|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2024/HS-ST
Ngày 28-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Chang.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Trung;
Bà Lê Thị Phương Dung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phúc Vĩnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nương - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Long H, sinh ngày 04 tháng 9 năm 1990 tại Tiền Giang. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nơi ở hiện tại: Đường D, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1970; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị N, sinh năm 1989 và có 02 người con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2021; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Về nhân thân: Ngày 24/11/2023 bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 08 (tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm tại Bản án số 234/2023/HS-ST.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Thu S, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 08/9/2023, Trần Long H một mình điều khiển xe mô tô biển số 63B1-743.54 đi từ khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương đến địa bàn xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương để đi tìm việc làm. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo H vào quán ăn Thu S, địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương do bà Nguyễn Thị Thu S làm chủ để ăn trưa. Sau khi ăn xong, bị cáo H đi ra trả tiền thì nhìn thấy một chiếc điện thoại di động hiệu Realme, màu xanh của bà S đang cắm điện sạc pin trên bàn thiên nên bị cáo H nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại của bà S. Để thực hiện hành vi của mình, bị cáo H nói bà S làm cho H hai ly nước mía, mục đích để bà S chú ý làm nước mía, không để ý đến H, lợi dụng lúc bà S không để ý, H dùng tay phải lấy điện thoại ra khỏi cục sạc pin, bỏ điện thoại vào trong túi quần bên phải H đang mặc rồi ra gặp bà S tính tiền. Sau đó, bị cáo H lên xe mô tô biển số 63B1-743.54 tẩu thoát về hướng T, tỉnh Bình Dương. Lúc này, bà S kiểm tra phát hiện mất điện thoại nên đã trình báo Công an xã P. Nhận được tin báo của chị S, Công an xã P tổ chức lực lượng chốt chặn, khoảng 13 giờ cùng ngày, Công an xã P phát hiện H đang điều khiển xe mô tô đến khu vực ấp B, xã P, huyện P nên yêu cầu H dừng xe kiểm tra phát hiện trong người H đang cất giấu điện thoại H trộm được của bà S và lập biên bản quả tang hành vi của H, đồng thời thu giữ tang vật và đưa H về trụ sở để làm việc, H thừa nhận về hành vi phạm tội của mình. Công an xã P chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P thụ lý theo thẩm quyền.
Bản kết luận định giá tài sản số 60/KL-HĐĐGTS ngày 19/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme C35 trị giá 2.500.000 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh.
- 01 (một) xe mô tô biển số 63B1-743.54, nhãn hiệu Janus, màu đỏ, số máy E3X8E046610, số khung RLCSEC810HY046613.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Thu S đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.
Tại Cáo trạng số 12/CT-VKSPG ngày 04 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Long H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương thực hành quyền công tố vẫn nguyên quyết định truy tố của Cáo trạng và nêu quan điểm: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Đồng thời, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Trần Long H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Trần Long H mức án từ 09 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù. Không đề nghị tổng hợp hình phạt tại Bản án số 234/2023/HS-ST ngày 24/11/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, do không thuộc trường hợp tổng hợp hình phạt theo hướng dẫn tại
Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo nên không đề nghị tổng hợp hình phạt đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng, đề nghị HĐXX tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô biển số 63B1-743.54, nhãn hiệu Janus, màu đỏ, số máy E3X8E046610, số khung RLCSEC810HY046613 là xe của bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội.Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì về dân sự nên Viện kiểm sát không đặt ra xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính, đang nuôi 02 con nhỏ xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo nói lời nói sau cùng, bị cáo xin lỗi bị hại, xin lỗi gia đình, bị cáo hối hận về hành vi của mình, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến, khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H đã thừa nhận: Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 08/9/2023, tại quán ăn T1 thuộc tổ A, ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương, Trần Long H có hành vi lén lút trộm cắp 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh của bà Nguyễn Thị Thu S để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Bị hại phát hiện bị mất trộm tài sản nên gọi điện báo công an xã P. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, trên đường bị cáo H đi về T thì bị Công an xã P, huyện P phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Trần Long H đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết việc lén lút trộm cắp tài sản thuộc sở hữu của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Tài sản bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme C35, theo Bản kết luận định giá tài sản số 60/KL-HĐĐGTS ngày 19/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự kết luận trị giá 2.500.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Cáo trạng số 12/CT-VKSPG ngày 04 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Long H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[5] Tội phạm do bị cáo thực hiện không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội
của bị cáo để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Khi quyết định hình phạt, HĐXX cũng xem xét áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo để quyết định một mức hình phạt phù hợp.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 31/5/2023 tại thị xã B, tỉnh Bình Dương, bị cáo chưa bị xét xử về hành vi phạm tội, trong thời gian tại ngoại lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại huyện P, tỉnh Bình Dương vào ngày 08/9/2023 và bị bắt quả tang. Ngày 24/11/2023, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã xét xử bị cáo về tội trộm cắp tài sản (thực hiện ngày 31/5/2023), xử phạt bị cáo 08 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng kể từ tuyên án sơ thẩm. Do hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện ngày 08/9/2023 trong vụ án này không thuộc trường hợp hướng dẫn theo Điều 7 của Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo nên HĐXX không tổng hợp hình phạt.
[7] Tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương về tội danh và hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên HĐXX chấp nhận.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì nên HĐXX không đặt ra xem xét.
[9] Về xử lý vật chứng của vụ án:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại cho bị hại, bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì nên HĐXX không đặt ra xem xét.
- 01 (một) xe mô tô biển số 63B1-743.54, nhãn hiệu Janus, màu đỏ, số máy E3X8E046610, số khung RLCSEC810HY046613 là xe của bị cáo H, bị cáo sử dụng xe là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Long H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Long H 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô biển số 63B1-743.54, nhãn hiệu Janus, màu đỏ, số máy E3X8E046610, số khung RLCSEC810HY046613 (không kiểm tra máy bên trong) của bị cáo.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Long H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Thị Chang |
Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 46/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Long H phạm tội trộm cắp tài sản
