Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/DS - ST.

Ngày: 30/5/2024.

“V/v: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Dũng.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Luân.
  • Bà Trần Thị Hằng.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Thị Thu Duy - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
  • - Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 162/2023/TLST - DS ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST - DS ngày 02 tháng 5 năm 2024 và quyết định hoãn phiên Tòa số 26/2024/QĐST - DS ngày 17 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Thôn E, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Bà Lê Thị Huyền T, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Lê Thị H1, sinh năm 1979.

Địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

(Bà H có mặt; bà T có đơn xét xử vắng mặt; bà H1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Phạm Thị H trình bày: Ngày 15/4/2022 bà với bà T có ký kết hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất với tổng giá trị chuyển nhượng là 1.800.000.000đ đối với thửa đất có thông tin như sau: Thửa đất L9, địa chỉ tổ dân phố T, thị trấn N, huyện L. Diện tích 351m² (Trong đó có 200m² đất thổ cư) chiều ngang là 12m, chiều dài là 30m. Lô đất nêu trên thuộc một phần thửa đất số 79, tờ bản đồ số 17, địa chỉ tại thị trấn N, huyện L theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 146354 do UBND huyện L vào tháng 5/2012.

Ngay sau khi ký hợp đồng đặt cọc, bà T đã yêu cầu bà giao số tiền đặt cọc là 200.000.000đ, trong đó bà giao số tiền mặt là 30.000.000đ. Bà đã chuyển khoản số tiền là 170.000.000đ thông qua số tài khoản bà T đưa cho bà có thông tin tên là Đỗ Thị H2 số tài khoản 21410001215151 mở tại Ngân hàng TMCP Đ.

Căn cứ theo hợp đồng đặt cọc, thời hạn các bên cùng nhau ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Văn phòng công chứng hoặc Cơ quan nhà nước có thẩm quyền là đến ngày 30/5/2022.

Đến ngày 30/5/2022 vì bà T chưa thực hiện xong các thủ tục tách thửa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất chuyển nhượng nêu trên. Do đó, các bên đã thỏa thuận lại và gia hạn thời hạn ký kết hợp đồng chuyển nhượng tại Văn phòng công chứng hoặc Cơ quan nhà nước có thẩm quyền là đến ngày 30/12/2022.

Trước ngày 30/12/2022, các bên thỏa thuận hủy bỏ hợp đồng đặt cọc. Theo đó, bà T đã nhờ bà Nguyễn Thị H3 chuyển cho bà số tiền 95.000.000đ và thỏa thuận sẽ giao cho bà số tiền còn lại là 105.000.000đ trước năm 2022.

Sau ngày 30/12/2022, bà đã nhiều lần liên hệ, thương lượng với bà T về việc trả cho bà số tiền còn lại nhưng bà T không hợp tác và không chịu trả số tiền đặt cọc cho bà.

Để có được số tiền đặt cọc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên là thành quả tích góp trong nhiều năm. Việc bà T cố tình không thực hiện thỏa thuận và không trả tiền đặt cọc đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của bà, dẫn đến cuộc sống của bà gặp khó khăn.

Do đó, bà yêu cầu Tòa án giải quyết hủy hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 15/4/2022 và Hợp đồng đặt cọc không có ngày tháng năm được ký kết giữa bà và bà T. Buộc bà T phải trả lại cho bà số tiền đặt cọc còn lại là 105.000.000đ. Ngày 02/4/2024 bà có đơn khởi kiện bổ

2

sung. Bà yêu cầu bà T, bà H3 cùng có trách nhiệm trả lại cho bà số tiền là 105.000.000đ. Ngoài ra bà không trình bày và yêu cầu gì thêm.

Bị đơn bà Lê Thị Huyền T trình bày: Bà là em gái của bà Lê Thị H1, địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Chị gái bà có đầu tư mua bán đất tại thị trấn N, huyện L. Chị gái bà có mua lô L9, diện tích 351m² tọa lạc tại tổ dân phố T, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Lô đất này chị gái bà mới chỉ đặt cọc để nhận chuyển nhượng chứ chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích đất này chị gái bà mua của bà Nguyễn Thị H3thôn B, xã G, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Do chị gái bà ở xa nên khi bà H có nhu cầu nhận chuyển nhượng thì chị gái bà có nhờ bà đứng ra ký kết hợp đồng đặt cọc với bà H. Việc thỏa thuận đặt cọc như thế nào thì giữa chị gái bà với bà H hai bên tự thỏa thuận với nhau. Sau khi thỏa thuận xong thì vào ngày 15/4/2022 bà với bà H có ký kết hợp đồng đặt cọc. Theo đó bà H đã đặt cọc cho bà số tiền là 200.000.000đ để nhận chuyển nhượng diện tích đất 351m² tọa lạc tại tổ dân phố T, thị trấn N, huyện L với giá chuyển nhượng là 1.800.000.000đ, thời hạn đặt cọc từ ngày 21/3/2022 đến ngày 30/5/2022 các bên sẽ tiến hành lập hợp đồng chuyển nhượng đất theo quy định. Bà chỉ là người ký kết hợp đồng chứ số tiền đặt cọc bà không nhận từ bà H mà bà H trả cho chị gái bà. Đến thời hạn như cam kết do chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên các bên lại tiếp tục ký kết tiếp với nhau hợp đồng đặt cọc ngày 02/6/2022 nội dung cũng giống như hợp đồng đặt cọc ngày 15/4/2022. Thời hạn thực hiện hợp đồng đặt cọc là đến ngày 30/12/2022 các bên sẽ tiến hành lập hợp đồng chuyển nhượng theo quy định. Đến thời hạn như cam kết do bà H không có tiền nên các bên không tiến hành lập hợp đồng chuyển nhượng được.

