Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẬU LỘC

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/DS-ST

Ngày: 26/7/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC - TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Tuyển

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Cường

2. Ông Vũ Đức Lâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê - Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Cầm - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 11/2024/ TLST- DS ngày 13 tháng 03 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/ QĐXXST - DS ngày 31 tháng 5 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 09/2024/ QĐST - DS ngày 14/6/2024, quyết định tạm ngừng phiên tòa số 03/2024/QĐST-DS ngày 28/6/2024 giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q

Địa chỉ: Tầng A (tầng trệt) và tầng 2 Tòa nhà S, số A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên hệ: Tầng A, Tòa nhà C, số D T, P. T, Q. Đ, TP Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V - Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hải Đ - Chức vụ: Giám đốc xử lý nợ ngoại bảng - Trung tâm quản lý nợ Ngân hàng B - Khối Ngân hàng bán lẻ - VIB theo Giấy ủy quyền số: 183807.23 ngày 08/11/2023 của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Q.

Người được ủy quyền lại: Ông Hoàng Đức M - Chuyên viên xử lý nợ ngoại bảng trung tâm quản lý nợ KHCN2

Địa chỉ: Số F B, P.Đông Hương, TP ., tỉnh Thanh Hóa (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1972.

Ông Ngô Văn C, sinh năm 1967.

Cùng địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Đỗ Văn L1 - sinh năm 1985

Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

(Anh L1 đã xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08/12/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Ngày 10/11/2017, bà Nguyễn Thị L và ông Ngô Văn C và Ngân hàng TMCP Q đã ký hợp đồng tín dụng số 418CN759HĐTD; giải ngân theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 418CN759KUNN ngày 14/11/2017 với nội dung cụ thể như sau: Hạn mức vay 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng). Thời gian duy trì hạn mức là 60 tháng kể từ ngày 15/11/2017 đến ngày 14/11/2022. Mục đích vay tiền của ông C bà L là sữa chữa nhà bao gồm mua sắm vật dụng gia đình. Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 9.29%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản vay. Hết thời hạn ưu đãi lãi suất được điều chỉnh lại 03 tháng/lần bằng lãi suất cơ sở do Ngân hàng công bố tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 4,19%/năm; Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; Lãi chậm trả lãi: 10%/năm. Ngoài ra hợp đồng còn có quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của các bên.

Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng số 418CN759HĐTD HĐTD ngày 10/11/2017, bà Nguyễn Thị L và ông Ngô Văn C đã dùng các tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo cho khoản vay cụ thể hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất: Quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị L và ông Ngô Văn C, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản gắn liền với đất số CM 185717 do UBND huyện H cấp ngày 07/11/2017, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: GCN: CH00125. Quyền sử dụng đất: Thửa 32, tờ bản đồ số 05, diện tích 149m² (một trăm bốn mươi chín mét vuông) hình thức sử dụng: riêng 149m². Mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn: 149m², thời hạn đất ở lâu dài. Vị trí thửa đất ở thôn H, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 418CN759HĐTC, số công chứng: 9426, quyển số: 04/2017.TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, tỉnh Thanh Hóa công chứng ngày 10/11/2017 và Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số: 418CN759HĐTCSP ngày 10/11/2017. Việc thế chấp tài sản của bà L, ông C là tự nguyện, hợp đồng thế chấp được chứng thực, đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.

Sau khi ký kết, Ngân hàng đã thực hiện giải ngân cho bà Nguyễn Thị L và ông Ngô Văn C đúng theo thỏa thuận tại các HĐTD. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị L và ông Ngô Văn C không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ dẫn đến khoản vay bị phát sinh nợ quá hạn kể từ ngày 19/05/2020. Số tiền bà L, ông C đã trả cho Ngân hàng là 78.867.599đ trong đó gốc đã trả: 55.014.442đ; lãi đã trả: 23.772.078đ; lãi quá hạn đã trả: 81.079₫.

Kể từ khi khoản vay bị chuyển nợ quá hạn, Ngân hàng đã nhiều lần làm việc và tạo điều kiện cho bà Nguyễn Thị L và ông Ngô Văn C thực hiện nghĩa vụ trả nợ, tuy nhiên bà Nguyễn Thị L và ông Ngô Văn C vẫn không thực hiện.

Tạm tính đến ngày 08/12/2023bà Nguyễn Thị L và ông Ngô Văn C còn nợ Ngân hàng TMCP Q số tiền là: 492.465.270 đồng (Bốn trăm chín mươi hai triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn hai trăm bảy mươi đồng), trong đó:

Nợ gốc: 244.985.558 đồng

Nợ lãi trong hạn: 65.690.762 đồng

Nợ lãi quá hạn: 181.788.950 đồng

Vì vậy, tại phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền lại của ngân hàng V1 có đơn xin xét xử vắng mặt vẫn giữ nguyên quan điểm. Đề nghị Tòa án buộc bà L, ông C có nghĩa vụ phải trả cho V1 số tiền gốc và lãi tính đến ngày xét xử ngày 26/7/2024. Số tiền mà bà L ông C đã trả cho Ngân hàng tính đến ngày 26/7/2024 là 78.867.599đ trong đó gốc đã trả: 55.014.442đ; lãi đã trả: 23.772.078đ; lãi quá hạn đã trả: 81.079đ. Số tiền bà L, ông C còn nợ đến ngày xét xử 26/7/2024 là 532.498.235₫, trong đó: nợ gốc: 244.985.558đ; nợ lãi là 65.690.762; nợ lãi quá hạn là 221.821.915đ. Buộc bà L, ông C phải trả số tiền này cho VIB và tiễn lãi phát sinh cho đến khi kết thúc thi hành án.

Trong trường hợp bà Nguyễn Thị L và ông Ngô Văn C không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng TMCP Q có quyền được tự phát mại tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm, cụ thể là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 32, tờ bản đồ số: 05, địa chỉ: Xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, diện tích 149m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 185717, số vào sổ cấp GCN: CH00125 do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 07/11/2017 mang tên ông Ngô Văn C và bà Nguyễn Thị L. Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 418CN759HĐTC, số công chứng: 9426, quyển số: 04/2017.TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, tỉnh Thanh Hóa công chứng ngày 10/11/2017 và Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số: 418CN759HĐTCSP ngày 10/11/2017

Theo đơn đề nghị xem xét thẩm định tại chỗ của nguyên đơn đối với các tài sản mà bà L, ông C đã thế chấp tại ngân hàng ngày 10/11/2017, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định thì: Toàn bộ tài sản của bà L, ông C thế chấp ở ngân hàng là quyền sử dụng đất, diện tích 149m², khuôn viên hình thể, tứ cận tiếp giáp còn nguyên vẹn.Tài sản gắn liền với đất: 01 nhà cấp 4, 02 tầng, diện tích sàn và diện tích xây dựng còn nguyên vẹn như thời điểm thế chấp. Tài sản phát sinh: năm 2018, người thân của ông C, bà L (anh Đỗ Văn L1) có làm thêm 01 mái tôn trên nóc tầng 2 diện tích 42m² và bắn tôn khu vực sân trước nhà diện tích 48m², nền sân lát gạch bát đỏ khích thước 30x30cm.

Đối với bị đơn: Qua xác minh tại địa phương bà L, ông C không có mặt, theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án đã làm thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với bà L, ông C, đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng bà L và ông C vẫn không có mặt để giải quyết vụ án.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Theo biên bản ghi lời khai ngày 08/7/2024 anh Đỗ Văn L1 trình bày: Do ông C, bà lập đi vắng nên năm 2018 anh có làm thêm 01 mái tôn trên nóc tầng 2 diện tích 42m² và bắn tôn khu vực sân trước nhà diện tích 48m², nền sân lát gạch bát đỏ khích thước 30x30cm. Các tài sản trên là do anh L1 tự làm không liên quan gì đến tài sản thế chấp nên anh L1 sẽ tự tháo gỡ và sẽ thông báo cho ngân hàng V1 và chính quyền địa phương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 180, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 117, Điều 275, Điều 292, Điều 295, Điều 299, Điều 317, Điều 318 và Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Khoản 1, 4 Điều 8 Nghị Quyết số 01/2019 Nghị Quyết của Hội đồng Thẩm phán Tóa án nhân dân tối cao.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q.

Buộc bà Nguyễn Thị L và ông Ngô Văn C phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q đến ngày xét xử tổng số là 532.498.235đ. Trong đó nợ gốc quá hạn là là 244.985.558đ; nợ lãi trong hạn là 65.690.762đ; nợ lãi quá hạn là 221.821.915đ.

Trường hợp ông C, bà L không thanh toán khoản nợ trên cho Ngân hàng thì sẽ tiến hành xử lý tài sản theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 418CN759HĐTC, số công chứng: 9426, quyển số: 04/2017.TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, tỉnh Thanh Hóa công chứng ngày 10/11/2017 và Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số: 418CN759HĐTCSP ngày 10/11/2017. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo không đủ để trả nợ thì Ngân hàng Q có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục xử lý tài sản có liên quan của ông C, bà L để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Ông C, bà L còn phải chịu tiền lãi trên nợ gốc bắt đầu kể từ ngày 27/7/2024 cho đến khi trả hết nợ.

Về án phí: Ông C, bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với phần tài sản anh L1 làm thêm trên phần tài sản không liên quan đến tài sản được thế chấp tại Ngân hàng của ông C và bà L nên anh L1 có quyền được tháo gỡ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của các đương sự tại phiên tòa HDXX nhận định:

[1]. Về tố tụng: Ngân hàng TMCP Q VIB có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa V1 và ông Ngô Văn C, bà Nguyễn Thị L. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; diểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã về tại gia đình để tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho ông C và bà L về việc ngân hàng yêu cầu ông C, bà L phải trả số tiền vay con nợ lại nhưng ông C, bà L không có mặt ở nhà nên Tòa án đã niêm yết thủ tục tại địa phương. Quá trình Tòa án tiến hành hòa giải ông C, bà L vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được, không thống nhất được hướng giải quyết vụ án. Tòa án đã thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định và đăng trên B1 các số: 5013, 25014, 25016 vào các ngày 04,05,06/5/2024; phát trên VOV2 vào lúc 17 giờ 30 phút vào các ngày 07, 08, 09/5/2024. Ngày 14/06/2024, Tòa án đưa vụ án ra xét xử lần thứ nhất ông C, bà L vắng mặt không có lý do nên phải hoãn phiên tòa theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 227. Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt nguyên đơn (có đơn xin xét xử vắng mặt) và vắng mặt ông C, bà L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Văn L1 (anh L1 đề nghị xét xử vắng mặt) nên HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]Về nội dung: Ngân hàng TMCP Q ký kết với ông C, bà L hợp đồng tín dụng (cho vay tiêu dùng) số: 418CN759HĐTD ngày 10/11/2017 các bên ký kết hoàn toàn tự nguyện, không khiếu nại nội dung của hợp đồng, vì vậy, hợp đồng nêu trên có giá trị pháp lý buộc các bên phải thi hành, hết thời hạn bên vay không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ là vi phạm hợp đồng đã ký.

[3] Về lãi suất: Lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng hợp đồng tín dụng là 9,29%/năm, lãi suất này là ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản vay. Hết thời gian ưu đãi, lãi suất được điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở cộng biện độ 4,19%/năm; lãi suất quá hạn: 150%/ lãi suất trong hạn; lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm; phương thức hoàn trả khoản vay gốc: Hàng tháng; phương thức trả phí: theo quy định tại biểu phí của V1 từng thời kỳ.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự và khoản 2 Điều 91 luật các tổ chức tín dụng quy định thì thỏa thuận về lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn giữa các bên là phù hợp, V1 yêu cầu bên vay (ông C, bà L) trả các khoản lãi từ ngày bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ lãi đến ngày xét xử sơ thẩm là có căn cứ được chấp nhận.

[4] Trên cơ sở của HĐTD : Tính đến ngày 26/7/2024, ông C, bà L còn nợ Ngân hàng số tiền cả gốc và lãi là 532.498.235đ. Trong đó nợ gốc là 244.985.558đ; nợ lãi trong hạn là 65.690.762đ; nợ lãi quá hạn là 221.821.915đ. Do bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên bên cho vay khởi kiện yêu cầu bên vay phải trả nợ là có căn cứ, phù hợp Điều 466 Bộ luật dân sự và Điều 95 luật các tổ chức tín dụng nên được chấp nhận. Kể từ ngày 27/7/2024 bên vay còn phải chịu lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn theo hợp đồng tín dụng (cho vay tiêu dùng) số: 418CN759HĐTD ngày 10/11/2017 mà hai bên đã ký kết.

[5] Tài sản thế chấp: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 418CN759HĐTC ngày 10/11/2017 và HĐ thế chấp tài sản gắn liền với đất số: 418CN759HĐTCSP ngày 10/11/2017. Việc thế chấp tài sản của ông C, bà L, nội dung HĐ các bên không có tranh chấp, Hợp đồng thế chấp được công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Do bên thế chấp tài sản vi phạm nghĩa vụ trả nợ, theo quy định tại điều 299 Bộ luật dân sự bên nhận thế chấp có quyền xử lý các tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.

Theo đơn đề nghị xem xét thẩm định tại chỗ của nguyên đơn đối với tài sản mà bà L, ông C đã thế chấp tại ngân hàng V1 ngày 10/11/2017. Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ thì toàn bộ tài sản ông C, bà L đã thế chấp ở ngân hàng thì: Toàn bộ quyền sử dụng đất, diện tích 149m², khuôn viên hình thể, tứ cận tiếp giáp còn nguyên vẹn. Tài sản gắn liền với đất: 01 nhà cấp 4, 02 tầng, diện tích sàn và diện tích xây dựng còn nguyên vẹn như thời điểm thế chấp. Tài sản phát sinh: năm 2018, người thân của ông C, bà L (anh Đỗ Văn L1) có làm thêm 01 mái tôn trên nóc tầng 2 diện tích 42m² và bắn tôn khu vực sân trước nhà diện tích 48m², nền sân lát gạch bát đỏ khích thước 30x30cm. HĐXX ghi nhận ý kiến của anh L1: Do tài sản anh tự làm nên nếu phải xử lý tài sản thế chấp thị anh L1 tự tháo gỡ và sẽ thông báo với ngân hàng V1 hoặc chính quyền địa phương.

[6]Về nghĩa vụ chậm thi hành án: HĐXX xét thấy tính chất, các tình tiết, sự kiện pháp lý trong vụ án này tương tự như các tình tiết, sự kiện pháp lý trong án lệ số 08/2016/AL. Vì vậy, cần áp dụng án lệ số 08/2016/AL để xác định nghĩa vụ chậm thi hành án.

[7]Về án phí: Do bà L, ông C phải trả toàn bộ số tiền mà ngân hàng V1 yêu cầu nên phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật. Ngân hàng V1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 2 điều 117, Điều 292, Điều 299; Điều 463; Điều 466; Điều 468 BLDS; khoản 2 Điều 91; Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng; Án lệ số 08/2016/AL; khoản 3 điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39;khoản 1 Điều 147; Điều 180; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 BLTTDS; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức án phí lệ phí tòa án. Xử:

1: Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V1): Buộc ông Ngô Văn C và bà Nguyễn Thị L phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (V1) theo hợp đồng tín dụng số: 418CN759HĐTD ngày 10/11/2017, tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 26/7/2024 là 532.498.235₫ Trong đó nợ gốc quá hạn là 244.985.558đ; nợ lãi trong hạn là 65.690.762; nợ lãi quá hạn là 221.821.915₫

Kể từ ngày tiếp theo của ngày ra bản án, ông C, bà L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc quá hạn chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc quá hạn. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất của ông C, bà L phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.

2: Xử lý tài sản bảo đảm: Trường hợp ông C, bà L không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì VIB có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên xử lý toàn bộ tài sản thế chấp để đảm bảo thi hành án là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 32, tờ bản đồ số: 05, địa chỉ: Xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, diện tích 149m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CM 185717, số vào sổ cấp GCN: CH00125 do Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 07/11/2017 mang tên ông Ngô Văn C và bà Nguyễn Thị L. Tài sản gắn liền với đất 01 (không một) nhà cấp 4, 02 tầng, diện tích xây dựng 80m², diện tích sàn 130m²; kết cấu: tường xây gạch, khung cột bê tông chịu lực, mái bê tông cốt thép. Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 418CN759HĐTC, số công chứng: 9426, quyển số: 04/2017.TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, tỉnh Thanh Hóa công chứng ngày 10/11/2017 và Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số: 418CN759HĐTCSP ngày 10/11/2017

Trường hợp phát mại tài sản bảo đảm không đủ để thanh thoán nợ, thì ông C, bà L có trách nhiệm tiếp tục thực hiện việc trả các khoản tiền nợ gốc quá hạn và lãi phát sinh cho đến khi hoàn tất xong các khoản nợ cho ngân hàng V1.

- Anh Đỗ Văn L1 tự tháo gỡ 01 mái tôn trên nóc tầng 2 diện tích 42m² và bắn tôn khu vực sân trước nhà diện tích 48m², nền sân lát gạch bát đỏ kích thước 30x30cm.

3. Về án phí: Ông Ngô Văn C và bà Nguyễn Thị L phải chịu 25.299.929₫ (Hai mươi lăm triệu hai trăm chín mươi chín nghìn chín trăm hai mươi chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền đã nộp tạm ứng án phí là: 11.850.000đ (Mười một triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003206 ngày 12 tháng 03 năm 2024 của chi cục thi hành án Dân sự huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

T.M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nơi nhận:

- VKSND huyện Hậu Lộc;

- Các đương sự;

- Phòng GĐ-KT Tòa án tỉnh;

- Chi cục THADS huyện Hậu Lộc ;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Tạ Văn Tuyển

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/DS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC - TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 46/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC - TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger