Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 46/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 28-5-2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Nhựt.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Huỳnh Thị Hồng Nho;
  2. Bà Phạm Thùy Trang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Tấn Bửu - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Thịnh – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 76/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1996; Cư trú: Tổ 08, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. (có mặt)
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1990; Địa chỉ: Tổ D, ấp P, xã L, thị xã T, tỉnh An Giang. (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà và ông Nguyễn Thành L do mai mối, được gia đình đồng ý nên tiến đến hôn nhân, chung sống từ năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thị xã T, tỉnh An Giang. Thời gian chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là không hòa hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, ông L có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, bỏ mặc vợ con không quan tâm, do đó thường xuyên cự cải với nhau, bà N khuyên nhiều lần nhưng ông L không thay đổi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên cả hai không còn chung sống với nhau từ 2020 đến nay. Tình cảm vợ chồng không còn bà N yêu cầu xin được ly hôn với ông Nguyễn Thành L.

- Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 12/10/2015 và Nguyễn Gia H1, sinh ngày 04/5/2018. Cháu Gia H hiện đang sống với ông L, cháu Gia H1 hiện đang sống với bà N. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Gia H1, đồng ý để ông L nuôi cháu Nguyễn Ngọc Gia H. Bà không cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu ông L phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác cho ông Nguyễn Thành L nhưng ông L vắng mặt, không có văn bản ý kiến về nội dung yêu cầu khởi kiện, vụ án không tiến hành hòa giải được.

Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để hàn gắn tình cảm nhưng bà N không đồng ý đoàn tụ chung sống.

Tại phiên tòa, bà N vẫn giữ yêu cầu xin được ly hôn ông Nguyễn Thành L, yêu được nuôi cháu Nguyễn Gia H1, giao cháu Nguyễn Ngọc Gia H để ông L nuôi. Bà N không cấp dưỡng, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con; không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Ông Nguyễn Thành L được triệu tập đến phiên tòa nhưng vắng mặt và có đơn xin Tòa án xét xử vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực đúng hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý cho đến khi giải quyết vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ giai đoạn thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị N đối với ông Nguyễn Thành L; giao con chung tên Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 12/10/2015 cho ông L nuôi dạy; bà Nguyễn Thị N được nuôi dạy cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 04/5/2018. Bà N, ông L không phải cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Nguyễn Thị N khởi kiện xin được ly hôn với ông Nguyễn Thành L có nơi cư trú tại ấp P, xã L, thị xã T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, ông Nguyễn Thành L được triệu tập đến phiên tòa nhưng vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Thành L theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Thành L do tự tìm hiểu, chung sống với nhau từ năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, thị xã T, tỉnh An Giang nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Thời gian chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là không hòa hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi nên không hạnh phúc, ông L có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, cả hai không còn chung sống với nhau từ đó cho đến nay. Gia đình đã hàn gắn tình cảm nhưng cả hai không chấp nhận chung sống lại với nhau.

Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, xác minh tại địa phương, người thân xác định nguyên nhân mâu thuẫn đúng như lời bà Nguyễn Thị N trình bày.

Từ đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng bà N, ông L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến giải quyết vụ án của Kiểm sát viên là có căn cứ chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 12/10/2015 và Nguyễn Gia H1, sinh ngày 04/5/2018.

Xét thấy từ khi bà N, ông L không chung sống với nhau thì bà N trực tiếp nuôi dạy, chăm sóc, giáo dục cháu H1, ông L nuôi dạy cháu H và cháu có nguyện vọng sống với ông L sau khi cha mẹ ly hôn. Xét thấy cần thiết tiếp tục giao cháu H1 cho bà N, giao cháu H cho ông L tiếp tục nuôi dạy sau khi ly hôn là phù hợp, đảm bảo sự phát triển bình thường các cháu.

Công nhận sự tự nguyện của bà N, ông L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[3] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 271, Điều 273; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2005; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • - Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N được ly hôn ông Nguyễn Thành L.
  • - Về con chung: Bà N được nuôi cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 04/5/2018. Ông Nguyễn Thành L được nuôi cháu Nguyễn Ngọc Gia H, sinh ngày 12/10/2015.
  • Công nhận sự tự nguyện của bà N, ông L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
  • Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
  • Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
  • - Về án phí: Bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007740 ngày 12/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu (bà N đã nộp đủ).
  • Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  • - Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị N có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 28/5/2024) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Ông Nguyễn Thành L có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND Tx.Tân Châu;
  • - Chi cục THADS Tx.Tân Châu;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - UBND xã đăng ký kết hôn;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Minh Nhựt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HNGĐ-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 46/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị N ly hôn Nguyễn Thành L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger