|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2024/HS-ST
Ngày: 30-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Vinh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Phương Thảo và ông Vũ Xuân Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng Hải – Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Hương Lan – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa 53/2024/HSST-QĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa 55/2024/HSST-QĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Lương T, sinh ngày 29-3-1986 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi thường trú: A đường số A, khu phố C, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh (nay là A đường số A, khu phố H, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh); chỗ ở hiện nay: Số E, đường số A, khu phố D, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn P (sinh năm 1946) và bà Lương Thị N (sinh năm 1952); vợ là Ông Thị Á (sinh năm 1995) và có 02 con (lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 20-12-2023 đến ngày 05-02-2024, đang tại ngoại - Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Lương T: Bà Nguyễn Thị H – Luật sư của Chi nhánh Văn phòng luật sư Hằng N1, thuộc Đoàn Luật sự thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: KP A, khu phố N, thị trấn G, tỉnh Tây Ninh – Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn L; nơi ở hiện tại: Ấp P, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Trần Quốc B; địa chỉ: Ấp H, T, huyện C, tỉnh An Giang – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Võ Thành L1; địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Lê Minh T1; địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Lê Bá D; địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Lê Trường S; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Thạch K; địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Thạch P1; địa chỉ: xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh – Vắng mặt.
- Bà Võ Mộng T2; địa chỉ: Ấp X, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Vũ Hồng L2; địa chỉ: Ấp E, xã L, huyện B, tỉnh Long An – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Huỳnh Lê Thảo N2; địa chỉ: Ấp E, xã L, huyện B, tỉnh Long An – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Nguyễn Hữu T3; địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Vũ Mạnh H1; địa chỉ: Số B, đường L, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Nguyễn Đức T4; địa chỉ: Tổ B, phường C, thị xã A, tỉnh Gia Lai – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Phạm Thành N3, địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Dương Thành H2, địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Trần Nguyên M, địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Lê Tô V; địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Bùi Thị M1; địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Hồ Đức T5; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Lê Thị T6; địa chỉ: Thôn G, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Ngô Thị C; địa chỉ: Thôn G, xã H, huyện C, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Vũ Thanh T7; địa chỉ: Xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Huỳnh Thị H3; địa chỉ: Số A, đường L, tổ G, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai – Vắng mặt.
- Bà Trần Thị P2; địa chỉ: Xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai – Vắng mặt.
- Bà Bùi Thị Kim S1, địa chỉ: xã I, thị xã A, tỉnh Gia Lai – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Lê Tấn H4; địa chỉ: Xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Lê Văn D1; địa chỉ: Tổ A, thị trấn Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị M2; địa chỉ: Thôn S, xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Đặng Hiếu V1; địa chỉ: 5 P, phường T – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Trần Thị Mai H5; địa chỉ: E V, phường K, thành phố B – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Lê Cảnh H6, địa chỉ: Thôn E, xã T, huyện C, tỉnh Đăk Nông – Vắng mặt.
- Ông Lê Văn V2, địa chỉ: A đường P, phường K, TP B – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Văn Đình Sơn Q, địa chỉ: Thôn C, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Tống Thị T8, địa chỉ: Tổ C, phường H, TP P, tỉnh Gia Lai – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Trần Văn Đ, địa chỉ: Thôn F, xã E, huyện M'Đrắk, tỉnh Đăk Lăk – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Văn Đình Sơn C1, địa chỉ: D A, phường I, quận E, thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.
- Bà Ông Thị Á1, địa chỉ: Số E, đường số A, khu phố D, phường L, TP ., TP . – Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 02-7-2013, Phạm Lương T thành lập Công ty cổ phần Q1 (gọi tắt là Công ty Q1), địa chỉ: số A, đường số A, khu phố C, phường L, quận T, TP . (nay là số E, đường số A, khu phố D, P. L, TP ., TP .). Công ty Q1 gồm có 03 cổ đông, do Phạm Lương T làm Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giám đốc, đại diện theo pháp luật. Mọi hoạt động sản xuất, buôn bán của Công ty Q1 do T trực tiếp điều hành. Đến ngày 11-5-2016, T thành lập Chi nhánh Công ty Q1, địa chỉ: Lô A, đường số A, Cụm C, xã L, huyện B, tỉnh Long An. Công ty Q1, địa điểm sản xuất Lô A, đường số A, cụm C, xã L, huyện B, tỉnh Long An được Cục H7 cấp giấy phép sản xuất phân bón vô cơ vào ngày 15-8-2016; Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh L cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán phân bón vào ngày 07-9-2018; Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất phân bón vào ngày 16-12-2019; Cục B1 cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất phân bón ngày 13-4-2022. Đối với phân bón trung lượng Dolomax được Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh L cấp thông báo hợp quy số 950 ngày 02-3-2021 thể hiện, Công ty Q1 đăng ký hàm lượng Magiê (M5) 9%, C2 (C) là 17,87%. Đối với phân bón DAP SGX 18-46 được Sở N4 cấp Thông báo Hợp quy số 712, ngày 28-4-2023 thể hiện Công ty Q1 đăng ký hàm lượng Đạm tổng số (N) là 18%, L3 hữu hiệu (P2O5hh) là 46%.
Quá trình sản xuất phân bón của Chi nhánh Công ty Q1, tại huyện B, tỉnh Long An, T thuê ông Nguyễn Văn L (SN: 1976), trú tại ấp P, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long phụ trách, quản lý hoạt động sản xuất, thuê chị Huỳnh Lê Thảo N2 (SN: 1993), trú tại ấp E, xã L, huyện B, tỉnh Long An làm Kế toán và một số công nhân khác. Do không thường xuyên ở tại Chi nhánh Công ty Q1 nên T giao cho L tổ chức, quản lý việc sản xuất phân bón trên cơ sở chỉ đạo và hướng dẫn của T. Nguyên liệu mà T dùng để sản xuất phân bón trung lượng Dolomax gồm đá D2 và M3; tiến hành phối trộn đá Dolomit với nguyên liệu M3. Đối với phân bón DAP SGX 18-46 thì T mua nguyên liệu phân bón DAP 18-46 của các Công ty H8 và Công ty T11, địa chỉ: số A, ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, sau đó tiến hành sang qua bao phân bón DAP SGX 18-46 mang thương hiệu của Công ty Q1.
Thời điểm năm 2022-2023, do giá nguyên liệu Magiê cao nên T không nhập, sử dụng nguyên liệu Magiê, T chỉ mua nguyên liệu đá Dolomit của hộ kinh doanh Tề Thị L4, địa chỉ: Ấp T, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang và hộ kinh doanh Lê Thị Thanh T9, địa chỉ: Ấp L, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Sau đó, T chỉ đạo Nguyễn Văn L hướng dẫn các công nhân sử dụng các bao nguyên liệu đá Dolomit mua của hai hộ kinh doanh trên sang qua bao bì phân bón Trung lượng Dolomax để lấy thương hiệu của Công ty Q1, thể hiện Magiê (M) 9%, C2 (C) 17,87%. Đối với việc sản xuất phân bón DAP SGX 18-46, T chỉ sử dụng nguyên liệu phân hữu cơ có hàm lượng Đạm tổng số (N) là 12%, L3 hữu hiệu (P2O5hh) là 3% do T nhập của một số Công ty, cá nhân (T không nhớ) có đặc điểm hạt màu đen giống như phân DAP18-46. Sau đó, T chỉ đạo ông L hướng dẫn các công nhân sử dụng các bao nguyên liệu hữu cơ sang qua bao phân bón DAP SGX 18-46 thành phẩm của Công ty Q1 (sang bằng tay). Sau đó, T xuất bán ra thị trường, không tiến hành lấy mẫu để kiểm nghiệm chất lượng theo quy định.
