TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC ---------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 46/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26-7-2024.
V/v: “Tranh chấp về ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Ngô Ngọc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Được, bà Đinh Thị Lương Oanh.
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Hường – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 62/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024, về việc “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2024/QÐST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Tô Văn H, sinh năm: 1970; Địa chỉ nơi cư trú: Ấp A, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (vắng mặt, có đơn xin vắng).
Bị đơn: Bà Trần Thị Tuyết N, sinh năm: 1970; Địa chỉ nơi cư trú: Ấp A, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 25 tháng 3 năm 2024, các bản lời khai nguyên đơn ông Tô Văn H trình bày:
Ông H và bà Trần Thị Tuyết N tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã Đ, tỉnh Bình Phước. Vợ chồng ông H chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh rất nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Ông H và bà N đã ly thân từ năm 2018. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Trần Thị Tuyết N.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Trần Thị Tuyết N vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên không có lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Vụ án không có vi phạm về thủ tục tố tụng.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Mâu thuẫn giữa ông H và bà N là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Trần Thị Tuyết N. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà N có địa chỉ nơi cư trú tại Ấp A, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, căn cứ khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài thụ lý, giải quyết là có căn cứ và đúng thẩm quyền.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt ông H, bà N. Ông H đã có đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt hợp lệ. Bà N vắng mặt không có lý do. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử... Tuy nhiên, bà N vẫn không đến Tòa án để làm việc và không tham gia phiên tòa. Việc bà N vắng mặt tại phiên tòa là tự mình từ bỏ quyền lợi của mình nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[3] Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông H và bà N tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã Đ, tỉnh Bình Phước, theo giấy chứng nhận kết hôn số: 88, ngày 29 tháng 10 năm 2010. Căn cứ vào Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình thì hôn nhân của ông H và bà N là hợp pháp. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của ông H là có căn cứ.
Xét tình trạng hôn nhân của ông H và bà N: Trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông H đều yêu cầu được ly hôn với bà Trần Thị Tuyết N vì mâu thuẫn vợ chồng rất trầm trọng, hai vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 17 tháng 7 năm 2024, Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Đ cũng xác định tình trạng hôn nhân của ông H, bà N là trầm trọng, vợ chồng đã ly thân, không còn chung sống với nhau. Xét thấy, hôn nhân được xây dựng trên sự tự nguyện yêu thương, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau nhưng vợ chồng ông H không còn yêu thương, chăm sóc nhau. Hơn nữa, Tòa án đã tiến hành hòa giải để hai người có cơ hội quay lại đoàn tụ với nhau nhưng không thành. Từ những căn cứ trên có thể khẳng định tình trạng hôn nhân của ông H và bà N là rất trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông H, cho ông H được ly hôn với bà N.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông H và bà N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài về nội dung vụ án là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là: 300.000 đồng.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 48, 227, 228, 147, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016 /UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tô Văn H về việc “Ly hôn”. Ông Tô Văn H được ly hôn với bà Trần Thị Tuyết N (Đã đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số: 88, do Ủy ban nhân dân xã T, thị xã Đ, tỉnh Bình Phước cấp ngày 29 tháng 10 năm 2010).
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông H, bà N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Tô Văn H phải chịu là: 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là: 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà ông H đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0001146 ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài. Ông Tô Văn H đã nộp đủ án phí.
- Quyền kháng cáo: Ông Tô Văn H, bà Trần Thị Tuyết N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Ngọc Linh |
Bản án số 46/2024/HNGĐ-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 46/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hôn nhân gia đình
