TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH Bản án số: 46/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29/5/2024 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Minh.
Hội Thẩm nhân dân: Ông Ngô Bá Tiến.
Bà Nguyễn Thị Bẩy.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Bình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 62/2024/TLST-HNGĐ ngày 07/3/2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02/5/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Sỹ B, sinh năm 1984. HKTT: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988. HKTT: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trú tại: Nhật Bản (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn anh Nguyễn Sỹ B trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị H đã tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn vào ngày 02/01/2009 tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Trước khi kết hôn, vợ chồng được tìm hiểu và tự nguyện kết hôn không bị ép buộc hay lừa dối. Sau đó, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, không tìm được tiếng nói chung trong bất kỳ vấn đề gì. Từ năm 2023 chị H đi nước ngoài, vợ chồng không còn nói chuyện riêng với nhau chỉ nói chuyện về con chung. Nay anh xác định vợ chồng không còn tình cảm và xin ly hôn với chị Nguyễn Thị H.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày 13/6/2014 và cháu Nguyễn Sỹ Anh Q, sinh ngày 13/11/2009. Hiện cả 02 cháu đều đang ở với anh, khi ly hôn anh xin được nuôi cả 02 cháu và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, công nợ: Không có.
Do công việc bận, nên anh B xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn chị Nguyễn Thị H đã được Tòa án thông báo, triệu tập nhiều lần thông qua người thân, nhưng chị H không gửi văn bản và không cung cấp địa chỉ cụ thể ở nước ngoài cho Tòa án.
Tòa án đã tiến hành làm việc với anh Nguyễn Văn T là anh ruột chị H, anh T trình bày: Anh là anh ruột của chị Nguyễn Thị H hiện đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản. Theo anh được biết, qua quá trình tìm hiểu tự nguyện, Nguyễn Thị H và Nguyễn Sỹ B có đăng ký kết hôn ngày 02/01/2009 tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Em gái anh và em B có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày 13/6/2014 và cháu Nguyễn Sỹ Anh Q, sinh ngày 13/11/2009, hiện 02 cháu đều do em B nuôi dưỡng chăm sóc.
Năm 2022, em Nguyễn Thị H đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Địa chỉ cụ thể ở Nhật Bản của H thì anh T không biết, H vẫn thường xuyên liên lạc, gọi điện với anh và gia đình bằng điện thoại. Sau khi được Tòa án thông báo việc thụ lý yêu cầu của em B xin ly hôn với em H thì anh đã thông báo cho H biết và hỏi địa chỉ cụ thể của H ở Nhật Bản nhưng H không nói, H chỉ nói với anh cũng nhất trí ly hôn và đồng ý để anh B nuôi 02 con chung, nhưng bận việc nên sẽ không gửi văn bản về cho Tòa án.
Nay, việc ly hôn giữa B và H thì anh sẽ nhận thay cho H các văn bản tố tụng, bản án và chị cam kết sẽ giao lại những văn bản này cho H ngay trong ngày nhận được.
Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành ghi lời khai của cháu Nguyễn Thị Tuyết N và cháu Nguyễn Sỹ A Q, cả 02 cháu đều trình bày hiện 02 cháu đang ở với bố, nếu bố mẹ các cháu không ở với nhau nữa thì các cháu đều có nguyện vọng ở với bố.
Tại phiên toà: Nguyên đơn anh B có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn chị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do chính đáng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án là đảm bảo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh B, anh Nguyễn Sỹ B được ly hôn chị Nguyễn Thị H. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày 13/6/2014 và cháu Nguyễn Sỹ Anh Q, sinh ngày 13/11/2009 cho anh B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, công nợ: không đặt ra giải quyết. Về án phí: Anh B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn xin ly hôn, anh Nguyễn Sỹ B đề nghị Tòa án xem xét cho chị được ly hôn với chị Nguyễn Thị H và có nguyện vọng xin nuôi của 02 con chung. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Về thẩm quyền giải quyết: Theo đơn xin ly hôn của anh Nguyễn Sỹ B thì bị đơn là chị Nguyễn Thị H có hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh và hiện đang cư trú, làm việc tại Nhật Bản. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37, Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Việc tham gia tố tụng của các đương sự: Bị đơn chị Nguyễn Thị H trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã 02 lần làm việc, yêu cầu anh T là anh ruột chị H cung cấp địa chỉ cụ thể ở nước ngoài của chị H nhưng đều không cung cấp mặc dù chị H thường xuyên liên lạc về cho anh T và gia đình, do đó chị H thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ, đầy đủ các văn bản tố tụng.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Sỹ B và chị Nguyễn Thị H kết hôn ngày 02/01/2009, tại thời điểm kết hôn anh B và chị H đều đủ tuổi, đủ năng lực, đủ điều kiện kết hôn theo luật định và đã đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa anh B và chị H là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, theo anh B trình bày vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, không tìm được tiếng nói chung, từ năm 2023 chị H đi nước ngoài, vợ chồng không còn nói chuyện riêng với nhau. Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng anh B, chị H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu xin ly hôn của anh B là có căn cứ, cần chấp nhận, xử cho anh Nguyễn Sỹ B được ly hôn chị Nguyễn Thị H.
[2.2]. Về con chung: Anh B trình bày, vợ chồng anh có 02 con chung là cháu cháu Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày 13/6/2014 và cháu Nguyễn Sỹ Anh Q, sinh ngày 13/11/2009, cả 02 cháu đều đang ở với anh B. Anh B có nguyện vọng nuôi cả 02 con chung, cháu N và cháu Q đều có nguyện vọng ở với bố, mặt khác hiện nay chị H vẫn đang ở nước ngoài, do vậy để đảm bảo sự phát triển ổn định của các cháu cần giao 02 con chung cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Vấn đề cấp dưỡng anh B không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
[2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung: Anh B trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí: Anh Nguyễn Sỹ B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 37, 38, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Sỹ B: Anh Nguyễn Sỹ B được ly hôn chị Nguyễn Thị H.
- Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Tuyết N, sinh ngày 13/6/2014 và cháu Nguyễn Sỹ Anh Q, sinh ngày 13/11/2009 cho anh Nguyễn Sỹ B chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Nguyễn Thị H được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Vấn đề cấp dưỡng: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Anh Nguyễn Sỹ B phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh B đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng số 0000121 ngày 07/3/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Ngô Bá Tiến Nguyễn Thị Bẩy | Nguyễn Hữu Minh |
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Minh |
Bản án số 46/2024/HNGĐ-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 46/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh B xin ly hôn chị H
