TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2024/HNGĐ - ST Ngày 30 / 5 /2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hồng Ninh
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Bùi Kim Dung
- Bà Phạm Thu Hà
Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Văn Cảnh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: bà Trương Thị Khánh Ly – Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử số II Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 34/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 23/4/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 89/QÐST-DS ngày 20/5/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Bùi Thị L, sinh năm 1985
Nơi cư trú: thôn T, xã L, thành phố H L, tỉnh Q N – có mặt
- Bị đơn: anh Lê Thế A, sinh năm 1973
Nơi cư trú: thôn T, xã L, thành phố H L, tỉnh Q N – vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 15/02/2024, các lời khai tại Toà án và tại phiên toà, nguyên đơn là chị Bùi Thị L khai:
- Về quan hệ hôn nhân: chị L và anh Thế A tự nguyện kết hôn và được UBND xã Lê Lợi, thành phố Hạ Long cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 18/8/2020. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống tại thôn T, xã L, thành phố H L, tỉnh Q N. Thời gian đầu anh chị chung sống đã không hạnh phúc, anh Thế A đã đánh chị nên chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở một tháng, sau đó anh Thế A đã đe dọa chị, nên chị đã quay về chung sống, tuy nhiên anh Thế A vẫn thường xuyên coi thường chị, thậm chí còn cầm cả gạch đánh bố đẻ của chị, ngày 02/2/2024, anh Thế A đã đánh chị và anh chị đã sống ly thân từ đó cho đến nay, mỗi người một nơi, không còn quan hệ tình cảm, không còn quan tâm tới nhau nữa. Xét thấy tình cảm của vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã quá trầm trọng, không thể tiếp tục kéo dài cuộc sống chung, mục đích của hôn nhân không đạt được, chị L yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Thế A.
- Về con chung: chị L và anh Thế A có 01 con chung là Lê Hồng S, sinh ngày 30/01/2021, khi ly hôn chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị L không yêu cầu anh Lê Thế A phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: chị L và anh Thế A không có tài sản chung, chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về vay nợ chung: Không có.
* Tại bản tự khai, biên bản hòa giải, Bị đơn anh Lê Thế A trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: anh Thế A và chị Bùi Thị L kết hôn năm 2020 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lê Lợi, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Cuộc sống hôn nhân diễn ra bình thường, đôi khi cãi nhau xong rồi thôi, anh chỉ cần chị L tôn trọng anh, cuộc sống gia đình toàn là do anh lo hết, chị L đi làm chị L cầm tiền, anh không được biết, vợ chồng sống không có gì phải lo, vì điều kiện kinh tế gia đình hoàn toàn anh lo, anh chỉ yêu cầu chị L tôn trọng anh, mỗi lần cãi nhau chị L thường hay nói láo, mày tao với anh, mâu thuẫn của vợ chồng anh chưa đến mức phải ly hôn, nên anh không đồng ý ly hôn với chị L.
- Về con chung: Anh và chị L có 01 con chung là Lê Hồng S, sinh ngày 30/01/2021. Khi ly hôn anh yêu cầu giao con chung cho chị L được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Anh và chị L không có tài sản chung, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về vay nợ chung: Không có.
* Tại biên bản xác minh ngày 16/4/2024, có sự tham gia của lãnh đạo thôn T, xã L, thành phố H L có nội dung:
Chị Bùi Thị L và anh Lê Thế A kết hôn vào khoảng năm 2020, trước đó chị L đã có một đời chồng và 02 con riêng, anh Thế A cũng có một đời vợ và có 02 con riêng. Sau khi kết hôn giữa chị L và anh Thế A có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi chửi đánh nhau, anh Thế A còn báo cáo Công an xã về mâu thuẫn giữa hai vợ chồng, vì vậy, xã đã gọi về thôn để xác minh, xem xét. Chúng tôi còn nghe nói, anh Thế A hay đánh vợ, gần nhất còn nghe nói đánh cả bố vợ, hai vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc và đã ly thân, chị L về nhà chị gái ở gần đó sinh sống từ tháng 2/2024 cho đến nay. Mâu thuẫn của hai vợ chồng đã gay gắt và trầm trọng, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Chị L và anh Thế A có 01 con chung là Lê Hồng S, sinh ngày 30/01/2021, chị L làm công nhân, anh Thế A làm tự do về xây dựng, chúng tôi đề nghị Tòa án xem xét điều kiện nuôi con của các bên và giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên toà phát biểu ý kiến: kể từ khi thụ ý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, Bị đơn thực hiện chưa đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền: chị Bùi Thị L là nguyên đơn có đơn xin ly hôn anh Lê Thế A, anh Thế A có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã L, thành phố H L, tỉnh Q N. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của bị đơn: bị đơn anh Lê Thế A được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần, nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt Lê Thế A.
[2] Về Quan hệ hôn nhân:
Quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị L và anh Lê Thế A là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ, quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, vì vậy, quan hệ vợ chồng ngày càng căng thẳng, thường xuyên cãi vã lẫn nhau, anh Lê Thế A có thường xuyên có hành vi bạo lực gia đình với chị L. Chị L, anh A đã sống ly thân, không còn quan hệ tình cảm, không quan tâm đến nhau và được chứng minh tại biên bản xác minh ngày 16/4/2024 do Tòa án tiến hành, đã gây ảnh hưởng xấu đến quan hệ hôn nhân. Tại phiên tòa chị L vẫn giữ nguyên quan điểm yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Thế A, như vậy chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Thế A là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: chị L và anh Thế A có 01 con chung là Lê Hồng S, sinh ngày 30/01/2021
Xét yêu cầu nuôi con chung của chị L thấy: chị L đang làm công nhân, có công việc, thu nhập ổn định, cháu S còn quá nhỏ và hiện đang ở với chị L, xét thấy, yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Lê Hồng S là phù hợp với thực tế công việc, thu nhập của chị L, bản thân anh Thế A cũng có ý kiến đồng ý giao con chung cho chị L được trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị L, giao con chung Lê Hồng S cho chị L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, là phù hợp, nên được chấp nhận. Chị L không yêu cầu anh Thế A phải cấp dưỡng nuôi con chung, xét đây là quyết định cá nhân của chị L, vì vậy không xét.
[4] Về tài sản chung, công nợ chung:
- Chị L, anh Thế A đều xác định không có tài sản chung, chị L, anh Thế A không yêu cầu Toà án giải quyết, vì vậy, Hội đồng xét xử không xét.
- Chị L, anh Thế A đều xác định không có công nợ chung, chị L, anh Thế A không yêu cầu Toà án giải quyết, vì vậy, Hội đồng xét xử không xét.
[5] Về án phí:
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Bùi Thị L phải nộp 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn, nuôi con chung của chị Bùi Thị L.
1. Về quan hệ hôn nhân: chị Bùi Thị L được ly hôn anh Lê Thế A
2. Về con chung:
- Giao con chung Lê Hồng S, sinh ngày 30/01/2021, cho chị Bùi Thị L được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Lê Thế A không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Chị L cùng các thành viên trong gia đình, không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí dân sự:
Chị Bùi Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự ly hôn sơ thẩm, được trừ đi số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí, theo biên lai thu tiền số 0000480 ngày 21/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, chị L đã nộp đủ.
4. Về quyền kháng cáo: chị Bùi Thị L có quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án; anh Lê Thế A có quyền kháng cáo trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Lê Hồng Ninh |
Bản án số 46/2024/HNGĐ - ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 46/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp HNGĐ
