TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2024/DS-ST Ngày 25 tháng 7 năm 2024 Về việc tranh hợp đồng dân sự vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đại Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bằng, bà Ngô Thị Lệ Thi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm My, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 270/2023/TLST-DS ngày 22 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 91/2024/QĐST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Quách Văn T, sinh năm 1936; nơi cư trú: số H, đường T, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang, có mặt.
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1992 và bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1967; cùng cư trú: số D P, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh A, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Quách Văn T trình bày:
Do được bạn giới thiệu nên ông T có cho bà M, ông H vay tiền, cụ thể: ngày 13/05/2018 ông H vay 90.000.000 đồng, ngày 06/10/2018 bà M vay 60.000.000 đồng, có lập biên nhận nợ, sau đó bà M tiếp tục vay thêm 50.000.000 đồng, tổng cộng 200.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng, không thỏa thuận thời hạn trả, khi vay bà M, ông H có đóng lãi đầy đủ và đã trả được 70.000.000 đồng thì ngưng cho đến nay. Do đó, ông T yêu cầu ông H, bà M trả vốn 130.000.000 đồng, rút lại yêu cầu đối với số tiền 20.000.000 đồng so với đơn khởi kiện và yêu cầu tính lãi từ thời điểm cuối cùng bà M, ông H ngưng trả nợ là ngày 01/06/2021 cho đến khi Tòa án xét xử xong.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn ông T cung cấp: Biên nhận ngày 13/5/2018 và ngày 06/10/2018.
Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết M, trình bày:
Khoảng tháng 10/2018, bà M có vay của ông T số tiền 60.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng (tương đương 6.000.000 đồng/tháng), mỗi tháng đều có đóng lãi cho ông T đầy đủ, đến khoảng tháng 2/2019 bà M đã trả hết số tiền 60.000.000 đồng cho ông T, trả khoảng 5 lần gồm 25.000.000 đồng, 15.000.000 đồng, 10.000.000 đồng và 16.000.000 đồng, tổng cộng đã trả 66.000.000 đồng (trong đó có tiền lãi 6.000.000 đồng), những lần trả thì ông T đến nhà bà M để lấy tiền, không có làm biên nhận.
Đối với việc ông H vay tiền của ông T thì khoảng tháng 5/2018, Nguyễn Văn H (con bà M) có vay tiền của ông T số tiền 90.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng nhưng xin đóng mỗi tháng 8.000.000 đồng, có lập biên nhận nợ, H là người nhận tiền. Sau khi vay, đều có đóng lãi đầy đủ, bà M là người đóng lãi đến ngày 25/8/2020 thì không có khả năng đóng lãi nữa nên có thỏa thuận với ông T là mỗi tháng trả vốn gốc 10.000.000 đồng, thời gian trả là vào các ngày 25/8/2020, 25/9/2020, 03/11/2020, 30/11/2020, 28/12/2020 và ngày 09/3/2021, ngoài ra còn 01 lần sau cùng không nhớ ngày, tổng cộng đã trả được 70.000.000 đồng. Do đó, ông H chỉ còn nợ của ông T số tiền 20.000.000 đồng. Nay đối với số nợ 60.000.000 đồng, bà M đã trả xong nên không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông T, đối với số tiền ông H nợ thì bà M đại diện trả thay cho ông H nhưng chỉ đồng ý trả 20.000.000 đồng còn nợ.
Tài liệu, chứng cứ do bị đơn bà M, ông H cung cấp: không.
Quá trình giải quyết vụ án, ông H không cung cấp lời khai trình bày ý kiến. Tòa án đã nhiều lần mở phiên hòa giải nhưng bà M, ông H vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn ông T xác định cho ông H vay 90.000.000 đồng, thông qua bà M đã trả được 70.000.000 đồng, còn nợ 20.000.000 đồng nên yêu cầu ông H trả vốn vay 20.000.000 đồng. Đồng thời, yêu cầu bà M trả vốn vay 60.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi đối với 02 khoản vay từ ngày 01/6/2021 cho đến khi xét xử xong, rút lại yêu cầu ông H, bà M cùng liên đới trả nợ. Đối với trình bày của ông T cho rằng bà M có vay thêm của ông T số tiền 50.000.000 đồng, ông T không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nên đề nghị không xem xét, giải quyết.
- Ý kiến của Kiểm sát viên:
- + Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định tại các Điều 195, 196, 198 và Điều 203, 208 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- + Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự chấp hành đúng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nên đảm bảo được quyền, nghĩa vụ của mình. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không lý do, thuộc trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn ông T tự nguyện rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, phù hợp quy định pháp luật nên cần đình chỉ.
- + Về giải quyết vụ án:
Theo biên nhận đề ngày 13/5/2018 thể hiện ông H có mượn tiền của ông 2 (ông T) 90.000.000 đồng, bà M xác định ông H (con bà M) có vay của ông T 90.000.000 đồng khoảng tháng 5/2018. Quá trình giải quyết vụ án, ông H được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông không tham gia, không ý kiến phản đối với yêu cầu khởi kiện của ông T. Từ đó có cơ sở xác định ông H có vay của ông T 90.000.000 đồng. Bà M cho biết có thực hiện thay ông H nghĩa vụ trả nợ cho ông T với số tiền vốn 70.000.000 đồng, ông T thống nhất đã nhận 70.000.000 đồng. Do đó, số nợ ông H còn phải trả là 20.000.000 đồng. Nên có căn cứ chấp nhận khởi kiện của ông T đối với yêu cầu ông H số tiền vốn 20.000.000 đồng và lãi suất suất từ ngày 01/6/2021 đến ngày xét xử.
Đối với việc bà M đồng ý trả thay 20.000.000 đồng cho H chưa đảm bảo quy định về chuyển giao nghĩa vụ nên không có cơ sở xem xét. Riêng, đối với số tiền bà cho rằng thực hiện nghĩa vụ trả ông T thay H sẽ được giải quyết bằng vụ việc khác nếu phát sinh tranh chấp giữa bà M và ông H.
Đối với khoản vay 60.000.000 đồng: Bà M thừa nhận có vay của ông T 60.000.000 đồng vào khoảng tháng 10/2018, biên nhận ông T cung cấp không thể hiện khoản vay này có liên quan đến ông H. Do đó, có căn cứ chấp nhận khởi kiện của ông T yêu cầu bà M trả vốn vay 60.000.000 đồng và lãi suất từ ngày 01/6/2021 đến ngày xét xử.
Bà M cho rằng đã trả xong cho ông T số vốn vay 60.000.000 đồng nhưng ông T không thừa nhận, ngoài lời khai không còn căn cứ khác nên không cơ sở xem xét.
Từ phân tích trên, căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Nguyễn Văn H có nghĩa vụ trả cho ông Quách Văn T số tiền vốn 20.000.000 đồng và lãi từ ngày 01/6/2021 đến ngày xét xử; buộc bà Nguyễn Thị Tuyết M có nghĩa vụ trả cho ông Quách Văn T số tiền vốn 60.000.000 đồng và lãi suất từ ngày 01/6/2021 đến ngày xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Quách Văn T khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Tuyết M trả nợ vay. Bị đơn ông H, bà M có nơi cư trú tại khóm C, phường C, thành phố C nên yêu cầu kiện khởi kiện của ông T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông H, bà M vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Xét thấy, ông H, bà M đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên xem như ông H, bà M đã tự từ bỏ quyền tố tụng của mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông H, bà M theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về phạm vi yêu cầu khởi kiện: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông T rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu ông H, bà M trả số nợ 70.000.000 đồng, rút lại yêu cầu buộc ông H, bà M liên đới trả nợ, chỉ yêu cầu ông H trả 20.000.000 đồng, bà M trả 60.000.000 đồng và tính lãi theo quy định pháp luật nên Tòa án chỉ xem xét giải quyết trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của ông T và đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 5, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Quách Văn T:
[4.1] Đối với khoản vay của ông Nguyễn Văn H:
- Về vốn vay: theo biên nhận đề ngày 13/5/2018 thể hiện ông H có vay của ông T số tiền 90.000.000 đồng. Đồng thời, theo lời khai của bà M (mẹ ruột ông H) xác định ông H có vay 90.000.000 đồng của ông T nhưng bà M đã trả được 70.000.000 đồng chỉ còn nợ 20.000.000 đồng. Ông T cũng xác định có nhận 70.000.000 đồng của bà M. Do đó, có căn cứ xác định ông H có nợ của ông T số tiền 20.000.000 đồng nên ông T khởi kiện yêu cầu ông H trả số nợ 20.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.
- Về lãi suất: khi vay các bên có thỏa thuận lãi suất vay là 3%/tháng, ông T chỉ yêu cầu ông H đóng lãi theo quy định pháp luật từ ngày 01/6/2021 đến ngày xét xử (ngày 25/7/2024 ), xét thấy yêu cầu này phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận. Tiền lãi được tính như sau: 20.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 37 tháng x 25 ngày = 12.560.000 đồng.
Buộc ông H có trách nhiệm trả cho ông T số tiền vốn gốc và lãi là 32.560.000 đồng.
[4.2] Đối với khoản vay của bà Nguyễn Thị Tuyết M:
- Về vốn vay: Theo biên nhận ngày 06/10/2018, bà M có vay của ông T số tiền 60.000.000 đồng. Theo lời khai bà M thừa nhận có vay của ông T số tiền này nên đây là tình tiết không phải phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bà M cho rằng đến khoảng tháng 2/2019 bà M đã trả hết số tiền 60.000.000 đồng cho ông T, trả khoảng 5 lần gồm 25.000.000 đồng, 15.000.000 đồng, 10.000.000 đồng và 16.000.000 đồng, tổng cộng đã trả 66.000.000 đồng (trong đó có tiền lãi 6.000.000 đồng). Tuy nhiên, ông T không thừa nhận có nhận 66.000.000 đồng của bà M và ngoài lời khai trên, bà M không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên không có cơ sở để xem xét. Do đó, ông T khởi kiện yêu cầu bà M trả vốn vay 60.000.000 là có căn cứ nên chấp nhận.
- Về lãi suất: Ông T yêu cầu bà M trả lãi theo quy định pháp luật từ ngày 01/6/2021 đến ngày xét xử (ngày 25/7/2024 ) là phù hợp nên chấp nhận. Tiền lãi được tính như sau: 60.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 37 tháng x 25 ngày = 37.682.000 đồng.
Buộc bà M có trách nhiệm trả cho ông T số tiền vốn gốc và lãi là 97.682.000 đồng.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông T được chấp nhận yêu cầu kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và ông T là người cao tuổi, có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí nên thuộc trường hợp miễn nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn ông H phải chịu 1.628.000 đồng (32.560.000 đồng x 5%), bà M phải chịu 4.884.000 đồng (97.682.000 đồng x 5%) án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 và Điều 468; Điều 147, Điều 244 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Quách Văn T về việc yêu cầu ông H, bà M trả số nợ 70.000.000 đồng và yêu cầu ông H, bà M cùng liên đới trả nợ.
- Buộc ông Nguyễn Văn H có trách nhiệm trả cho ông Quách Văn T số tiền 32.560.000 (ba mươi hai triệu năm trăm sáu mươi nghìn) đồng (trong đó vốn gốc 20.000.000 đồng và lãi 12.560.000 đồng).
- Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết M có trách nhiệm trả cho ông Quách Văn T số tiền 97.682.000 (chín mươi bảy triệu sáu trăm tám mươi hai nghìn) đồng (trong đó vốn gốc 60.000.000 đồng và lãi 37.682.000 đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Quách Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và thuộc trường hợp miễn nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Văn H phải chịu 1.628.000 (một triệu sáu trăm hai mươi tám nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị Tuyết M phải chịu 4.884.000 (bốn triệu tám trăm tám mươi bốn nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông T có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của ông H, bà M là 15 ngày kể từ bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Đại Nam |
Bản án số 46/2024/DS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
- Số bản án: 46/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