Sau như không thực hiện được hợp đồng thì giữa các bên có thỏa thuận bà H chỉ nhận lại số tiền là 100.000.000đ nên chị gái bà có nhờ bà Nguyễn Thị H3 trả cho bà H số tiền là 95.000.000đ. Sau đó bà H lại khởi kiện bà tại Tòa án nên chị gái bà đồng ý trả cho bà H tiếp số tiền 30.000.000đ. Đối với số tiền này thì chị gái bà chưa trả.

Qua yêu cầu khởi kiện của bà H thì bà không đồng ý trả lại số tiền theo yêu cầu của bà H bởi lẽ bà chỉ là người ký dùm hợp đồng đặt cọc với bà H. Ngoài ra bà không trình bày và yêu cầu gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H1 trình bày: Do điều kiện ở xa đi lại khó khăn nên bà có nhờ bà T đứng ra ký hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số L9 tại tổ dân phố T, thị trấn N, huyện L với bà Phạm Thị H số tiền đặt cọc là

3

200.000.000đ. Ngày 15/4/2022 bà H đã chuyển cho bà số tiền đặt cọc là 170.000.000đ vào tài khoản BIDV số B và bà Hồng trừ 30.000.000đ tiền môi giới.

Sau đó do việc chuyển nhượng không được như thỏa thuận nên bà đã trả lại số tiền 95.000.000đ và bà H đồng ý hủy hợp đồng. Nhưng vì chưa tin tưởng bà H, hôm giao tiền bà H hứa ngày hôm sau sẽ giao lại giấy tờ cho bà nhưng sau đó bà H đã lật lọng đòi thêm số tiền 100.000.000đ nữa nhưng bà không đồng ý nên bà H đã làm đơn khởi kiện ra Tòa án.

Ngày 10/9/2023 Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà đã hòa giải bà H có yêu cầu bà trả lại số tiền 30.000.000đ cho bà H vào ngày 30/12/2023 với hình thức thanh toán trả dần với khả năng kinh tế của bà. Bà yêu cầu Tòa án xem xét đối với bà H là đã đưa cho em gái bà số tiền là 30.000.000đ. Ngoài ra bà không trình bày và yêu cầu gì thêm.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của bà Phạm Thị H về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” với bà Lê Thị Huyền T và bà Trần Thị H4.

Hủy 02 bản hợp đồng đặt cọc đều đề ngày 15/4/2022 và hợp đồng đặt cọc không đề ngày tháng giữa bà Lê Thị Huyền T với bà Phạm Thị H.

Buộc bà Lê Thị H1 phải trả cho bà Phạm Thị H số tiền đặt cọc còn lại là 75.000.000đ.

Về án phí: Bà Lê Thị Huyền T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.

Lê Thị H1 phải chịu án phí đối với nghĩa vụ tài sản phải trả cho nguyên đơn.

Phạm Thị H phải chịu án phí đối với một phần yêu cầu khởi kiện không được Tòa án chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả thẩm tra tại phiên tòa cũng như ý kiến tranh luận của các đương sự, ý kiến Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Bị đơn bà Lê Thị Huyền T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên cần căn cứ khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt bà T, bà H1 theo thủ tục chung là phù hợp.

