Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN T

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30/7/2024
V/v “Tranh chấp Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:- Ông Từ Tứ Hải
- Bà Nguyễn Thị Việt Tím
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Huỳnh, thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang: Không tham gia phiên toà:

Trong ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Kiên Giang. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 91/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 25/2024/QÐST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1988 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn: Anh Lê Hoàng T1, sinh năm 1981 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, Biên bản Phiên họp kiểm tra việc, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Biên bản không tiến hành hoà giải được, nguyên đơn chị Lê Thị T trình bày: Chị và anh Lê Hoàng T1 sống với nhau vào ngày 20/9/2013, không tổ chức đám cưới, không đăng ký kết hôn. Trước khi chung sống, vợ chồng có tìm hiểu nhau trước khoảng 3 tháng mới tiến tới hôn nhân, hôn nhân tự nguyện, không bị cưỡng ép.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có cùng quan điểm sống, không thấu hiểu lẫn nhau, từ đó thường xuyên cãi vã dẫn đến đời sống vợ chồng không được hạnh phúc. Do đó vợ chồng đã ly thân từ tháng 12/2018 đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không thể tiếp tục chung sống và mục đích hôn nhân không đạt được.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên:

  1. Lê Thị Ngọc T2, sinh ngày 03/11/2015
  2. Lê Thị Ngọc T3, sinh ngày 16/9/2017

Các con hiện đang chung sống với cha.

- Về tài sản chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung.

- Về nợ chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có nợ chung.

Tại phiên toà chị Lê Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Về quan hệ hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê Hoàng T1.
  • Về con chung: Chị xin nhường quyền nuôi dưỡng các cháu Lê Thị Ngọc T2, sinh ngày 03/11/2015 và Lê Thị Ngọc T3, sinh ngày 16/9/2017 cho anh Lê Hoàng T1 tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị không phải cấp dưỡng nuôi con.
  • Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Lê Hoàng T1: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập cho anh Lê Hoàng T1 tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, cũng như triệu tập tham gia phiên tòa, nhưng anh T1 đều vắng mặt và không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Đây là quan hệ tranh chấp ly hôn, bị đơn anh Lê Hoàng T1 cư trú tại Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang. Theo quy định tại khoản 7 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thầm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.

[2] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh Lê Hoàng T1 mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, phía chị T đồng ý xét xử vắng mặt anh T1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T1.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị T và anh Lê Hoàng T1 tự nguyện xác lập mối quan hệ hôn nhân từ năm 2013, đến thời điểm hiện tại tuy có đủ điều kiện kết hôn nhưng anh, chị không đăng ký kết hôn. Do đó, quan hệ hôn nhân của anh, chị đã vi phạm về đăng ký kết hôn được quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Cho nên việc kết hôn là không thỏa mãn về mặt hình thức.

Căn cứ khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC – VKSNDTC – BTP ngày 06-01-2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn và có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ”. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con... thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình.

Xét mâu thuẫn thực tế của chị T, anh T1 là do trong thời gian chung sống giữa vợ chồng anh, chị bất đồng quan điểm, không thấu hiểu lẫn nhau, từ đó thường xuyên cãi vã, dẫn đến đời sống vợ chồng không được hạnh phúc. Mặt khác, tại phiên tòa chị T xác định hiện tại vợ chồng chị đã không còn tình cảm gì với nhau, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên chị cương quyết ly hôn với anh T1. Xét hôn nhân giữa chị T, anh T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hơn nữa chị T, anh T1 tiến tới hôn nhân nhưng không có đăng ký kết hôn là vi phạm về mặt hình thức, nên Hội đồng xét xử thống nhất không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị T và anh Lê Hoàng T1.

[4]Về con chung: Hội đồng sơ thẩm xét thấy, trong quá trình chung sống vợ chồng chị T, anh T1 có 02 con chung tên Lê Thị Ngọc T2, sinh ngày 03/11/2015 và Lê Thị Ngọc T3, sinh ngày 16/9/2017, các cháu hiện đang sống chung với cha. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để triệu tập anh T1 tham gia giải quyết vụ kiện nhưng anh T1 đều vắng mặt không lý do. Do đó, Toà án không thể tiến hành thủ tục ghi nhận nguyện vọng của cháu T2 theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử sẽ tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung và căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của các cháu T2, cháu T3 để xem xét, quyết định người trực tiếp nuôi dưỡng các cháu sau khi vợ chồng ly hôn. Xét thấy, từ ngày vợ chồng ly thân cho đến nay các cháu T2, cháu T3 vẫn được anh Trung trực t nuôi dưỡng, nếu đột ngột thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến tâm lý và môi trường sống xung quanh của cháu T2, cháu T3. Hơn nữa phía chị T thống nhất giao các cháu T2, cháu T3 cho anh T1 tiếp tục nuôi dưỡng. Để đảm bảo điều kiện ổn định cho các cháu T2, cháu T3 được phát triển tốt cả về thể chất lẫn tinh thần, Hồi đồng xét xử thống nhất giao các cháu Lê Thị Ngọc T2, sinh ngày 03/11/2015 và Lê Thị Ngọc T3, sinh ngày 16/9/2017 cho anh Lê Hoàng T1 tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là hoàn toàn phù hợp pháp luật.

Về cấp dưỡng: Chị Lê Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Lê Hoàng T1 không có yêu cầu.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng không xem xét.

[6] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

[7] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 7 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 271, và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình.

- Căn cứ khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC – VKSNDTC – BTP ngày 06 - 01-2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp.

- Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị T và anh Lê Hoàng T1.

2. Về quan hệ con chung: Giao các cháu Lê Thị Ngọc T2, sinh ngày 03/11/2015 và Lê Thị Ngọc T3, sinh ngày 26/9/2017 cho anh Lê Hoàng T1 tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Lê Thị T được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị Lê Thị T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003668 ngày 08/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Kiên Giang.

5. Quyền kháng cáo: Chị Lê Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với anh Lê Hoàng T1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện T;
  • - THA dân sự huyện T;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ánh Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 46/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Lê Thị T yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với anh Lê Hoàng T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger