TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2024/HNGĐ-ST Ngày 25-9-2024 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vân Văn Kiều; Ông Đèo Văn Vĩnh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Đào Mạnh Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 139/2024/TLST-HNGĐ, ngày 25/6/2024, về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 21/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 06/9/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Tẩn Thị H, sinh năm: 1991, địa chỉ: Bản S, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Lý Chỉn Q, sinh năm: 1984, địa chỉ: Bản S, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Tẩn Thị H trình bày:
Chị Tẩn Thị H và anh Lý Chỉn Q là vợ chồng, có đăng ký kết hôn ngày 24/8/2021, tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu cấp. Chị H và anh Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Sau khi kết hôn, chị H và anh Q chung sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó thì thường phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Q thường xuyên uống rượu, đánh chửi chị H, giữa chị H, anh Q xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung. Chị H và anh Q đã sống ly thân từ cuối năm 2022, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Hiện nay, chị H không còn tình cảm với anh Q nữa, vợ chồng không còn có sự quan tâm, chia sẻ với nhau, tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh Q.
Về con chung: Chị Tẩn Thị H và anh Lý Chỉn Q không có con chung. Chị H có 01 con riêng là cháu Lý Chảo X, sinh ngày 07/4/2012, chị X tự nguyện nuôi dưỡng, chăm sóc cháu X, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Tẩn Thị H và anh Lý Chỉn Q không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Về việc giải quyết vụ án, bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì. Bị đơn không có yêu cầu phản tố. Tòa án đã thông báo phiên hòa giải nhưng tại phiên hòa giải, bị đơn vắng mặt nên vụ án không hòa giải được.
Kết quả xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ của Tòa án, xác định: Khoảng từ năm 2022 đến nay, vợ chồng anh Q, chị H thường phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Anh Q thường xuyên vắng nhà, đi đâu, làm gì không ai biết, thỉnh thoảng anh Q có về nhà bố mẹ đẻ. Theo ý kiến của bố, mẹ đẻ của anh Q cho biết anh Q biết việc chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, anh Q cũng đồng ý ly hôn với chị H nhưng anh Q bận đi làm nên không về để giải quyết.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đã đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sự thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Tẩn Thị H, xử: Về quan hệ hôn nhân: Chị Tẩn Thị H được ly hôn với anh Lý Chỉn Q. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào diễn biến phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn là chị Tẩn Thị H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa chị H và bị đơn là anh Lý Chỉn Q. Anh Q cư trú tại bản Sòn Thầu 2, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu. Vì vậy, đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Tẩn Thị H và anh Lý Chỉn Q là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện P, tỉnh Lai Châu theo đúng quy định pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị H và anh Q chung sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó thì thường phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do giữa hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không chia sẻ, thông cảm cho nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2022 đến nay. Từ khi chị H và anh Q sống ly thân, anh chị không còn có sự quan tâm, chia sẻ, yêu thương với nhau, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Hiện nay, chị H không còn tình cảm với anh Q nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q. Qua ý kiến của bố, mẹ đẻ của anh Q cho biết thì anh Q cũng nhất trí ly hôn với chị H. Tòa án đã thông báo phiên hòa giải và triệu tập các đương sự để tiến hành hòa giải nhưng tại phiên hòa giải, bị đơn vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Giữa chị H và anh Q không còn có sự quan tâm, chia sẻ, chăm sóc, yêu thương nhau, quan hệ hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, giải quyết cho chị H được ly hôn với anh Q theo quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị H và anh Q không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh Q không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273, của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Tẩn Thị H được ly hôn với anh Lý Chỉn Q.
- - Về con chung: Đương sự không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: Chị Tẩn Thị H phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0000407, ngày 25/6/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, chị H đã nộp đủ tiền án phí phải nộp.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |
Bản án số 46/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về ly hôn
- Số bản án: 46/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị H xin ly hôn
