nhân dân Quận B1, là đơn vị sự nghiệp công lập, trực thuộc quản lý của Phòng G2, nay là thành phố T.

Từ tháng 01/2012 đến tháng 12/2015, T3 Giồng ông T1, do ông Trần Văn Đ làm Hiệu trưởng, thực hiện hệ thống tài chính theo Nghị định số 43/2006/ND-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Trong số nhân sự nhà trường là 56 người, bao gồm: Ban Giám hiệu 3 người, 44 giáo viên, 3 nhân viên biên chế và 6 nhân viên hợp đồng.

T3 Giồng Ông T1 có mở tài khoản số [...] tại Kho bạc Nhà nước Q1, dùng nhận tiền ngân sách nhà nước chuyển vào để chi lương cho giáo viên, công nhân viên nhà trường, chi các khoản thường xuyên của T3 và mở tài khoản số 6280201005639 tại Ngân hàng A – Chi nhánh Đ1, là tài khoản trung gian dùng để nhận tiền chi lương từ tài khoản số [...] mở tại Kho bạc Nhà nước Q1 chuyển vào. Sau đó, từ tài khoản này sẽ thực hiện chi lương cho các giáo viên. Cả 2 tài khoản này do ông Trần Văn Đ, Hiệu trưởng, là chủ tài khoản.

Ngày 27/12/2005, Nguyễn Ngọc Mai P được B1 tuyển dụng hợp đồng lao động, giữ nhiệm vụ Kế toán Trường Giồng ông T1. Nhiệm vụ của P là thực hiện công tác kế toán, ghi chép, tính toán, phản ánh chính xác trung thực, kịp thời, đầy đủ hoạt động tài chính của nhà trường; quản lý tài khoản của nhà trường mở tại Kho bạc Nhà nước Q1, Ngân hàng A - Chi nhánh Đ1; thu ngân sách, thu học phí, thực hiện chi thường xuyên theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ gồm: Chi lương cho giáo viên, công nhân viên nhà trường, chi hoạt động của nhà trường... báo cáo thu, chi gửi về Phòng T4, báo cáo nhân sự gửi về Phòng Nội vụ Quận B.

Quy trình dự toán tiền lương; thanh toán tiền lương hàng tháng của Trường G Ông T1 như sau: Đầu năm, T3 Giồng ông T1 và Phòng T4 sẽ lập kế hoạch dự trù kinh phí chi lương trong năm. Dự trù kinh phí chi lương, sẽ dựa vào bảng lương tháng 12 năm trước đó và biên chế, hệ số lương của từng giáo viên, cán bộ công nhân viên nhà trường để tính toán, dự trù kinh phí chi lương cho năm sau. Sau đó, B1 sẽ có Quyết định giao dự toán thu, chi ngân sách cho Trường G Ông T1.

Hàng Quý, Nguyễn Ngọc Mai P sẽ lập bảng lương của các tháng trong quý và bảng lương tổng của quý, trình ông Trần Văn Đ ký duyệt. Sau đó, P sẽ nộp Bảng lương cho Phòng Nội vụ phê duyệt trên bảng lương từng quý.

Sau khi bảng lương được Phòng Nội vụ phê duyệt, hàng tháng, Nguyễn Ngọc M P lập Bảng lương tháng, Giấy rút dự toán ngân sách để thực hiện chi lương cho giáo viên, cán bộ công nhân viên nhà trường. Trên bảng lương sẽ nêu rõ từng người nhận lương, hệ số lương, phụ cấp và số tiền lương từng người được nhận, cuối bảng lương sẽ có tổng hệ số lương, tổng tiền cần phải chi.

Sau khi lập Bảng lương, Giấy rút dự toán ngân sách, Nguyễn Ngọc Mai P sẽ trình ông Trần Văn Đ, Hiệu trưởng duyệt ký. Sau đó, P sẽ chuyển Bảng lương, Giấy rút dự toán ngân sách đến Kho bạc Nhà nước Quận B. Nhân viên kế toán Kho bạc Nhà nước Q1 sẽ căn cứ vào số tiền do T3 Giồng Ông T1 yêu cầu chi theo hồ sơ, gồm giấy rút dự toán ngân sách nhà nước, các bảng lương, phụ cấp kèm theo. Sau khi nhận đủ hồ sơ thì Kho bạc Nhà nước Q1 sẽ thực hiện chuyển tiền vào tài khoản số 6280201005639, đứng tên T3 Giồng ông T1 mở tại Ngân hàng A.

Sau khi tiền được chuyển vào tài khoản của T3 THCS Giồng Ông T1 mở tại Ngân hàng A, Nguyễn Ngọc Mai P lập ủy nhiệm chi Bảng lương theo mẫu của Ngân hàng (Bảng lương này tương tự với bảng lương đã nộp tại Phòng Nội vụ và Kho bạc Nhà nước Q1, nhưng có thêm cột mục số tài khoản cá nhân từng giáo viên để Ngân hàng chuyển tiền) trình ông Đ ký đóng dấu, rồi chuyển kèm file mềm Bảng lương đã lập cho Ngân hàng A để chuyển khoản.

Hành vi chiếm đoạt tiền của Nguyễn Ngọc Mai P:

Căn cứ hồ sơ chi lương của T3 Giồng ông T1 thể hiện: Từ tháng 01/2012 đến tháng 12/2015, T3 Giồng ông T1 có chuyển khoản đến tài khoản của bà Phan Thị Ngọc C và Nguyễn Thị Kim H1 với nội dung chi lương, cụ thể:

Năm 2012: chuyển cho bà Phan Thị Ngọc C số tiền 276.173.164đồng, chuyển khoản cho bà Nguyễn Thị Kim H1 1.442.152.454đồng; Năm 2013: chuyển cho Nguyễn Thị Kim H1 số tiền 1.685.127.991đồng; Năm 2014: Chuyển cho Nguyễn Thị Kim H1 số tiền 1.735.210.144đồng; Năm 2015, C1 cho Nguyễn Thị Kim H1 số tiền 2.458.893.271đồng. Tổng cộng số tiền chuyển khoản cho Nguyễn Thị Kim H1 và Phan Thị Ngọc C là: 7.597.557.024đồng.

Tuy nhiên, bà Phan Thị Ngọc C, bà Nguyễn Thị Kim H1 là bạn và chị ruột của P, không phải giáo viên của trường, nhưng P lại đưa tên vào bảng chi lương để rút tiền.

Quá trình thanh tra, Nguyễn Ngọc Mai P đã nộp khắc phục số tiền 7.580.000.000đồng. Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Ngọc Mai P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên và khai việc chiếm đoạt tiền thì bà H1, bà C và ông Đ không biết, không tham gia.

Trong vụ việc này, ông Đ là người phát hiện sự việc, chủ động báo cáo ngay đến Phòng G2; Đảng ủy phường B, Quận B. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, ông Đ cũng thực hiện công khai tài chính, kiểm tra, đôn đốc nhưng không phát hiện được. Cơ quan điều tra, không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông Trần Văn Đ. Đảng ủy Quận B đã xử lý bằng hình thức cách hết chức vụ trong Đảng, cách chức Hiệu trưởng Trường G Ông T1 đối với ông Đ.

Đối với ông Trần Anh T2 và bà Nguyễn Thị L1 là Kế toán viên Kho bạc Nhà nước Q1, quá trình kiểm soát chi lương không phát hiện được việc Nguyễn Ngọc Mai P nâng khống bảng lương. Tuy nhiên không có văn bản quy định nào bắt buộc kế toán viên phải cộng từng dòng lương trong bảng lương để đối chiếu so sánh, mà căn cứ vào bảng lương do T3 Giồng ông T1 chuyển đến, có ký tên Hiệu trưởng và đóng dấu. Trường G Ông T1 được tự chủ tài chính, căn cứ vào chữ ký, con dấu của T3 Giồng ông T1, các chứng từ kèm theo Giấy, rút dự toán ngân sách đúng số liệu, số dư tài khoản đơn vị còn đủ để chi thì kế toán viên Kho bạc Nhà nước Quận B duyệt chi. Cơ quan điều tra, không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông Trần Anh T2 và bà Nguyễn Thị L1.

Đối với bà Phan Thị Ngọc C và Nguyễn Thị Kim H1, tài khoản của bà C và bà H1 trực tiếp nhận tiền do T3 Giồng Ông T1 chuyển vào, nhưng bà C và bà H1 không được hưởng lợi, không biết việc P chiếm đoạt tiền của T3 Giồng ông T1, nên Cơ quan điều tra xác định chưa đủ cơ sở để xử lý.

Tại Cáo trạng số 139/CT-VKS-P2 ngày 08/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, có nội dung:

Truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Mai P về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 278 Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 395/2023/HS-ST ngày 16/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã tuyên xử:

Xử phạt: Nguyễn Ngọc M P 08 năm tù về tội: “Tham ô tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Cấm bị cáo Nguyễn Ngọc Mai P đảm nhiệm chức vụ Kế toán trong thời hạn 03 năm, sau khi chấp hành xong hình phạt tù.

Bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề về tang vật, án phí, trách nhiệm bồi thường dân sự và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/8/2023 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyết định kháng nghị số 57/QĐ-VKS-P3, nội dung:

Đề nghị phúc xử lại vụ án theo ướng tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Mai P.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Tuy nhiên, mức án tuyên đối với bị cáo là chưa tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo Viện kiểm sát đề nghị sửa bản án sơ thẩm, xét xử bị cáo từ 15 năm đến 16 năm tù về tội “Tham ô tài sản”.

Bị cáo đề nghị xem xét chiếu cố cho hoàn cảnh của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm vì 08 năm tù cũng là khoản thời quá dài đối bị cáo, gia đình bị cáo hiện rất khó khăn chồng ly hôn, bị cáo hiện đang nuôi 4 con còn nhỏ, bản thân bị bệnh tâm thần thể trầm cảm nặng, bị cáo và gia đình đã khắc phục toàn bộ số tiền cho cơ quan.

Luật sư bào chữa cho bị cáo thì cho rằng, bị cáo thật thà, khai báo, ăn năn hối hận. Hoàn cảnh gia đình bị cáo hiện nay rất khó khăn, có 4 con còn nhỏ. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như bị cáo đã tích cực bồi thường, gia đình bị cáo có người thân là người có công cách mạng và bị cáo hiện nay đang bị bệnh. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm cũng đủ răng đe, giáo dục, để bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, nghe bị cáo trình bày, nghe Đại diện Viện kiểm sát và luật sư phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục kháng nghị: Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh làm trong hạn luật định, nên thủ tục kháng nghị hợp lệ.
  2. Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng nghị:
    1. Bị cáo Nguyễn Ngọc Mai P được tuyển dụng theo hợp đồng lao động vào ngày 27/12/2005, giữ chức vụ là kế toán của T3 Giồng Ông T1, nhiệm vụ của P là thực hiện công tác kế toán, ghi chép, tính toán phản ánh chính xác, trung thực, kịp thời, đầy đủ hoạt động tài chính của nhà trường, quản lý tài khoản của nhà trường mở tại Kho bạc Nhà nước Q1 tại Ngân hàng A chi nhánh Đ1, thu ngân sách, thu học phí thực hiện chi thường xuyên gồm chi lương cho giáo viên, cho công nhân viên nhà trường chi hoạt động của nhà trường, báo cáo thu chi gửi về Phòng T4.

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao, từ tháng 01/2012 đến tháng 12/2015, P đã có hành vi lập khống các bảng lương, nâng tổng tiền lương lên bảng lương của giáo viên, công nhân viên của nhà trường lập giấy rút dự toán ngân sách, ủy nhiệm chi để chiếm đoạt số tiền của ngân sách. Tính từ tháng 01/2012 đến tháng 12/2015 P đã chiếm đoạt tổng cộng 7.597.575.024đồng, trong đó chuyển vào tài khoản của bà C số tiền 276.173.164đồng chuyển vào tài khoản của bà H1 số tiền 7.321.383.860đồng.

Việc chiếm đoạt tiền do một mình bị cáo P thực hiện. Bà H2, bà C cũng như ông Đ là hiệu trưởng không biết và không có tham gia.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Tham ô tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 278 Bộ luật Hình sự, tại thời điểm phạm tội là năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 là đúng quy định của pháp luật. Trong đó có xem xét các tình tiết tăng nặng như: Bị cáo phạm tội từ hai lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như: Thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, đã chủ động nộp lại toàn bộ số tiền chiếm đoạt, khắc phục toàn bộ hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, được pháp luật quy định theo điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm khi lượng hình đã xem xét áp dụng thêm khoản 3 Điều 5 Nghị quyết số 03/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, quy định hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự trong xét xử tội phạm tham nhũng và các tội phạm khác về chức vụ thuộc trường hợp bị cáo đã khắc phục toàn bộ thiệt hại là phù hợp. Trong quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm, Cơ quan giám định pháp y xác định bị cáo bị bệnh tâm thần, nên đã áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh cho bị cáo theo luật định. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm q khoản 1 Điều 51 là có căn cứ, hợp pháp.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tài liệu xác minh có ông ngoại là người có công cách mạng, đây là tình tiết mới, nên cấp phúc thẩm áp dụng thêm khoản 1 Điều 51 cho bị cáo.

Do có bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có tình tiết mới, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  1. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu theo luật định.
  2. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.

Bởi các lẽ trên;

Căn cứ Điều 355 Bộ Luật tố tụng Hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên xử:

  1. Áp dụng điểm a khoản 4; khoản 5 Điều 278 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm b, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Khoản 3 Điều 5 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 12 năm 2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
  2. Xử phạt: Nguyễn Ngọc M P 08 năm tù về tội: “Tham ô tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Cấm bị cáo Nguyễn Ngọc Mai P đảm nhiệm chức vụ Kế toán trong thời hạn 03 năm, sau khi chấp hành xong hình phạt tù.

  3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu.
  4. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao.
  • - VKSNDCC tại Tp. HCM.
  • - VKSND Tp.HCM.
  • - TAND Tp.HCM.
  • - Công an Tp. HCM.
  • - Cục THADS Tp.HCM.
  • - Những người tham gia tố tụng.
  • - Sở Tư pháp Tр.НСМ.
  • - Lưu VP; HS vụ án, TK: NTV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LÊ HOÀNG TẤN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 460/2024/HS-PT ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (tham ô tài sản)

  • Số bản án: 460/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tham ô tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger