Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠCH THÀNH

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31/7/2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HÓA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hà
  2. Bà Trương Thị Hồng Xuân

-Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thắm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 48/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024 và Quyết định Hoãn phiên tòa số: 33/2024/QÐST-HNGĐ ngày 18/7/2024, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Lù Thị H; Sinh năm: 2004

Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hoá.

Địa chỉ hiện nay: Thôn L, xã D, huyện M, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

-Bị đơn: Anh Nguyễn Trung H; Sinh năm: 2002

HKTT và địa chỉ hiện nay: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (Vắng mặt lần thứ 2 không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 17/4/2024 và bản tự khai cũng như quá trình giải quyết vụ án, chị Lù Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Trung H tự nguyện chung sống như vợ chồng từ năm 2022, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 12/5/2023 tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện M, tỉnh Lào Cai. Sau khi chung sống, hòa thuận hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai bên không có tiếng nói chung nên thường xuyên sảy ra cãi vã. Tình trạng hôn nhân như vậy kéo dài khiến chị mệt mỏi và chán nản. Chị và anh H sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Duy A, sinh ngày 31/7/2022. Từ khi vợ chồng sống ly thân thì cháu vẫn ở với bố. Do đó, chị đề nghị được giao con cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn, chị cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H mỗi tháng số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) đến khi cháu A đủ 18 tuổi.

Về tài sản: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã Tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và triệu tập anh Nguyễn Trung H để nộp bản tự khai nhưng anh H không có mặt nên không có lời khai của anh H trong hồ sơ vụ án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của các đương sự trong vụ án. Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng như các thành viên của Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là HĐXX) và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (Sau đây viết tắt là BLTTDS). Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình còn bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 107, 110, 116 và 117 Luật hôn nhân gia đình; Về hôn nhân: Xử cho chị Lù Thị H được ly hôn anh Nguyễn Trung H; Về con chung: Giao cháu Nguyễn Duy A, sinh ngày 31/7/2022 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H mỗi tháng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), thời gian cấp dưỡng từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

  1. [1]. Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình có con chưa thành niên và trong quá trình giải quyết vụ án, do các bên đương sự chưa thống nhất được các vấn đề tranh chấp trong vụ án nên Tòa án đã tiến hành xác minh để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo khoản 3 Điều 208 BLTTDS và đã thông báo kết quả thu thập tài liệu chứng cứ cho các bên đương sự cũng như VKS được biết.
  2. [2]. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự, nhưng anh H không có mặt nên tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho anh H theo khoản 3 Điều 210 BLTTDS.
  3. [3]. Anh H đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải hai lần nhưng anh H đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 BLTTDS.
  4. [4]. Tại phiên tòa, chị H vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 BLTTDS, Tòa án xét xử vắng mặt chị H và anh H.
  5. [5]. Về hôn nhân: Chị Lù Thị H và anh Nguyễn Trung H tự nguyện chung sống như vợ chồng từ năm 2022, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 12/5/2023 tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện M, tỉnh Lào Cai và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Sau khi kết hôn, vợ chồng hoà thuận được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai bên không có tiếng nói chung nên thường xuyên sảy ra cãi vã. Chị H và anh H đã sống ly thân từ đầu năm 2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai nữa. Việc này đã được các cấp chính quyền xã T xác nhận và cũng phù hợp với nội dung mà Tòa án tiến hành xác minh tại địa phương. HĐXX nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, hạnh phúc hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị Lù Thị H được ly hôn anh Nguyễn Trung H.
  6. [6]. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Duy A, sinh ngày 31/7/2022. Xét thấy, từ khi chị H và anh H sống ly thân thì cháu luôn ở với bố. Xét nguyện vọng của chị H đề nghị giao cháu Duy A cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng và chị có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H mỗi tháng 1.000.000 đồng cho tới khi cháu Duy A đủ 18 tuổi. Đây là nguyện vọng chính đáng nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho con. Do đó chấp nhận yêu cầu của chị H giao cháu Duy A cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Hiếu mỗi tháng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 07/2024 cho tới khi cháu Duy A đủ 18 tuổi.
  7. [7]. Về tài sản: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
  8. [8]. Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 107, 110, 116 và 117 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 BLTTDS; Điều 6; Khoản 1 Điều 24; Điểm a, khoản 5, Điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Lù Thị H được ly hôn anh Nguyễn Trung H.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Duy A, sinh ngày 31/7/2022 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Lù Thị H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H mỗi tháng 1.000.000 đ (Một triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 07/2024 cho tới khi cháu Duy A đủ 18 tuổi hoặc đến khi các đương sự có yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng khác.
  3. Chị H có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

  4. Về án phí: Chị Lù Thị H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn và 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con, nhưng được trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành, theo biên lai số 0002298 ngày 25/4/2024. Chị H còn phải nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị Lù Thị H và anh Nguyễn Trung H. Chị H và anh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Thạch Thành;
  • - UBND xã D, huyện M, tỉnh Lào Cai;
  • - THADS huyện Thạch Thành
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ Tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 46/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử cho chị H ly hôn anh H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger