|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2024/HS-PT Ngày: 29/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Trịnh Minh Tự |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Văn Mến |
| Ông Nguyễn Văn Thành |
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Cẩm Nang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 29/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 42/2024/HSPT, ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Ngô Thị G, do có kháng cáo của bị cáo Ngô Thị G và bị hại ông Lại Thanh P, bà Trần Thị Bích T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2024/HS-ST ngày 14/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
Bị cáo có kháng cáo: Ngô Thị G, sinh ngày 01/01/1990, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú: ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn D, sinh năm 1962 (đang định cư tại Mỹ) và bà Lê Thị N, sinh năm 1964 (đang định cư tại Mỹ); bị cáo có chồng tên Dương Quốc V, sinh năm 1991 (sống như vợ chồng); Con: Có 02 người; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa từng bị kết án, chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào; Bị khởi tố vào ngày 09/11/2023 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (Bị cáo có mặt tại tòa).
Bị hại có kháng cáo: Ông Lại Thanh P, sinh năm 1985 và bà Trần Thị Bích T, sinh năm 1985. Cùng địa chỉ ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
Ngoài ra trong vụ án còn có người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng nhưng do không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo, không có kháng nghị nên không triệu tập ra phiên tòa phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 01 giờ 50 phút, rạng sáng ngày 09/9/2023, ông Lại Thanh P xem Camera quan sát của gia đình phát hiện bị cáo Ngô Thị G lén lút đột nhập vào khu vực tiệm tạp hóa của gia đình để lấy trộm tài sản nên truy hô cho vợ là bà Trần Thị Bích T hỗ trợ giữ bị cáo lại, sau đó trình báo Công an xã L để giải quyết. Tại thời điểm bị phát hiện, bị cáo G chưa lấy trộm được tài sản. Tuy nhiên, Cơ quan Công an đã chứng minh và bị cáo đã thừa nhận trước đó vào ngày 08/9/2023, cũng tại tiệm tạp hóa của gia đình ông P, bị cáo đã lấy trộm được một số tài sản là hàng tạp hóa, cụ thể như sau:
Nguyên nhân do làm ăn thua lỗ dẫn đến mất khả năng chi trả một số khoản nợ nên bị cáo G nảy sinh ý định lấy trộm tài sản là những hàng tạp hóa của tiệm ông P để bán, lấy tiền trả nợ. Vào khoảng 01 giờ 30 giờ ngày 08/9/2023, bị cáo chuẩn bị 01 cây tua vít, 01 đèn pin và dùng xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Sirius, biển số đăng ký 84K2 - 1758 đi từ nhà đến khu vực phía sau nhà ông P, bị cáo để xe tại đây. Sau đó, bị cáo đi bộ đến khu vực cửa phụ bên hông tiệm tạp hóa của gia đình ông P, bị cáo dùng tua vít mở ốc bắt tôn cửa, lén lút đột nhập vào bên trong. Tại đây, bị cáo đã lấy trộm được những tài sản gồm: 04 cây đường cát (loại cây 12kg); 02 thùng sữa tươi Vinamilk (loại 48 bịt/thùng); 02 thùng sữa tươi Vinamilk (loại hộp 110ml); 02 thùng sữa tươi Vinamilk (loại hộp 180ml); 10 bịt bột ngọt hiệu Saji (loại bịt 500gam); 08 bịt bột ngọt hiệu Aji-no-moto (loại bịt 400gam); 01 thùng bột ngọt hiệu Aji-no-moto (loại thùng 12 bịt, 01 kg/bịt); 05 cây thuốc lá hiệu Meko; 01 cây thuốc lá hiệu S (loại Sài Gòn vàng); 02 cây thuốc lá hiệu Fasol (loại Fasol đỏ); 04 cây thuốc lá hiệu Bastos (loại Bastos đậm); 02 túi trà hiệu Con cua (loại nhỏ, dạng túi 05 gói); 04 gói trà hiệu Con cua (loại lớn); 06 bịt bột bánh xèo hiệu Hương Xưa; 05 hộp Cà phê Phố; 05 dây Cà phê Việt; 10 dây Milo; 02 chục chén kiểu (mỗi chục 10 cái) và một số hàng hóa khác (bị cáo không nhớ rõ về số lượng và tên mặt hàng). Sau khi trộm được tài sản, bị cáo đem cất giấu ở khu vực bụi rậm phía sau nhà ông P và về nhà ngủ. Đến khoảng 05 giờ cùng ngày, thì bị cáo quay trở lại lấy tài sản đem đi bán cho các tiệm tạp khác trên địa bàn huyện T theo lời trình bày của bị cáo gồm: Tiệm tạp hóa của bà Dương Thị M ở ấp X, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh; tiệm tạp hóa của bà Dương Thị X ở ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh; tiệm tạp hóa của bà Tăng Thị T1 ở ấp G, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh; tiệm tạp hóa của bà Từ Thị Mỹ H và tiệm tạp hóa của bà Nguyễn Thị D1 cùng ở ấp R, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Ngoài ra, bị cáo còn bán cho 01 (một) người bán hàng rong gặp trên đường (không rõ họ tên và địa chỉ).
Căn cứ bảng kê hàng hóa lấy trộm vào ngày 08/9/2023 do bị cáo tự kê khai. Ngày 30/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra văn bản yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T để định giá. Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số: 23/KL-HĐĐGTS ngày 02/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T, kết luận:
- - 02 cây đường cát khô, loại cây 12 kg. Tại thời điểm ngày 08/9/2023 có trị giá là 564.000 đồng;
- - 02 cây đường cát ướt, loại cây 12 kg. Tại thời điểm ngày 08/9/2023 có trị giá là 546.000 đồng;
- - 02 thùng sữa tươi Vinamilk, loại 48 bịt/thùng. Tại thời điểm ngày 08/9/2023 có trị giá là 620.000 đồng;
- - 02 thùng sữa tươi Vinamilk, loại hộp 110ml. Tại thời điểm ngày 08/9/2023 có trị giá là 420.000 đồng;
- - 01 thùng sữa tươi Vinamilk, loại hộp 180ml. Tại thời điểm ngày 08/9/2023 có trị giá là 330.000 đồng;
- - 10 bịt bột ngọt hiệu Saji, loại bịt 500 gam. Tại thời điểm ngày 08/9/2023 có trị giá là 315.000 đồng;
- - 08 bịt bột ngọt hiệu Aji-no-moto, loại bịt 400 gam. Tại thời điểm ngày 08/9/2023 có trị giá là 240.000 đồng;
- - 01 thùng (12 bịt) bột ngọt hiệu Aji-no-moto, loại bịt 01 kg. Tại thời điểm ngày 08/9/2023 có trị giá là 780.000 đồng;
- - 05 cây thuốc lá hiệu MEKO. Tại thời điểm ngày 08/9/2023 có trị giá là 390.000 đồng;
- - 01 cây thuốc là hiệu SÀI GÒN (Sài gòn vàng). Tại thời điểm ngày 08/9/2023 có trị giá là 109.000 đồng;
- - 02 cây thuốc lá hiệu FASOL (Fasol đỏ). Tại thời điểm ngày 08/9/2023 có trị giá là 147.000 đồng;
- - 04 cây thuốc lá hiệu BASTOS (Bastos đậm). Tại thời điểm ngày 08/9/2023 có trị giá là 356.000 đồng;
- - 02 túi trà hiệu Con cua (loại nhỏ), dạng túi 05 gói. Tại thời điểm ngày 08/9/2023 có trị giá là 135.000 đồng;
- - 04 gói trà hiệu Con cua (loại lớn). Tại thời điểm ngày 08/9/2023 có trị giá là 135.000 đồng;
- - 05 bịt hạt nêm hiệu Aji-ngon, loại bịt 400 gam. Tại thời điểm ngày 08/9/2023 có trị giá là 127.500 đồng;
- - 06 bịt bột bánh xèo Hương X1. Tại thời điểm ngày 08/9/2023 có trị giá là 121.800 đồng;
- - 05 hộp cà phê Phố. Tại thời điểm ngày 08/9/2023 có trị giá là 180.000 đồng;
- - 05 dây cà phê Việt. Tại thời điểm ngày 08/9/2023 có trị giá là 148.000 đồng;
- - 10 dây Milo. Tại thời điểm ngày 08/9/2023 có trị giá là 292.000 đồng;
- - 02 chục chén kiểu (chén sứ), mỗi chục 10 cái. Tại thời điểm ngày 08/9/2023 có trị giá là 200.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản thiệt hại tại thời điểm ngày 08/9/2023, có giá trị là 6.156.300 đồng (Sáu triệu một trăm năm mươi sáu nghìn ba trăm đồng).
Đối với số tiền bị cáo có được từ việc bán số hàng hóa mà bị cáo đã lấy trộm vào ngày 08/9/2023. Bị cáo khai nhận đã dùng hết vào việc trả nợ và tiêu xài cá nhân nên không thu giữ được. Riêng đối với tài sản mà bị cáo đã lấy trộm vào ngày 08/9/2023, còn một số mặt hàng bị cáo không nhớ tên hàng hóa và số lượng bị cáo không kê khai được. Ngoài ra, trong quá trình điều tra các bị hại cho rằng trước ngày 08/9/2023, còn mất nhiều tài sản khác và bị cáo thừa nhận có hành vi lén lút lấy trộm các tài sản nêu trên. Do bị cáo không nhớ và các bị hại cũng không xác định rõ được tài sản bị thiệt hại nên không có căn cứ để làm cơ sở định giá tài sản, khi nào xác minh làm rõ sẽ định giá tài sản và xem xét xử lý sau.
Tại Cáo trạng số 18/CT-VKS-HS, ngày 06/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, truy tố bị cáo Ngô Thị G về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 31/2024/HS-ST ngày 14/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh đã quyết định. Tuyên bố bị cáo Ngô Thị G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Ngô Thị G 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Căn cứ các điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Ngô Thị G bồi thường cho bị hại ông Lại Thanh P và bà Trần Thị Bích T tài sản chiếm đoạt bằng 6.156.300 (Sáu triệu một trăm năm mươi sáu nghìn ba trăm) đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 28/3/2024, bị cáo Ngô Thị G kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Ngày 28/3/2024, bị hại ông Lại Thanh P và bà Trần Thị Bích T kháng cáo yêu cầu tăng mức hình phạt đối với bị cáo Ngô Thị G; yêu cầu Tòa xử buộc bị cáo Ngô Thị G phải bồi thường thiệt hại cho ông Lại Thanh P và bà Trần Thị Bích T bằng 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng).
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Ngô Thị G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm; bị cáo Ngô Thị G, bị hại ông Lại Thanh P và bà Trần Thị Bích T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh:
Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú xét xử bị cáo về tội trộm cắp tài sản là đúng với hành vi của bị cáo, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản, lời khai của bị cáo phù hợp với chứng cứ, tài liệu cơ quan điều tra thu thập được, hành vi của bị cáo tỏ ra xem thường pháp luật, án sơ thẩm đã xem xét lượng hình trên cơ sở những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, xử bị cáo 01 năm tù là đúng pháp luật nên kháng cáo xin hưởng án treo là không có cơ sở, bị hại kháng cáo tăng hình phạt nhưng như phân tích trên thấy án sơ thẩm lượng hình là tương xứng, đúng pháp luật nên không có căn cứ tăng hình phạt.
Xét kháng cáo của bị hại về yêu cầu bồi thường số tiền 200.000.000 đồng là không có cơ sở vì anh P, chị T không chứng minh được tài sản bị thiệt hại của những lần khác như bị cáo khai, cơ quan tiến hành tố tụng cũng chứng minh được nên không chấp nhận kháng cáo này của bị hại. Khi có cơ sở chứng minh sẽ giải quyết tiếp theo quy định pháp luật.
Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị hại. Giữ nguyên án sơ thẩm.
Lời sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết bị cáo có lỗi, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo ở ngoài để bị cáo lo cho gia đình con cái, bị cáo hứa sẽ không tái phạm mà lo làm ăn trở thành người tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Đơn kháng cáo của bị cáo Ngô Thị G, bị hại ông Lại Thanh P và bà Trần Thị Bích T là trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Ngô Thị G, bị hại ông Lại Thanh P và bà Trần Thị Bích T, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Ngô Thị G khai nhận: Khoảng 01 giờ 50 phút ngày 09/9/2023, do làm ăn thua lỗ và cần tiền để trả nợ nên bị cáo Ngô Thị G đã có hành vi lén lút đột nhập vào tiệm tạp hóa của ông Lại Thanh P và bà Trần Thị Bích T tại ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nhưng chưa lấy trộm được tài sản thì bị phát hiện bắt quả tang. Quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận ngày 08/9/2023, bị cáo đã lén lút đột nhập vào tiệm tạp hóa của ông P và bà T để lấy trộm tài sản các mặt hàng tạp hóa như cáo trạng đã liệt kê chi tiết; tổng giá trị tài sản thiệt hại tại thời điểm ngày 08/9/2023, có giá trị là 6.156.300 đồng.
Do đó, án sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo.
- Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại, gây mất trật tự, trị an xã hội tại địa phương. Quá trình tố tụng bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có thân nhân là người có công với cách mạng, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như trên, có xem xét đến nhân thân của bị cáo và tình hình chính trị tại địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt 01 (một) năm tù là đã xem xét đánh giá một cách toàn diện, khách quan tính chất vụ án cũng như mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và đáp ứng công tác đấu tranh phòng chống tội phạm đang có chiều hướng gia tăng hiện nay. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không đưa ra được tình tiết giảm nhẹ nào khác đặc biệt mới. Do đó, không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo của bị cáo Ngô Thị G.
- Đối với kháng cáo của bị hại ông Lại Thanh P và bà Trần Thị Bích T cho rằng bị cáo G không phải vào nhà quán trộm tài sản của bị hại 02 lần mà còn nhiều lần khác trước đó nên yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo và yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại tổng cộng 200.000.000 đồng: Xét trong quá trình tố tụng bị cáo G có khai ngoài 02 lần trộm ngày 08/9/2023 và ngày 09/9/2023 bị cáo còn trộm 11 lần khác của bị hại, cơ quan điều tra đã điều tra nhưng bị cáo không xác định được thời gian trộm cụ thể lúc nào, tài sản trộm bao gồm những loại tài sản gì, các bị hại cũng không phát hiện các lần khác có hay không, cụ thể hành vi của bị cáo như thế nào và cũng không chứng minh số lượng, chủng loại tài sản mất hay không, chỉ nghe bị cáo khai nhận nên đưa ra các yêu cầu nêu trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử xém xét đánh giá kỹ lưỡng về 11 lần trộm khác bị cáo đã khai nhận nhưng cả bị cáo, các bị hại không ai khẳng định được hành vi trộm đó như thế nào, tài sản trộm là tài sản gì, sau khi trộm tài sản tiêu thụ ở đâu, bị cáo đều khai không nhớ, các bị hại đều không xác định được. Qua kiểm tra tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có khai số tiền từng lần bán tài sản trộm của 11 lần trước đó nhưng lời khai cũng không ổn định, lời khai trước và lời khai sau mâu thuẫn chồng chéo nhau lúc khai nhiều lúc khai ít, bị cáo khai không nhớ được nên cũng không giải thích được gì về sự mâu thuẫn đó. Với các tình tiết nêu trên thấy cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã sử dụng đầu đủ các biện pháp nghiệp vụ theo quy định của pháp luật nhưng cũng không thể chứng minh được sự kiện trộm 11 lần khác theo như bị cáo khai nên cấp sơ thẩm không sử dụng lời khai mơ hồ của bị cáo để quy kết tội cho bị cáo đối với 11 lần trộm khác như bị cáo khai là đúng pháp luật. Do đó, kháng cáo của các bị hại yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo, tăng tiền bồi thường trách nhiệm dân sự số tiền 200.000.000 đồng là không có căn cứ để chấp nhận.
- Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Ngô Thị G khai nhận: Khoảng 01 giờ 50 phút ngày 09/9/2023, do làm ăn thua lỗ và cần tiền để trả nợ nên bị cáo Ngô Thị G đã có hành vi lén lút đột nhập vào tiệm tạp hóa của ông Lại Thanh P và bà Trần Thị Bích T tại ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nhưng chưa lấy trộm được tài sản thì bị phát hiện bắt quả tang. Quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận ngày 08/9/2023, bị cáo đã lén lút đột nhập vào tiệm tạp hóa của ông P và bà T để lấy trộm tài sản các mặt hàng tạp hóa như cáo trạng đã liệt kê chi tiết; tổng giá trị tài sản thiệt hại tại thời điểm ngày 08/9/2023, có giá trị là 6.156.300 đồng.
- Đề nghị của Viện Kiểm sát xét xử phúc thẩm phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án, phù hợp quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo, của các bị hại không được Hội đồng xét xử chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Ngô Thị G.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị hại ông Lại Thanh P và bà Trần Thị Bích T.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2024/HS-ST, ngày 14/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
Tuyên bố bị cáo Ngô Thị G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Ngô Thị G 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Căn cứ các điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật dân sự năm 2015;
Buộc bị cáo Ngô Thị G bồi thường cho bị hại ông Lại Thanh P và bà Trần Thị Bích T tài sản chiếm đoạt bằng 6.156.300đ (Sáu triệu một trăm năm mươi sáu nghìn ba trăm đồng).
Khi án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án được Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án đúng theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi của số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Buộc bị cáo Ngô Thị G, bị hại ông Lại Thanh P, bị hại bà Trần Thị Bích T mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc bị hại ông Lại Thanh P, bị hại bà Trần Thị Bích T mỗi người phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Minh Tự |
Bản án số 46/2024/HS-PT ngày 29/08/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 46/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Thị G tội trộm cắp tài sản