Với cách thức như trên, từ năm 2022 đến năm 2023, T đã chỉ đạo sản xuất và bán ra thị trường trên địa bản các tỉnh Đắk Nông, Đắk L5 và Gia L6 với số lượng 101,5 tấn phân bón trung lượng Dolomax giả và 03 tấn phân bón DAP SGX 18-46 giả, cụ thể như sau:
- Tháng 5 năm 2022, bán cho đại lý V3, địa chỉ: thôn Đ, xã N, huyện K, số lượng 20 tấn phân bón trung lượng D3 (13 tấn dạng bột và 07 tấn dạng hạt), với số tiền 45.450.000 đồng, đại lý V3 đã trả cho T số tiền 36.800.000 đồng. Đối với số lượng phân bón này, đại lý Vũ M4 đã sử dụng và bán ra thị trường 16,45 tấn, còn lại 3,55 tấn;
- Tháng 4 năm 2023, bán cho đại lý N5, địa chỉ: thôn Đ, xã N, huyện K 11 tấn phân bón trung lượng Dolomax (dạng hạt), với số tiền 32.500.000 đồng; T chưa nhận được số tiền này. Số lượng phân bón này, đại lý N5 đã sử dụng và bán ra thị trường 5,2 tấn, còn lại 5,8 tấn;
- Tháng 5 năm 2023, bán cho đại lý T12 số lượng 10 tấn phân bón trung lượng Dolomax (dạng bột), với số tiền 29.000.000 đồng. Số lượng phân bón này đại lý T12 đã sử dụng và bán ra thị trường 4,25 tấn, còn lại 5,75 tấn. Bán cho Lê Văn V2 (SN: 1985), trú tại A đường P, P. K, TP ., tỉnh Đắk Lắk 01 tấn phân bón trung lượng Dolomax (dạng bột), với số tiền 2.600.000 đồng. Bán cho đại lý K1, địa chỉ: thôn G, xã D, huyện K số lượng 11 tấn phân bón trung lượng Dolomax (03 tấn dạng hạt và 08 tấn dạng bột), với số tiền 30.900.000 đồng. Số lượng phân này, đại lý K1 đã sử dụng 0,5 tấn, còn lại 10,5 tấn. Các cá nhân, đại lý này chưa thanh toán tiền cho T.
- Tháng 6 năm 2023, thông qua nhân viên thị trường, đại lý H9, địa chỉ: thôn G, xã H, huyện C, tỉnh Đắt Lắk đặt mua của T 07 tấn phân bón trung lượng Dolomax (dạng hạt); đại lý H10, địa chỉ: xã B, huyện L, tỉnh Đắk Lắk, đặt mua số lượng 7,5 tấn phân bón trung lượng Dolomax (dạng hạt); đại lý T7, địa chỉ: xã L, huyện I, tỉnh Gia Lai đặt mua số lượng 05 tấn phân bón trung lượng Dolomax (dạng hạt); đại lý T13, địa chỉ: số A, đường L, tổ G, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Gia Lai đặt mua số lượng 15 tấn phân bón trung lượng Dolomax (dạng hạt); đại lý T14, địa chỉ: xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, đặt mua số lượng 14 tấn phân bón trung lượng Dolomax (dạng hạt); đại lý M6, địa chỉ: xã L, thị xã A, tỉnh Gia Lai đặt mua của Phạm Lương T 01 tấn phân DAP SGX 18-46, đại lý H9, địa chỉ: xã I, huyện L, tỉnh Gia Lai đặt mua 02 tấn phân DAP SGX 18-46.
Ngày 02-6-2023; ngày 03-6-2023 và ngày 14-6-2023, nhân viên thị trường đã thuê xe ô tô BKS 81H-013.67 do ông Nguyễn Hữu T3 (SN: 1980), trú tại thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông chở 34 tấn phân bón trung lượng D4 (dạng hạt); thuê xe ô tô BKS 47H-025.99 do ông Vũ Mạnh H1 (SN: 1985), trú tại C N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk điều khiển chở 14,5 tấn phân bón trung lượng D4 (dạng hạt); thuê xe ô tô BKS 47C-185.47 do ông Nguyễn Đức T4 (SN: 2000), trú tại tổ B, phường C, thị xã A, tỉnh Gia Lai chở 03 tấn phân bón DAP SGX 18-46 để giao phân cho một số đại lý trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, Đắk Lắk và Gia Lai. Khi 03 xe ô tô trên đi đến thôn T, xã T, huyện Đ; xã Q và xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thì Phòng C3 Công an tỉnh Đ kiểm tra và tạm giữ toàn bộ số lượng phân bón nêu trên.
Tại Thông báo kết quả giám định số 00099 ngày 20-6-2023 của Trung tâm K2, kết luận: Hàm lượng Magie trong mẫu phân bón Trung lượng Dolomax gửi giám định lần lượt là 0,94%; 0,55%; 0,87% (tương đương 10,4%; 6,1%; 9,7% so với hàm lượng đăng ký).
Tại Thông báo kết quả giám định số 00102/N2.23/TĐ ngày 26-6-2023 của Trung tâm K2, kết luận: Hàm lượng Magie trong mẫu phân bón Trung lượng Dolomax gửi giám định lần lượt là 1,46%; 0,14%; 1,46%; 0,70%; 1,37%; 0,22%; 1,51% (tương đương 16,2%; 1,6%; 16,2%; 7,8%; 15,2%; 2,4%; 16,8% so với hàm lượng đăng ký). Tại Thông báo kết quả giám định số 00109/N2.23/TĐ ngày 28-6-2023 của Trung tâm K2, kết luận: Hàm lượng đạm tổng số (Nts) và L3 hữu hiệu (P2O5hh) gửi giám định là 8,66% và 0,77% (tương đương 48,1% và 1,67% so với hàm lượng đăng ký).
Khoản 8 Điều 2 Nghị định số 84 ngày 14-11-2019 của Chính phủ quy định về quản lý phân bón quy định: “Phân bón giả về chất lượng là phân bón có một hoặc nhiều chỉ tiêu chất lượng chính chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với mức đăng ký trong Quyết định công nhận phân bón lưu hành tại Việt Nam (trừ chỉ tiêu chất lượng chính là vi sinh vật)”.
Điểm b, khoản 7, Điều 3 Nghị định số 98/2020 ngày 26-8-2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định: “Hàng hoá gồm: Hàng hoá có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản hoặc định lượng chất chính tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hoá chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hoá...”.
Tại Kết luận định giá tài sản số 205 ngày 05-12-2023 của Hội đồng định giá thường xuyên cấp tỉnh các tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Đắk Nông, kết luận: phân bón Trung lượng Dolomax (dạng bột, hạt) năm 2022 có giá 3.333đ/kg; dạng hạt năm 2023 có giá 3.070đ/kg; dạng bột năm 2023 có giá 2.850đ/kg. Phân bón DAP SGX 18-46 năm 2023 có giá 21.200đ/kg.
Như vậy, Phạm Lương T đã sản xuất và bán ra thị trường tổng 104,5 tấn phân bón giả gồm: 101,5 tấn phân bón Dolomax (dạng hạt và bột), trị giá tương đương hàng thật là 312.685.000đ và 03 tấn phân bón DAP SGX 18-46, trị giá tương đương với hàng thật là là 63.600.000đ. Tổng trị giá hàng giả tương đương hàng thật là 376.285.000đ.
Cáo trạng số 27/CT-VKS-P1 ngày 08-5-2024 của Viện kiểm sát nhân tỉnh Đắk Nông truy tố Phạm Lương T về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là phân bón” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 195 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố đúng người, đúng tội, không oan.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
Về tội danh: Tuyên bố Phạm Lương T phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là phân bón”, áp dụng điểm g khoản 2 Điều 195; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, 54, 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Lương T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm.
Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Phạm Lương T số tiền từ 50.000.000₫ đến 60.000.000₫.
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét do những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Chấp nhận ngày 12-4-2024, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ ban hành Quyết định số 368/QĐ-CSKT trả lại cho Phạm Lương T: 01 máy tính lap top, nhãn hiệu ASUS, có vỏ màu trắng, model: 9461NGW; đầu thu camera nhãn hiệu HKIVISION, model: DS-7208HGHI-F1/N, 01 USB màu bạc (do không liên quan đến vụ án); Chấp nhận ngày 12-4-2024, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ ban hành Quyết định số 369/QĐ-CSKT trả lại cho đại lý T15: 01 Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán phân bón số 19 ngày 08-4-2021 do Chi cục phát triển nông nghiệp – Sở NN & PTNT tỉnh Đ cấp; Quyết định số 370/QĐ-CSKT trả lại cho đại lý Nắng Mừng 01 Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán phân bón số 89 ngày 07-10-2019 do Chi cục phát triển nông nghiệp – Sở NN & PTNT tỉnh Đ cấp; Quyết định số 371/QĐ-CSKT trả lại cho đại lý K1: 01 Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán phân bón số 112 ngày 23-12-2019 do Chi cục phát triển nông nghiệp – Sở NN & PTNT tỉnh Đ cấp; Quyết định số 372/QĐ-CSKT trả lại cho đại lý V3: 01 Giấy chứng nhận đủ điều kiện buôn bán phân bón số 23 ngày 20-5-2022 do Chi cục phát triển nông nghiệp – Sở NN & PTNT tỉnh Đ cấp.
- Tịch thu tiêu hủy :
- + 75,1 tấn phân bón Trung lượng Dolomax và 03 tấn phân bón DAP SGX 18-46 không đảm bảo hàm lượng đăng ký (phân giả);
- + 05 vỏ bao phân (01 vỏ bên ngoài có dòng chữ “Greenland Lân humic vi lượng đạm cá- rong biển”; 01 vỏ bên ngoài có dòng chữ “Nevada Lân humic vi lượng đạm cá- rong biển”; 01 vỏ bên ngoài có dòng chữ “DAP qualityof Korea 18-46"; 01 vỏ bên ngoài có dòng chữ “D.A.P 18-46 Vinacam”; 01 vỏ bên ngoài có dòng chữ “Organic matter: 20%").
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- + 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy số IMEI 1: 355036112322941, IMEI 2: 35503711232294901;
- + 01 điện thoại di động NOKIA màu đen, số IMEI 1: 358916072271880, IMEI 2: 358910672271898;
- + 01 điện thoại di động NOKIA màu đen, số IMEI 1: 354877089670387, IMEI 2: 354877089670395;
- + 01 USB vỏ nhựa, màu đen có dãy số D33193;
- + 01 CPU, có vỏ bên ngoài màu đen, có dòng chữ SD.
- Buộc Phạm Lương T phải nộp số tiền thu lợi bất chính có được từ việc sản xuất, buôn bán phân giả là 15.800.000đ, khấu trừ đi số tiền đã nộp.
Người bào chữa cho bị cáo đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, mức xử phạt 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách 05 (năm) năm là nặng. Bị cáo đã tự nguyện nộp 100.000.000đ để khắc phục hậu quả trong giai đoạn điều tra, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, hành vi phạm tội của bị cáo chưa để lại hậu quả gì; gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, nuôi mẹ già và có con mới sinh. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, 54, 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo án treo và thời gian thử thách ít hơn đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đề nghị.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, do đó Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Công ty cổ phần Q1 do Phạm Lương T thành lập và điều hành, đăng ký hàm lượng phân bón trung lượng Dolomax được Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh L cấp thông báo hợp quy số 950 ngày 02-3-2021: Magiê (M) là 9%, C2 (C) là 17,87%. Phân bón DAP SGX 18-46 được Sở N4 cấp Thông báo Hợp quy số 712, ngày 28-4-2023 hàm lượng Đạm tổng số (N) là 18%, L3 hữu hiệu (P2O5hh) là 46%.
Các ngày 02-6-2023, ngày 03-6-2023 và ngày 14-6-2023, T cho xe ô tô chở phân bón trung lượng Dolomax và phân bón DAP SGX 18-46 của Công ty để giao bán cho một số đại lý ở tỉnh Đắk Nông, tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Gia Lai; khi đi đến địa phận xã Đ, xã Q, huyện Đ và xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thì bị Công an tỉnh Đ phát hiện và tạm giữ 48,5 tấn phân bón trung lượng Dolomax và 03 tấn phân bón DAP SGX 18- 46; 26,6 tấn phân bón trung lượng Dolomax của một số đại lý trên địa bàn tỉnh Đắk Nông và 26,4 tấn các đại lý đã bán cho người khác sử dụng. Tổng số 75,1 tấn phân bón trung lượng Dolomax theo kết quả giám định có hàm lượng Magiê chỉ từ 0,14% đến 1,51%; 03 tấn phân bón DAP SGX 18-46 có hàm lượng Đạm tổng số (NTS) chỉ đạt 8,66% và 0,77% so với các Thông báo hợp quy nêu trên.
Căn cứ Nghị định 84 ngày 14-11-2019 của Chính phủ quy định, phân bón giả về chất lượng là phân bón có một hoặc nhiều chỉ tiêu chất lượng chính chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với mức đăng ký trong Quyết định công nhận phân bón lưu hành tại Việt Nam. Như vậy, tổng số lượng phân bón nêu trên (101,5 tấn phân bón trung lượng Dolomax và 03 tấn phân bón DAP SGX 18-46) của Phạm Lương T là phân giả. Theo kết quả định giá của Hội đồng định giá thường xuyên cấp tỉnh các tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Đắk Nông kết luận, trị giá hàng giả tương đương hàng thật là 376.285.000₫.
Do đó, hành vi của bị cáo Phạm Lương T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là phân bón”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 195 của Bộ luật Hình sự.
Điều 195. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là phân bón
1. Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
...
g) Hàng giả trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng tính theo giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn; ..."
[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước trong lĩnh vực sản xuất, buôn bán phân bón, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, cũng như ảnh hưởng đến công tác đấu tranh, phòng chống sản xuất, buôn bán hàng giả là phân bón.
[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Phạm Lương T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực phát hiện và tố giác tội phạm được Công an quận C, thành phố Cần Thơ xác nhận, sau đó vụ án đã được khởi tố; đã tự nguyện nộp số tiền 100.000.000đ để khắc phục hậu quả; gia đình bị cáo là người có công với cách mạng, bị cáo là cháu của liệt sĩ; trong quá trình kinh doanh, Phạm Lương T đã có nhiều thành tích đóng góp cho địa phương, được chính quyền địa phương tặng nhiều Giấy khen. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét thấy đây là vụ án về kinh tế, số tiền thu lợi bất chính đã được khắc phục hoàn toàn và bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, do đó quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và cho hưởng án treo được áp dụng theo quy định tại Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự không ảnh hưởng đến việc giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.
[5]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ nên cần chấp nhận. Xét luận cứ bào chữa của người bào chữa cho bị cáo có căn cứ nên cần chấp nhận một phần.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập.
[7]. Về xử lý vật chứng: Xét đề nghị của Viện kiểm sát có căn cứ nên cần xử lý như quan điểm của Viện kiểm sát.
[8]. Đối với Nguyễn Văn L được Phạm Lương T giao quản lý hoạt động, hướng dẫn công nhân thực hiện sản xuất phân bón tại Chi nhánh Công ty Q1. L thực hiện trên cơ sở chỉ đạo và hướng dẫn của Phạm Lương T, L không biết được công thức, hàm lượng đăng ký đối với các loại phân bón và cũng không biết được cách thức sản xuất phân bón trên sẽ tạo ra phân bón giả. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ không xem xét xử lý hình sự đối với Nguyễn Văn L là phù hợp.
Đối với một số công nhân (Trần Quốc B, Võ Thành L1, Lê Minh T1, Lê Bá D, Lê Trường S, Thạch K, Thạch P1 và Võ Mộng T2) là những người trực tiếp thực hiện quy trình sản xuất phân trên cơ sở hướng dẫn của Nguyễn Văn L, các công nhân này có trình độ học vấn thấp, làm thuê để sống. Bản thân không biết việc sản xuất phân bón theo hướng dẫn của L sẽ tạo ra phân bón giả. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ không xem xét xử lý hình sự đối với một số công nhân nêu trên là phù hợp.
Đối với bà Ông Thị Á1 (vợ bị can Phạm Lương T10) là cổ đông Công ty Q1, tuy nhiên việc chỉ đạo, điều hành mọi hoạt động của Công ty do Phạm Lương T10 thực hiện. Việc T10 sản xuất, buôn bán phân giả bà Á1 không biết. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét xử lý hình sự đối với bà Ông Thị Á1 là phù hợp.
Đối với bà Huỳnh Lê Thảo N2 (Kế toán Công ty Q1) và ông Vũ Hồng L2 (Thủ quỹ Công ty Q1) có nhiệm vụ theo dõi chứng từ, hoá đơn nguyên liệu nhập kho, xuất kho, trả lương công nhân...; bà N2 và ông L2 hoàn toàn không biết việc Phạm Lương T10 có hành vi sản xuất, buôn bán phân giả. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ không xem xét xử lý hình sự nên không đề cập.
Đối với các đại lý mua phân bón (đại lý V, đại lý N, đại lý K1, đại lý T, đại lý H9, đại lý H10, đại lý T7, đại lý M, đại lý T14, đại lý T, ông Lê Văn V2) và tài xế vận chuyển phân bón cho bị can Phạm Lương T10 (ông Nguyễn Hữu T3, ông Vũ Mạnh H1, ông Nguyễn Đức T4, ông Phạm Thành N3, ông Dương Thành H2, ông Trần Nguyên M). Quá trình tham gia mua bán, vận chuyển số lượng phân bón giả nêu trên những đại lý, cá nhân này cung cấp đầy đủ hoá đơn, chứng từ, thủ tục pháp lý (quyết định lưu hành, công bố hợp quy, giấy phép sản xuất...), không biết việc T10 bán số lượng phân bón này là phân giả. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ không có căn cứ để xử lý về hình sự là phù hợp.
Đối với các nhân viên thị trường là người giới thiệu phân bón của Phạm Lương T10 để bán cho một số đại lý, cá nhân không biết việc sản xuất, buôn bán phân cho các đại lý là phân giả. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ không xem xét xử lý là phù hợp.
[9]. Về án phí: Bị cáo Phạm Lương T10 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố Phạm Lương T10 phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là phân bón”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 195, điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Lương T10 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30-8-2024).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Phạm Lương T10 số tiền 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng), khấu trừ đi số tiền 100.000.000₫ đã nộp.
(Theo giấy nộp tiền vào tài khoản của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông ngày 17-5-2024 tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Đ)
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Chấp nhận các Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 368, 369, 370, 371, 372/QĐ-CSKT ngày 12-4-2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ.
- Tịch thu tiêu hủy :
- + 75,1 tấn phân bón Trung lượng Dolomax và 03 tấn phân bón DAP SGX 18-46 không đảm bảo hàm lượng đăng ký (phân giả);
- + 05 vỏ bao phân.
(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Đ với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Nông ngày 10-5-2024)
+ 05 vỏ bao phân.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- + 01 điện thoại di động hiệu S2;
- + 02 điện thoại di động NOKIA;
- + 01 USB vỏ nhựa, màu đen có dãy số D33193;
- + 01 CPU, có vỏ bên ngoài màu đen, có dòng chữ SD.
- Buộc Phạm Lương T10 phải nộp số tiền thu lợi bất chính có được từ việc sản xuất, buôn bán phân giả là 15.800.000đ (mười lăm triệu tám trăm nghìn đồng).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Lương T10 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
- - TAND cấp cao tại TP.HCM;
- - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
- - VKSND tỉnh Đắk Nông;
- - CQ CSĐT CA tỉnh Đắk Nông;
- - CQTHAHS Công an tỉnh Đắk Nông;
- - Phòng HSNVCS CA tỉnh Đắk Nông;
- - Cục THADS tỉnh Đắk Nông;
- - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
- - Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Nông;
- - Bị cáo;
- - Người tham gia tố tụng;
- - Lưu: Tòa HS; Tổ HCTP; Hồ sơ vụ án.
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Văn Vinh |
Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG về sản xuất, buôn bán hàng giả là phân bón
- Số bản án: 46/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sản xuất, buôn bán hàng giả là phân bón
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Lương T bị xét xử về tội "Sản xuất, buôn bán hàng giả là phân bón" theo điểm g khoản 2 Điều 195 của BLHS