[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xuất phát từ việc vào ngày 15/4/2022 bà Phạm Thị H với bà Lê Thị Huyền T có xác lập hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nhau. Theo hợp đồng đặt cọc thì bà H đã đặt cọc cho bà T số tiền là 200.000.000đ để nhận chuyển nhượng diện tích đất 351m² thuộc thửa số L9 tọa lạc tại tổ dân phố T, thị trấn N, huyện L. Giá chuyển nhượng là 1.800.000.000đ. Thời hạn đặt cọc là đến ngày 30/5/2022 các bên sẽ tiến hành lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định với nhau. Tuy nhiên đến thời hạn thực hiện hợp đồng các bên không tiến hành được hợp đồng như cam kết nên các bên đã tiếp tục ký kết với nhau hợp đồng đặt cọc. Thời hạn đặt cọc là đến ngày 30/12/2022 các bên sẽ tách thửa và lập hợp đồng chuyển nhượng theo quy định nhưng chưa đến thời hạn thực hiện hợp đồng các bên đã đồng ý chấm dứt hợp đồng. Tuy nhiên bà T chưa trả hết số tiền mà bà H đã đặt cọc. Vì vậy, các bên phát sinh tranh chấp. Nay bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy hợp đồng đặt cọc giữa bà H với bà T buộc bà T phải trả lại cho bà số tiền đặt cọc. Qua yêu cầu khởi kiện của bà H thì bà T không đồng ý. Ngày 03/4/2024 Tòa án đã thụ lý đơn khởi kiện bổ sung của bà H. Theo đơn bà H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T và bà H1 cùng có trách nhiệm trả cho bà H số tiền đặt cọc còn lại. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sựTòa án xác định quan hệ pháp luật của vụ án là: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

[3] Về nội dung tranh chấp: Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của các đương sự thì thấy rằng:

Vào ngày 15/4/2022 bà H với bà T có xác lập hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nhau. Theo hợp đồng đặt cọc thì bà H đã đặt cọc cho bà T số tiền là 200.000.000đ để nhận chuyển nhượng diện tích đất 351m² thuộc thửa số L9 tọa lạc tại tổ dân phố T, thị trấn N, huyện L. Giá chuyển nhượng là

5

1.800.000.000đ. Thời hạn đặt cọc là đến ngày 30/5/2022 các bên sẽ tiến hành lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nhau. Tuy nhiên đến thời hạn thực hiện hợp đồng do các bên chưa thực hiện được việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên các bên đã tiếp tục ký kết với nhau hợp đồng đặt cọc. Thời hạn đặt cọc là đến ngày 30/12/2022 các bên sẽ tách thửa và lập hợp đồng chuyển nhượng theo quy định. Tuy nhiên chưa đến thời hạn thực hiện hợp đồng các bên đã đồng ý chấm dứt hợp đồng nhưng bà T chưa trả hết số tiền mà bà H đã đặt cọc. Vì vậy, các bên phát sinh tranh chấp.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà H đối với yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc:

Theo chứng cứ do nguyên đơn xuất trình thì sau khi ký kết hợp đồng đặt cọc vào ngày 15/4/2022 thì bà H đã đặt cọc cho bà T số tiền là 200.000.000đ. Hợp đồng đặt cọc này được lập thành 02 bản chính. Thời hạn đặt cọc là đến ngày 30/5/2022 các bên sẽ tiến hành thủ tục lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên đến thời hạn thực hiện hợp đồng vì lý do bà T chưa tiến hành xong thủ tục tách thửa nên các bên tiếp tục ký kết thêm hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Thời hạn thực hiện hợp đồng đặt cọc là đến ngày 30/12/2022 các bên sẽ tách thửa và lập hợp đồng chuyển nhượng.

Tuy nhiên chưa đến thời hạn thực hiện hợp đồng thì thấy rằng vào các ngày 12/11/2022 và ngày 14/11/2022 bà H đã nhận từ bà Nguyễn Thị Hằng số tiền là 90.000.000đ và số tiền 5.000.000đ. Đồng thời các bên đương sự đều xác định và thỏa thuận các bên đồng ý hủy hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nhau và trả lại số tiền đã nhận đặt cọc cho nhau.

Như vậy, sau khi ký kết hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nhau nhưng chưa đến thời hạn thực hiện hợp đồng các bên đã đồng ý chấm dứt, hủy hợp đồng đặt cọc đã ký kết với nhau. Nay bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy hợp đồng đặt cọc giữa bà H với bà T. Vì vậy, cần hủy hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H với bà T là hoàn toàn phù hợp và đúng với quy định của pháp luật.

[4] Đối với việc bà H yêu cầu bà T, bà H1 phải trả lại cho bà H số tiền đặt cọc còn lại là 105.000.000đ.

Qua xem xét lời khai của các đương sự thì thấy rằng:

Việc bà T có đứng ra ký kết dùm hợp đồng đặt cọc cho bà Lê Thị H1 với bà H là có sảy ra trên thực tế và được bà Phạm Thị H thừa nhận tại các biên bản lấy lời khai, bản trình bày, đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện của bà H vào năm 2023 mà

6

trước khi bà H khởi kiện lại bà T tại vụ án này. Theo lời khai, trình bày của bà H thì bà H cũng thừa nhận bà T chỉ là người đứng ra ký kết hợp đồng đặt cọc dùm cho bà H1 là chị gái của bà T. Việc thỏa thuận đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là do bà H1 với bà H tự thỏa thuận trực tiếp với nhau về giá cả chuyển nhượng, diện tích đất chuyển nhượng, thời hạn thực hiện hợp đồng. Đồng thời lời khai này của bà H cũng phù hợp với lời khai của bà T, bà H1. Bên cạnh đó bà H cũng thừa nhận sau khi ký kết hợp đồng đặt cọc với bà T thì bà H đã chuyển tiền vào tài khoản theo yêu cầu của bà H1 chứ bà T không nhận tiền đặt cọc từ bà H. Vì vậy, việc bà H khởi kiện yêu cầu bà T phải trả lại cho bà H số tiền đặt cọc còn lại là 105.000.000đ là hoàn toàn không có cơ sở nên cần chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà H buộc bà H1 phải trả lại cho bà H số tiền đặt cọc còn nợ lại là hoàn toàn phù hợp.

Sau khi ký kết hợp đồng đặt cọc thì bà H đã chuyển cho bà Hằng số tiền là 170.000.000đ. Việc chuyển cho bà Hằng số tiền này cũng được bà H thừa nhận. Đối với số tiền 30.000.000đ thì bà H cũng thừa nhận số tiền này bà H đã trả cho bên môi giới đất trong đó bà cũng được hưởng số tiền môi giới là 10.000.000đ. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên Tòa hôm nay bà H cũng không xuất trình được chứng cứ để chứng minh có việc giữa bà H, bà T, bà H1 thỏa thuận bà H1, với bà T phải trả tiền môi giới và chứng cứ chứng minh có việc bà T, bà H1 đồng ý trừ số tiền này vào số tiền các bên đặt cọc. Vì vậy, không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H về việc yêu cầu bà H1 phải trả lại cho bà số tiền còn lại là 105.000.000đ mà chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện buộc bà H1 phải trả lại cho bà H số tiền là 75.000.000đ là có căn cứ.

[5] Đối với việc bà T, bà H1 cho rằng sau khi các bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng bà H đồng ý nhận lại số tiền là 100.000.000đ, sau đó bà H khởi kiện bà T tại Tòa án thì bà H1 đồng ý trả lại thêm cho bà H số tiền là 30.000.000đ.

Qua xem xét thì thấy rằng lời khai của bà T, bà H1 là không có căn cứ, bên cạnh đó bà H cũng không thừa nhận có việc nêu trên. Đồng thời chứng cứ thể hiện việc bà H1 đồng ý trả cho bà H số tiền 30.000.000đ là do bà H1 tự viết ra không có sự đồng ý của bà H.

Từ những nhận định và phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần hủy hợp đồng đặt cọc giữa bà H với bà T. Buộc bà H1 phải trả lại cho bà H số tiền đặt cọc còn lại là có căn cứ.

[6] Về án phí: Buộc bà Phạm Thị H phải chịu án phí đối với yêu cầu khởi kiện không được Tòa án chấp nhận.

7

Buộc bà Lê Thị Huyền T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.

Buộc bà Lê Thị H1 phải chịu án phí đối với nghĩa vụ tài sản phải trả cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 117; Điều 328 Bộ luật dân sự năm 2015.
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị H về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” đối với bị đơn bà Lê Thị Huyền T, bà Lê Thị H1.
  2. Hủy 02 hợp đồng đặt cọc (V/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất) lập ngày 15/4/2022 giữa bà Phạm Thị H với bà Lê Thị Huyền T.
  3. Hủy hợp đồng đặt cọc lập ngày 02/6/2022 giữa bà Lê Thị Huyền T với bà Phạm Thị H.
  4. Buộc bà Lê Thị H1 phải trả lại cho bà Phạm Thị H số tiền là 75.000.000đ (Bảy mươi lăm triệu đồng).
  5. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  6. Về án phí: Buộc bà Phạm Thị H phải chịu 1.500.000đ (Một triệu, năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trên tổng số tiền không được chấp nhận nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp là 3.225.000đ (Ba triệu, hai trăm hai mươi lăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000079 ngày 02/10/2023 và số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí dân sự số 0004353 ngày 12/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà. Hoàn trả

8

cho bà H số tiền tạm ứng án phí dân sự còn dư là 2.025.000đ (Hai triệu, không trăm hai mươi lăm ngàn đồng).

Buộc bà Lê Thị Huyền T phải chịu 900.000đ (Chín trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Buộc bà Lê Thị H1 phải chịu 3.750.000đ (Ba triệu, bảy trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Báo cho đương sự có mặt tại phiên Tòa biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án (30/5/2024). Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND huyện Lâm Hà;
  • - THA dân sự huyện Lâm Hà;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Dũng

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/DS - ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 46/2024/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồng - Trang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger