|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH HÀ GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2023/HSST; Ngày 30 - 11 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Giàng Seo Nhì; Bà Lục Thị Nhung
Thư ký phiên tòa: Ông Linh Đức Minh– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Xuyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Thắng– Kiểm sát viên.
Ngày 30/11/2023, tại Phòng xét xử trực tuyến - Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Hà Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 44/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2023/QĐXXST - HS ngày 15/11/2023, đối với bị cáo:
NÔNG VĂN LÂN, Sinh ngày 14 tháng 02 năm 2000; tại: huyện V, tỉnh Hà Giang. Nơi cư trú: Thôn P, xã B, huyện V, tỉnh Hà Giang; Nơi ở hiện tại: tổ A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Giang; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Nông Văn T, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1982 (đều đã chết); Vợ: Lã Thị Lâm O, sinh năm 2003; có 01 con, sinh năm 2021; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 18/5/2020, Công an xã huyện Đ, thành phố Hà Nội ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Mua số lô, số đề” bằng hình thức phạt tiền 350.000 (Ba trăm năm mươi nghìn đồng). Đã chấp hành xong. Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 19/6/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Hà Giang. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị L1, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Có mặt
- Bị hại: Anh Triệu Tôn V, sinh năm: 2005; Nơi cư trú: Thôn P, xã B, huyện V, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt có lý do.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Hoàng Thị N, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Thôn P, xã B, huyện V, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt có lý do.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Chu Văn H, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Hà Giang. Vắng mặt có lý do
- Người làm chứng:
1/ Anh Hoàng Văn T1, sinh năm 2006. Vắng mặt có lý do.
1
2/ Chị Lã Thị Lâm O, sinh năm 2003. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp của người làm chứng Hoàng Văn T1: Bà Hoàng Thị T2. Vắng mặt có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 19/06/2023, bị cáo Nông Văn L2 (là người nghiện ma túy), do nhu cầu cần sử dụng chất ma túy (Heroine) nên L2 đi bộ một mình ra đường Q và xin đi nhờ xe mô tô của người đi đường xuống khu vực cầu cứng thuộc tổ D, thị trấn Nông trường V, huyện V, tỉnh Hà Giang để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, L2 đứng quan sát một lúc thì gặp một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) đeo khẩu trang và đội mũ. Qua biểu hiện của người này và hỏi chuyện vài câu, L2 nghĩ người đàn ông này cũng là người nghiện ma túy nên L2 hỏi người đó “có ma túy không”, người đàn ông nói là “có” thì L2 đưa cho người đó 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) rồi người đó lấy trong người ra đưa vào tay L2 01 gói giấy bên trong chứa ma túy (Heroine). Sau khi mua ma túy xong, L2 đi bộ đến bãi rác thuộc thôn Đ, thị trấn V, huyện V để sử dụng ma túy một mình, trên đường Đ tìm chỗ không có người qua lại để chia gói ma túy vừa mua thành 02 (hai) gói nhỏ: 01 gói có kích thước 2cm x1,2cm và 01gói có kích thước 1,5cmx1,3cm rồi cất một gói trong túi quần bên trái, một gói cầm trên tay trái. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi L2 đang đi bộ trên đường thì bị lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Kết luận giám định số 201/KL-KTHS ngày 25/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh H xác định: 02 mẫu gửi giám định ký hiệu A1, A2 đều là ma túy, loại Heroin, có tổng khối lượng là 0,236g.
Vụ thứ hai: Quá trình điều tra xác định ngoài hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, Bị cáo Nông Văn L2 còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 09/6/2023 tại tổ C, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Giang. Cụ thể:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 09/6/2023, Nông Văn L2 đang chơi điện tử ở quán “BOSSGAME” thuộc tổ A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Hà Giang thì có hỏi mượn xe mô tô (không nhớ biển kiểm soát) của một người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) cùng là khách chơi điện tử, rồi L2 điều khiển xe mô tô đi đón vợ là Lã Thị Lâm O đưa đến chỗ làm thuê xong, L2 đến phòng trọ của Triệu Tôn V, sinh năm 2005, mục đích xin V ngủ nhờ buổi trưa, khi vào L2 đến phòng trọ thì Triệu Tôn V và Hoàng Văn T1, sinh năm 2005 đang nằm ngủ trên giường. Lân thấy trên giường có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XSMAX, vỏ màu đen đang cắm sạc pin, L2 nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại để bán lấy tiền tiêu xài, nên đã rút dây sạc ra khỏi điện thoại rồi giấu điện thoại vào túi quần bên trái và đi ra khỏi phòng trọ. L2 lấy xe mô tô đi đến quán mua bán, sửa chữa điện thoại Huyên Hoan của anh Chu Văn H, sinh năm 1992; Địa chỉ: thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Hà Giang) để bán điện thoại được số tiền 800.000đ (tám trăm nghìn đồng). Sau khi bán được điện thoại, L2 lấy lại sim và vứt ở lề đường trước cửa quán điện thoại rồi quay về quán điện tử để trả xe mô tô và tiếp tục chơi điện tử.
Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự
2
huyện V ngày 21/7/2023 xác định: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE XSMAX, màu đen, số máy MT5K2LL/A, số seri: F2LXMAY6KPHC, số imei: 357265096551625, imei2: 357265096586027, meid: 35726509655162, năm SX 2018 (đã qua sử dụng), thời điểm định giá tháng 7/2023 có giá trị: 5.000.000 (Năm triệu đồng).
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại cùng nhất trí với Kết luận định giá tài sản.
Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên, Cáo trạng số 43/KSĐT ngày 03/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang đã truy tố bị cáo Nông Văn L2 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nông Văn L2, phạm tội: Trộm cắp tài sản và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm b, s khoản 1, Điều 51; khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nông Văn L2 từ 07 đến 10 tháng tù về tội trộm cắp tài sản ; từ 13 đến 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt chung của các tội buộc bị cáo phải thi hành từ 20 đến 25 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (19/6/2023). Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Do bị cáo là người nghiện không có công việc làm ổn định, sống ở nơi có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra đã tạm giữ : 01 điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE XSMAX, màu đen (đã qua sử dụng); 01 sim điện thoại số seri: 8984048000384837965. Điện thoại di động trên là tài sản hợp pháp của Triệu Tôn Vương . Xét thấy không cần thiết phải tạm giữ thêm, Công an huyện V đã trả lại tài sản trên cho chủ sở hữu.
Còn lại những vật chứng gồm:
- 01 phong bì màu trắng, niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Vỏ gói phong bì niêm phong cũ”, mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện V, tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ viết của thành phần niêm phong.
- 01 phong bì thư màu trắng, niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1, A2”, mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H và các chữ ký, chữ viết của thành phần niêm phong. Bên trong phong bì là: mẫu ký hiệu A1 có khối lượng là 0,062g; mẫu ký hiệu A2 có khối lượng 0,126g.
Những vật chứng này được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Vị Xuyên. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về phần dân sự: Quá trình điều tra bị hại và người đại diện cho bị hại Triệu
3
Tôn V, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chu Văn H không yêu cầu bồi thường thiệt hại do vậy Viện kiểm sát không đề nghị HĐXX giải quyết về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo; Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở nơi có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo của xã, đồng thời bị cáo có đơn xin miễn án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Bị cáo Nông Văn L2 trình bày: Nhất trí với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo về các tội Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy bị cáo cũng rất hối hận vì thiếu suy nghĩ nên nhất thời phạm tội. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, bị cáo hứa sẽ tuyệt đối rèn luyện bản thân để cai nghiện ma túy và chấp hành nội quy của trại giam trong thời gian thi hành án.
- Ý kiến của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo về tội danh, trong giai đoạn điều tra bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, hứa quyết tâm cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội đồng thời tài sản do bị cáo trộm cắp không bị hư hỏng và đã trả lại cho bị hại, hiện nay con của bị cáo còn nhỏ, vợ bị cáo công việc làm không ổn định, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử bị cáo 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản ;12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Tổng hợp hình phạt chung của các tội buộc bị cáo phải thi hành là 18 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng Hoàng Văn T1 và người đại diện hợp pháp của người làm chứng Hoàng Văn T1. Căn cứ vào các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử thảo luận và quyết định xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên.
[3].Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nông Văn L2 khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Đơn trình báo mất điện thoại của bị hại Triệu Tôn V, Biên bản xử lý vụ việc; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Biên bản khám nghiệm hiện trường,
4
Sơ đồ hiện trường, Bản ảnh hiện trường, Biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang; Biên bản nhận dạng, Biên bản xét nghiệm chất ma túy; Kết luận định giá tài sản; Kết luận giám định số: 201/KL-KTHS ngày 25/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh H xác định 02 mẫu gửi giám định ký hiệu A1, A2 đều là ma túy loại Heroin có tổng khối lượng là 0,236g. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 09/6/2023, Bị cáo Nông Văn L2 là người trực tiếp lén lút lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động, trị giá 5.000.000đ của bị hại Triệu Tôn V, với mục đích để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân; Ngày 19/06/2023 bị cáo L2 tiếp tục có hành vi tàng trữ trái phép 0,236g chất ma túy, loại heroin bị cơ quan chức năng phát hiện và bắt giữ ngay .
[4]. Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a,....
đ....
[5]. Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a........
c, H1, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam ;
[6]. Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành các tội Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ vào giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt; số lượng ma túy bị cáo đã tàng trữ trái phép là 0,236g loại Heroine. Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang truy tố bị cáo Nông Văn L2 về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[7]. Xét các yếu tố cấu thành của tội phạm: Khi phạm tội Bị cáo là người đã thành niên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nên bị cáo phải nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã cố ý lén lút lấy trộm 01 chiếc điện thoại của bị hại với mục đích bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu tới trật tự an toàn xã hội nơi bị cáo gây án, đồng thời bị cáo là người nghiện ma túy nên ngày 19/6/2023 bị cáo L2 đã tìm mua 0,236g ma túy loại Heroine để tàng trữ sử dụng cho bản thân. Mặc dù bị cáo nhận thức rõ trong tình hình hiện nay ma túy đang là nguyên nhân chính làm gia tăng tội phạm nguy hiểm, bạo lực trong gia đình và xã hội, làm suy thoái nhân cách, phẩm giá của con người, gây sói mòn đạo lý, tàn phá cuộc sống yên vui của những gia đình có người bị nghiện, gây thiệt hại về kinh tế xã hội, nghiêm trọng hơn, ma túy còn là tác nhân chính sinh ra căn bệnh HIV - AIDS đang ngày càng phát triển mạnh, do đó hành vi tàng trữ ma túy dưới bất kỳ hình thức nào đều bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì lợi ích vật chất, muốn có ma túy để sử dụng cho cá nhân bị cáo đã cố ý coi thường pháp luật để tàng trữ trái phép chất ma túy như đã nêu trên.
5
Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý, sử dụng chất ma túy của nhà nước, gây ảnh hưởng lớn đến trật tự an toàn xã hội, do đó cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện, như vậy mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tôn trọng pháp luật, đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và tội phạm ma túy đang diễn ra rất phức tạp và nguy hiểm trong tình hình hiện nay.
[8]. Xét về nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử, thấy: Bị cáo là người nghiện, không có công việc làm ổn định nên bị cáo đã trộm cắp tài sản để lấy tiều tiêu sài và tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, tuy nhiên bị cáo có trình độ học vấn thấp, tuổi đời còn trẻ nhận thức pháp luật hạn chế, khi phạm tội trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, đối với tội trộm cắp tài sản, khi bị phát hiện bị cáo chủ động khai báo với cơ quan điều tra thu hồi lại chiếc điện thoại để trả lại bị hại ngay nên Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo để áp dụng điểm b,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo về phần hình phạt là quá nhẹ không phù hợp với tính chất mức độ của hành vi phạm tội do bị cáo đã thực hiện nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[9]. Do bị cáo bị xét xử nhiều tội cùng một lần trong vụ án nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải thi hành.
[10]. Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm. Xét hoàn cảnh của bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, bị cáo không lợi dụng nghề nghiệp để phạm tội, do đó không cần phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[11]. Trong vụ án còn thể hiện những tình tiết khác: Đối với người bán ma túy cho bị cáo nhưng khi mua bán do người này đội mũ và đeo khẩu trang nên L2 cũng không nhận dạng được đặc điểm gương mặt và không biết tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra đã tách vụ việc để tiếp tục xác minh, khi có đủ chứng cứ sẽ xử lý theo quy định.
[12]. Đối với Chu Văn H, khi mua tài sản là chiếc điện thoại di động không biết đó là tài sản do L2 phạm tội mà có, không có sự tham gia giúp sức tiêu thụ tài sản phạm pháp, vì vậy cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với H là có căn cứ.
[13].Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu về trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[14].Về vật chứng: Quá trình điều tra đã tạm giữ : 01 điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE XSMAX, màu đen (đã qua sử dụng); 01 sim điện thoại số seri: 8984048000384837965 là tài sản hợp pháp của bị hại. Xét thấy không ảnh hưởng đến việc điều tra, xét xử, thi hành án, Công an huyện V đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu là phù hợp với thực tế, đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử không xem xét.
6
[15]. Đối với vật chứng là 01 phong bì màu trắng, niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Vỏ gói phong bì niêm phong cũ”, mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện V, tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ viết của thành phần niêm phong; 01 phong bì thư màu trắng, niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi: Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1, A2, mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H và các chữ ký, chữ viết của thành phần niêm phong. Bên trong phong bì là: mẫu ký hiệu A1 có khối lượng là 0,062g; mẫu ký hiệu A2 có khối lượng 0,126g.
Các vật chứng nêu trên cơ quan điều tra đang tạm giữ và chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Xuyên là ma túy không còn giá trị sử dụng. Hội đồng xét xử Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Tịch thu tiêu hủy .
[16]. Về án phí: Do bị cáo Nông Văn L2 là người dân tộc thiểu số sống ở nơi có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, gia định bị cáo thuộc hộ nghèo có xác nhận của UBND xã B, đồng thời bị cáo có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử có căn cứ xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[17]. Bị cáo, Bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn L2, phạm các tội: Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm b,s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nông Văn L2 09 (Chín) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; 15 (Mười lăm) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo 19/6/2023.
3. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng: 01 (một ) phong bì màu trắng, niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Vỏ gói phong bì niêm phong cũ”, mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện V, tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ viết của thành phần niêm phong.
- 01 (một) phong bì thư màu trắng, niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu A1, A2”, mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh H và các chữ ký, chữ viết của thành phần niêm phong. Bên trong phong bì là: mẫu ký hiệu A1 có khối lượng là 0,062g (không phẩy không trăm sáu mươi hai gam); mẫu ký hiệu A2 có khối lượng 0,126g (không phẩy một trăm hai mươi sáu gam).
Đặc điểm, tình trạng các vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 03 tháng 10 năm 2023 giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
7
4. Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 14 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội. Bị cáo Nông Văn L2 không phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán, Chủ toạ phiên toà Vũ Thu Hiền |
8
Bản án số 46/2023/HSST ngày 30/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 46/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn Lân, phạm các tội: Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy
