|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2024/HSST Ngày: 26/4/2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Xuân Huy.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Oanh và bà Nguyễn Thị Thu Thảo;
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Võ Đức Vũ Tài – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hữu – Kiểm sát viên.
Vào ngày 26 tháng 4 năm 2024; tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thành Đ; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh năm 1985; Nơi sinh: tỉnh Phú Yên. Nơi thường trú: Khu phố C, Phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Chỗ ở: F N, Phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12. Họ và tên cha: Nguyễn Đình T, sinh năm 1958. Họ và tên mẹ Nguyễn Thị H, sinh năm 1964. Có 01 em; Vợ: Đào Thị Bích L, sinh năm 1987 (đã ly hôn). Có 02 con: sinh năm 2009 và sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 22/8/2023. Có mặt.
- Nguyễn Đồng H1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh năm 1998; Nơi sinh: tỉnh Phú Yên. Nơi thường trú: Thôn P, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Chỗ ở: Thôn C, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12. Họ và tên cha: Nguyễn Đồng T1, sinh năm 1971. Họ và tên mẹ: Lê Thị T2, sinh năm 1971. Có 01 chị, 01 em; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 14/02/2023. Có mặt.
- Lê Kỳ C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh năm 1995; Nơi sinh: tỉnh Phú Yên. Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Hớt tóc; Trình độ học vấn: 09/12. Họ và tên cha: Lê Văn K, sinh năm 1968. Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Thanh H2, sinh năm 1969. Có 01 chị; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 14/12/2023. Có mặt.
- Nguyễn Toàn Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh năm 2002; Nơi sinh: tỉnh Phú Yên. Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn L, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12. Họ và tên cha: Nguyễn Đức P, sinh năm 1977. Họ và tên mẹ: Phạm Thị Diễm L1, sinh năm 1978. Có 01 em; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 14/12/2023 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T,. Có mặt.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Bùi Phúc T3, sinh năm 1990; Nơi ĐKNKTT: Tổ H, Phường Y, Quận H, Thành phố Hà Nội; Chổ ở: Khu phố C, Phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Ông Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn P, xã B, thành phố T,, tỉnh Phú Yên.
- Bà Lê Thị Mỹ L2, sinh năm 1999; Nơi ĐKHKTT: Khu phố N, Phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Chổ ở: Khu phố P, Phường I,thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Bà Trần Lý Như Q1, sinh năm 2005; Nơi ĐKHKTT: 38/13 P, Khu phố T, Phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Chổ ở: D N, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Bà Đàm Thường N, sinh năm 2004; Địa chỉ: 3 Bà T, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Bà Võ Thị Mỹ M, sinh năm: 1999; Địa chỉ: Khu phố C, Phường P, thành phố T,, tỉnh Phú Yên.
- Những người làm chứng:
- Bà Lê Anh T4, sinh năm 2004; Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; Chổ ở: Khu phố C, Phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Ông Bùi Văn T5, sinh năm 1994; Địa chỉ: Tổ B, Khu phố N, Phường I, thành phố T, Phú Yên.
- Ông Nguyễn Ngọc H3, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn P, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Ông Nguyễn P1, sinh năm: 1979; Địa chỉ: Thôn P, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Ông Trần Văn K1, sinh năm 1995; Địa chỉ: Thôn P, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Bà Ngô Thị Tuyết T6, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn P, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Ông Đinh Hồng P2, sinh năm 1995; Địa chỉ: Khu phố L, Phường I, thành phố T, Phú Yên.
- Bà Phạm Lê Thu H4, sinh năm 1998; Địa chỉ: Tổ B, Khu phố N, Phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
- Chị Bùi Khánh N1, sinh năm 2003; Khu phố N, Phường I, thành phố T, Phú Yên.
Tất cả những người liên quan và người làm chứng đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Đầu năm 2023, Nguyễn Thành Đ thuê căn nhà số F N, phường P, thành phố T, rồi trang bị các đồ vật, dụng cụ, phương tiện gồm loa điện tử, đèn nháy, đĩa sứ, nước uống tại các phòng để cho khách thuê phòng sử dụng ma túy.
Khoảng 23 giờ ngày 13/02/2023, sau khi Nguyễn Đồng H1, Nguyễn Toàn Q, Lê Kỳ C, Hà Văn C1 và anh Nguyễn Ngọc V chơi tại quán bar S ở Phường G, thành phố T, xong, thì Q nói với H1, C, C1 và anh V “Tìm chỗ sả đồ chơi chút nữa”, nghĩa là rủ cả nhóm tìm chỗ sử dụng ma túy, tất cả đồng ý. Hội gọi điện cho Nguyễn Thành Đ hỏi thuê phòng ở số nhà F N, phường P, thành phố T, sử dụng ma túy giá 3 triệu đồng. Khi nhóm Hội đến thì Đ dẫn lên phòng ở tầng 2, trong phòng có sẵn loa, đèn, nước Cocacola, bật lửa, Được lấy đĩa sứ và thẻ nhựa mang vô phòng. Hội liên hệ mua nửa hộp ma túy khay và 2 viên thuốc lắc; C1 nói Hội gọi gái lên dìu bay, H1 nói Được gọi 4 nữ lên phục vụ dìu bay và sử dụng ma túy. Hội gọi điện rủ Lê Thị Mỹ L2 đến sử dụng ma túy. Hội đi ra ngoài rồi cầm vô phòng 02 viên thuốc lắc và bì ma túy khay để trên đĩa sứ. Hội lấy 02 viên ma túy bẻ thành 06 mảnh, Hội, Q, C1 và anh V mỗi người sử dụng 01 mảnh uống với nước C2; Cẩn lấy bì ma túy khay đổ ra đĩa sứ, lấy thẻ nhựa xào kẻ đường ma túy khay trên đĩa, dùng quẹt lửa hơ nóng đĩa ma túy khay; C1 lấy tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng đưa cho C quấn thành ống hút để hít ma túy. Chuẩn bị ma túy khay xong, Hội, C, C1, Q và anh V cùng nhau sử dụng ma túy khay, bằng cách mỗi người sử dụng ống hút hít đường ma túy khay trên đĩa sứ. Khi chị L2 vô phòng thấy đĩa sứ có ma túy, chị L2 lấy thẻ nhựa kẽ 2 đường rồi dùng ống hút hít hết 2 đường ma túy này. Sau đó, có chị Lê Anh T4, Đàm Thường N, Võ Thị Mỹ M và Trần Lý Như Q1, sinh ngày 20/12/2005 vô phòng để phục vụ dìu bay cho nhóm của H1, trong lúc dìu bay thì chị N và Q1 mỗi người sử dụng 01 mảnh thuốc lắc và dùng ống hút hít 02 đường ma túy khay.
Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 14/02/2023, khi mọi người đang sử dụng ma túy, nghe Công an đến kiểm tra, nên chị T4, Q1, M và N chạy xuống tầng trệt, còn Hội, C, Q, C1, V và L2 chạy ra khỏi phòng thì bị ngăn chặn đưa vào phòng kiểm tra phát hiện có nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Qua test nhanh, H1, C1, C, Q, V, L2, N và Q1 đều dương tính với ma túy. Kiểm tra trong phòng, cơ quan Công an thu giữ 02 bì nylon trên đĩa sứ bên trong có chất màu trắng là ma túy do nhóm Hội sử dụng còn lại, cùng đồ vật có liên quan đến việc sử dụng trái phép chất ma túy, 01 bì nylon trong nhà vệ sinh chứa tinh thể màu trắng là ma túy nhưng không xác định được của ai (Bút lục số 137, 536, 558, 593, 628, 639).
Kết luận giám định số 64/KL-KTHS ngày 22/02/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh P kết luận: Chất bột màu trắng bám dính trong đĩa sứ, chất bột màu trắng bám dính trên thẻ nhựa và chất bột màu trắng bám dính trong bì nylon là ma túy loại Ketamine, vì lượng ít nên không xác định được khối lượng; Chất bột màu trắng trong bì nylon trên đĩa sứ là ma túy loại Ketamine, có khối lượng 0,007gam và tinh thể màu trắng trong bì nylon (thu trong nhà vệ sinh) là ma túy loại Ketamine, có khối lượng 1,489gam (Bút lục 194-195).
Cáo trạng số 49/CT-VKS ngày 12/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, truy tố các bị cáo Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Đồng H1, Lê Kỳ C đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Toàn Q đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo C trình bày: Đề nghị HĐXX xem xét về truy tố bị cáo C tại điểm c khoản 2 Điều 255 BLHS, vì khi bị cáo xào kẻ ma túy khay thì chỉ xào kẻ cho các bị cáo H1, Q, C1, V, sử dụng. Sau khi sử dụng thì bị cáo phê thuốc và nằm ngủ, tại thời điểm bị cáo xào kẻ ma túy thì không có mặt L2 và 04 người nữ diều bay, bị cáo không có mục đích xào kẻ ma túy để 04 nữ diều bay sử dụng. Bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, bị cáo có 02 con còn nhỏ, cha bị cáo bị bệnh hiểm nghèo nền đề nghị HĐXX xem xét áp dụng Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo mức án khởi điểm của khung liền kề.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, luận tội: giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo; đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Đồng H1, Lê Kỳ C, Nguyễn Toàn Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng: điểm b, c khoản 2, 5 Điều 255, điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 54 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ; áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với các bị cáo H1, C; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Q; Bị cáo C áp dụng thêm khoản 2 Điều 54 BLHS.
Xử phạt:
- + Bị cáo Nguyễn Nguyễn Thành Đ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam từ ngày 22/8/2023.
- - Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thành Đ từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
- + Bị cáo Nguyễn Đồng H1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 14/02/2023.
- + Bị cáo Nguyễn Toàn Q 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 14/12/2023.
- + Bị cáo Lê Kỳ C 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù đến 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 14/12/2023.
- Về xử lý vật chứng:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 BLHS, khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 12 mini của Nguyễn Đồng H1; 02 ĐTDĐ Iphone màu đen của Nguyễn Thành Đ.
- Áp dụng khoản 2 Điều 106 BLTTHS tiêu hủy: 01 thẻ nhựa A, 01 thẻ nhựa có chữ Răng sứ; 01 thẻ nhựa có chữ HAPPY BALL, 01 thẻ sim Vietnamobile không sim, 01 thẻ nhựa có chữ CGV, 02 mảnh giấy có chữ và số; 01 loa màu trắng, 02 đèn led; 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa; 01 đĩa sứ bị vỡ và 01 thẻ nhựa có chữ GIORGIO ARMAN; 01 bật lửa màu xanh, 01 bật lửa màu đỏ, 01 bật lửa màu vàng; 01 đèn led có chữ K1+, 01 đèn led; 01 loa hiệu JBL, 01 đèn led, 01 loa; 01 vỏ lon nước yến, 04 vỏ lon cocacola, 01 chai nước suối hiệu Vikod đã sử dụng, 03 lon coca cola, 02 chai nước suối hiệu Vikod.
- Trả lại cho chủ sở hữu: 03 camera, 01 đầu ghi dữ liệu camera hiệu imou cho Nguyễn Thành Đ; 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 12 Pro Max cho Nguyễn Đồng H1; 01 ĐTDĐ hiệu Iphone màu xám, 01 ĐTDĐ hiệu Nokia màu hồng và xe mô tô 78C1-743.42 cho Nguyễn Toàn Q; 01 điện thoại Nokia màu đen cho Lê Kỳ C; 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 11 Pro màu vàng đen và 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 6 màu trắng bạc cho Hà Văn C1; 01 ĐTDĐ hiệu Iphone màu vàng cho Nguyễn Ngọc V; 01 ĐTDĐ hiệu Iphone 7 plus cho Bùi Phúc T3; 01 ĐTDĐ Iphone 14, màu tím cho Lê Thị Mỹ L2; 01 ĐTDĐ Iphone X màu đen cho Đàm Thường N; 01 ĐTDĐ Iphone màu bạc cho Võ Thị Mỹ M và 01 ĐTDĐ Vivo cho Trần Lý Như Q1;
(Tất cả vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/01/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T).
- Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T,, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa,, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Đồng H1, Lê Kỳ C, Nguyễn Toàn Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định có trong hồ sơ vụ án, phù hợp lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Vì vậy, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 14/02/2023 tại Phường P, thành phố T, Nguyễn Toàn Q có hành vi rủ Nguyễn Đồng H1, Lê Kỳ C, Nguyễn Ngọc V và Hà Văn C1 sử dụng ma túy; Nguyễn Đồng H1 có hành vi cung cấp ma túy, chuẩn bị địa điểm, chuẩn bị ma túy và rủ Lê Thị Mỹ L2 sử dụng ma túy; Lê Kỳ C có hành vi chuẩn bị ma túy và cùng với Hà Văn C1 dùng tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng quấn ống hút để sử dụng ma túy; Nguyễn Thành Đ có hành vi bố trí địa điểm để cho Q, H1, C, C1 tổ chức cho Q, Hội, C, C1, L2, Nguyễn Ngọc V, Trần Lý Như Q1 (17 tuổi 01 tháng 25 ngày) và Đàm Thường N sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, đủ cơ sở kết luận hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Đồng H1, Lê Kỳ C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Toàn Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự;
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm chính sách độc quyền quản lý nhà nước về các chất ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Mặc dù các bị cáo nhận thức được ma túy không những gây tác hại rất lớn về sức khỏe cho chính người sử dụng mà còn làm ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh đến các thế hệ sau này, là gánh nặng cho gia đình, xã hội và là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhưng vì mục đích sử dụng cho bản thân, riêng bị cáo Đ là vì mục đích thu lợi bất chính, các bị cáo Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Đồng H1, Lê Kỳ C, Nguyễn Toàn Q đã tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, hành vị phạm tội của các bị cáo cần phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Đánh giá tính chất mức độ và vai trò của từng bị cáo:
+ Trong vụ án này bị cáo Đ đóng vai trò chính, là người cho thuê địa điểm, chuẩn bị các dụng cụ sử dụng ma túy nhằm mục đích thu lợi bất chính, do đó cần xử phạt bị cáo mức án cao nhất so với các bị cáo khác.
- Các bị cáo H1, Q, C không có bàn bạc trước, không phân công nhiệm vụ cho từng bị cáo, mà cùng thực hiện nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Bị cáo H1 là người trực tiếp mua ma túy, liên hệ thuê địa điểm sử dụng ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy, do đó cần sử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương xứng vai trò của bị cáo, phạt bị cáo mức án cao hơn so với bị cáo Q, bị cáo C. Bị cáo Q là người khởi sướng việc tổ chức sử dụng ma túy nên mức hình phạt của bị cáo cao hơn bị cáo C.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Đồng H1, Lê Kỳ C và Nguyễn Toàn Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; riêng bị can Được có thành tích xuất sắc trong công tác được tỉnh đoàn P3 tặng bằng khen và có cha được tặng Huân chương Lao động hạng ba, ông bà nội, ngoại được tặng Huân chương kháng chiến các loại, cậu là liệt sĩ và bị can Q có thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự. Nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo; riêng bị cáo Đ được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và bị cáo Q được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Giảm cho các bị cáo một phần hình phạt.
Bị cáo C phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, bị cáo phạm tội với vai trò giúp sức thứ yếu nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và luật sư bào chữa cho bị cáo, áp dụng khoản 2 Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Đối với ma túy có khối lượng 1,489gam loại Ketamine thu giữ trong nhà vệ sinh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, đã khởi tố vụ án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo Điều 249 Bộ luật Hình sự, do không xác định được của ai nên đã tách vụ án để tiếp tục điều tra, xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với bị can Hà Văn C1 do không xác định được bị can đang ở đâu và đang bị truy nã, Cơ quan điều tra không thể kết thúc điều tra để xử lý trong cùng vụ án nên đã ra quyết định tách vụ án để tiếp tục truy nã đối với C1, khi nào bắt được xử lý sau.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Các bị cáo Nguyễn Đồng H1, Lê Kỳ C, Nguyễn Toàn Q không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Về vật chứng của vụ án: tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng mà các bị cáo dùng vào việc phạm tội. Tịch thu sung công quỹ nhà nước các vật chứng có giá trị sử dụng mà các bị cáo dùng vào việc phạm tội; trả lại cho các bị cáo vật chứng không sử dụng vào việc phạm tội.
[7] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
Các bị cáo Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Đồng H1, Lê Kỳ C, Nguyễn Toàn Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng:
điểm b, c khoản 2, 5 Điều 255, điểm s, v khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ;
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Đồng H1, Lê Kỳ C; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Toàn Q; Bị cáo C được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ Khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử phạt:
- + Bị cáo Nguyễn Nguyễn Thành Đ 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 22/8/2023.
- + Bị cáo Nguyễn Đồng H1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 14/02/2023.
- + Bị cáo Nguyễn Toàn Q 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 14/12/2023.
- + Bị cáo Lê Kỳ C 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 14/12/2023.
Về hình phạt bổ sung:
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thành Đ 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
Đối với các bị cáo Nguyễn Đồng H1, Lê Kỳ C, Nguyễn Toàn Q không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
Áp dụng Điều 47 BLHS, khoản 2 Điều 106 BLTTHS, để xử lý cụ thể:
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) ĐTDĐ hiệu Iphone 12 mini của Nguyễn Đồng H1; 02 (hai) ĐTDĐ Iphone màu đen của bị cáo Nguyễn Thành Đ.
- - Áp dụng khoản 2 Điều 106 BLTTHS tiêu hủy: 01 (một) thẻ nhựa A, 01 (một) thẻ nhựa có chữ Răng sứ; 01(một) thẻ nhựa có chữ HAPPY BALL, 01 (một) thẻ sim Vietnamobile không sim, 01(một) thẻ nhựa có chữ CGV, 02 (hai) mảnh giấy có chữ và số; 01(một) loa màu trắng, 02(hai) đèn led; 01 (một) đĩa sứ, 01(một) thẻ nhựa; 01 (một) đĩa sứ bị vỡ và 01 (một) thẻ nhựa có chữ GIORGIO ARMAN; 01 (một) bật lửa màu xanh, 01 (một) bật lửa màu đỏ, 01 (một) bật lửa màu vàng; 01 (một) đèn led có chữ K1+, 01 (một) đèn led; 01 (một) loa hiệu JBL, 01(một) đèn led, 01 (một) loa; 01 (một) vỏ lon nước yến, 04(bốn) vỏ lon cocacola, 01 (một) hai nước suối hiệu V1 đã sử dụng, 03 (ba) lon coca cola, 02 (hai) chai nước suối hiệu Vikod.
- - Trả lại cho chủ sở hữu: 03 (ba) camera, 01 (một) đầu ghi dữ liệu camera hiệu imou cho bị cáo Nguyễn Thành Đ; 01 (một) ĐTDĐ hiệu Iphone 12 Pro Max cho bị cáo Nguyễn Đồng H1; 01 (một) ĐTDĐ hiệu Iphone màu xám, 01 (một) ĐTDĐ hiệu Nokia màu hồng và xe mô tô 78C1-743.42 cho bị cáo Nguyễn Toàn Q; 01 (một) điện thoại Nokia màu đen cho bị cáo Lê Kỳ C; 01 (một) ĐTDĐ hiệu Iphone 11 Pro màu vàng đen và 01 (một) ĐTDĐ hiệu Iphone 6 màu trắng bạc cho Hà Văn C1; 01 (một) ĐTDĐ hiệu Iphone màu vàng cho Nguyễn Ngọc V; 01 (một) ĐTDĐ hiệu Iphone 7 plus cho Bùi Phúc T3; 01 (một) ĐTDĐ Iphone 14, màu tím cho Lê Thị Mỹ L2; 01 (một) ĐTDĐ Iphone X màu đen cho Đàm Thường N; 01 (một) ĐTDĐ Iphone màu bạc cho Võ Thị Mỹ M và 01 (một) ĐTDĐ Vivo cho Trần Lý Như Q1;
(Tất cả vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/01/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T).
Về án phí:
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Đồng H1, Lê Kỳ C, Nguyễn Toàn Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Xuân Huy |
Bản án số 46/2024/HSST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 46/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
