TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2024/HS-ST Ngày : 25-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Ngọc Bờ;
- Đoàn Văn Hiển.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Bích Hợp – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2024/HSST ngày 12 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 42/2024/HS-QĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Lâm Trí T, sinh ngày 26/6/2006 tại An Giang; Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Quốc N, sinh năm 1985 và bà Lâm Ngọc M, sinh năm 1981 (Đã chết).
Tiền án: Ngày 31/1/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xử phạt 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giam từ ngày 23 tháng 02 năm 2024 đến nay;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Lâm Trí T: Ông Phan Văn H là Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A.(có mặt).
Bị hại: Võ Thị N1, sinh năm 1957. Nơi cư trú: Tổ G, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Khúc Thành T1, sinh năm 1988. Nơi cư trú: 346 T, khóm H, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt)
- Bà Trần Thị H1 (Bé C), sinh năm 1990. Nơi cư trú: Hẻm B, đường C, khóm F, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt)
- Ông Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Tổ 19, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt)
- Bà Đinh Thị T2, sinh năm 1963. Nơi cư trú: 464/2, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bà Hồ Ái N2, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Tổ 19, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài nên bị cáo Lâm Trí T sinh ngày 26/6/2006, nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của bà ngoại là Võ Thị N1 (ở cùng nhà) để bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 21/02/2024, bị cáo T thấy bà N1 và ông Lâm Văn T3 là ông bà ngoại của bị cáo không có ở nhà, nên bị cáo T dùng dao mở khóa tủ lấy số tiền 41.000.000 đồng, 01 chiếc lắc tay vàng 24kara trọng lượng 05 chỉ và 01 dây chuyền màu vàng (vàng giả). Sau đó, bị cáo T mang chiếc lắc vàng 5 chỉ đến nhà của bà Đinh Thị T2 nói lượm được bán cho bà T2 giá 8.000.000 đồng. Số tiền có được, bị cáo T đến cửa hàng điện thoại di động “Toàn Thịnh” do Khúc Thành Trí làm chủ thuộc khóm H, phường V, thành phố C mua 01 điện thoại di động hiệu S1 A24 giá 4.500.000 đồng, mua 01 xe đạp thể thao của một người thanh niên tên K (không rõ họ, địa chỉ) giá 3.600.000 đồng, cho Nguyễn Thị H3 mượn 4.500.000 đồng, cho Hồ Ái N2 mượn 1.500.000 đồng, cho Nguyễn Ngọc H2 400.000 đồng và cho M1, D, P, K1, S cùng một số người khác (không rõ họ tên, địa chỉ) mỗi người từ 400.000 đồng đến 1.400.000 đồng, số tiền còn lại bị cáo T tiêu xài cá nhân hết. Riêng Võ Thị N1 sau khi phát hiện mất trộm tài sản đã đến Công an xã M trình báo. Ngày 23/02/2024, bị cáo T đến Công an xã M đầu thú và giao nộp 01 điện thoại di động, 01 cục sạc dự phòng, 01 dây sạc, 01 xe đạp và 01 dây chuyền màu vàng.
Bị cáo T bị bắt tạm giam từ ngày 23 tháng 02 năm 2024, đến ngày 01 tháng 3 năm 2024, bị cáo T bị khởi tố, điều tra.
* Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số 04/KL.IIÐĐGTS ngày 29/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C kết luận:
- 01 (một) chiếc lắc tay vàng 24kara, trọng lượng 05 chỉ, trị giá 32.000.000 đồng.
- 01 (một) dây chuyền màu vàng đã xỉn màu (vàng giả), trị giá 10.000 đồng. Tổng giá trị: 32.010.000 đồng (Ba mươi hai triệu, không trăm mười nghìn
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C thu giữ:
- 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A24 màu đen có ốp lưng màu trắng; 01 cục sạc dự phòng hiệu AVA màu trắng xanh; 01 dây sạc màu trắng;
- 01 xe đạp thể thao màu xanh.
- 01 dây chuyền màu vàng đã xỉn màu; 01 cây dao cạo râu có cán gỗ màu nâu đã qua sử dụng; số tiền 4.500.000 đồng (đã trao trả lại cho bị hại Võ Thị N1 theo biên bản ngày 29/02/2024). (Bút lục: 68-70)
* Lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Võ Thị N1 trình bày phù hợp với nội dung vụ án: Hiện đã nhận lại số tiền 4.500.000 đồng và 01 dây chuyển màu vàng đã xỉn màu. Ngoài ra, bà N1 còn nhận 3.000.000 đồng của Đinh Thị T2. Bà N1 xin được nhận lại chiếc xe đạp mà T đã dùng tiền lấy trộm mua, phần tiền và tài sản còn lại là 64.900.000 đồng yêu cầu T phải bồi thường. (Bút lục số:93-101).
- Ông Khúc Thành T1 trình bày: Khi bán điện thoại và các phụ kiện cho T thì ông T1 không biết tiền của T do đâu mà có. Sau khi sự việc xảy ra ông T1 đã nộp lại 4.500.000 đồng. Ông T1 yêu cầu T trả lại số tiền, nếu không thì yêu cầu xin nhận lại điện thoại và các phụ kiện mà T đã mua. (Bút lục số: 106)
- Bà Đinh Thị T2 trình bày phù hợp với nội dung vụ án: Ngày 22/02/2024, T đến nhà bà T2 nói lượm được chiếc lắc tay vàng cần bán, sau khi xem bà T2 đồng ý mua với giá 8.000.000 đồng. Sau đó, bà T2 mang chiếc lắc ra thử thì phát hiện là giả nên bà T2 ném bỏ. Bà T2 không yêu cầu T trả lại số tiền 8.000.000 đồng. Ngoài ra, bà T2 còn tự nguyện hỗ trợ cho bà N1 số tiền 3.000.000 đồng. (Bút lục số: 114-117)
- Ông Lâm Văn T3, Trần Thị H1, Nguyễn Ngọc H2, Hồ Ái N2 trình bày phù hợp với nội dung vụ án: (Bút lục sô: 102-105, 107-109, 110-111, 112-113).
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lâm Trí T thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung vụ án và phù hợp lời khai trong giai đoạn điều tra, bị cáo thừa nhận đã lấy trộm vàng và tiền của bà N1 phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Không xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt bị cáo.
Tại cáo trạng số 36/CT-VKSCP ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Lâm Trí T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú trình bày luận tội: Giữ
nguyên truy tố như Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, áp dụng nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội đối với bị cáo Lâm Trí T, vì tại thời điểm bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi, khi xét xử bị cáo đã đủ 18 tuổi, đồng thời tổng hợp hình phạt của bản án số 06/2024/HS-ST ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Điều 38; Điều 56; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, Điều 91; điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt: Bị cáo Lâm Trí T mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp với mức hình phạt 06 tháng tù của bản án số 06/2024/HS-ST ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, buộc bị cáo T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án với mức án từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm 03 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định, không có thu nhập nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Về trách nhiệm dân sự:
- Tại phiên tòa, bị hại N1 không yêu cầu bị cáo T bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị H1 nộp trả lại 4.500.000 đồng; buộc Hồ Ái N2 nộp trả lại 1.800.000 đồng; buộc Nguyễn Ngọc H2 nộp trả lại 400.000 đồng đảm bảo thi hành án cho bà Võ Thị N1.
- Về vật chứng:
- Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại bị hại Nga 01 chiếc xe đạp thể thao; trả lại cho ông K2 Thành Trí 01 điện thoại Samsung Galaxy A24 kèm 01 cục sạc dự phòng hiệu AVA màu trắng; 01 dây sạc màu trắng đã qua sử dụng.
- Tiêu hủy 01 dao cạo râu có cán màu nâu đã qua sử dụng.
Người bào chữa cho bị cáo Lâm Trí T phát biểu bào chữa như sau: Không tranh luận về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo T. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Thành khẩn khai báo, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên cần xem xét chính sách người chưa thành niên phạm tội để xét xử bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành
tố tụng. Nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định.
[2] Về thẩm quyền: Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện C. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử vụ án là đúng thẩm quyền theo quy tại khoản 1 Điều 268 và khoản 1 Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về thủ tụng tố tụng: Bị cáo sinh ngày 26/6/2006 tính đến ngày 21/02/2024 thực hiện hành vi phạm tội là 17 tuổi 8 tháng 26 ngày. Đến ngày đưa vụ án ra xét xử là ngày 25/7/2024 thì bị cáo T đủ 18 tuổi nên việc xét xử theo thủ tục đối với người đã thành niên.
[4] Đối với người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã có lời khai trong quá trình điều tra việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[5] Về nội dung vụ án:
Qua tranh tụng tại phiên tòa và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định bị cáo Lâm Trí T đã có hành vi: Lợi dụng lúc bà N1 vắng nhà nên bị cáo T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bà N1, cụ thể bị cáo đã có hành vi lén lút, lục soát trong ba lô để lấy số tiền 41.000.000 đồng, 01 chiếc lắc tay vàng có trọng lượng 05 chỉ vàng 24kara và 01 dây chuyền màu vàng (vàng giả) của bà N1. Sau đó, bị cáo T mang chiếc lắc tay vàng 24kara bán cho bà T2 giá 8.000.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt được bị cáo T mua 01 điện thoại di động hiệu S1 A24 giá 4.500.000 đồng, mua 01 xe đạp thể thao giá 3.600.000 đồng, cho Nguyễn Thị H3 mượn 4.500.000 đồng, Hồ Ái N2 mượn 1.500.000 đồng, cho Nguyễn Ngọc H2 400.000 đồng và M1, D, P, K1, S cùng một số người khác (không rõ họ tên, địa chỉ) mỗi người từ 400.000 đồng đến 1.400.000 đồng, số tiền còn lại T tiêu xài cá nhân hết.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Lâm Trí T thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến tài sản của người khác trái pháp luật, với tổng số tiền chiếm đoạt là 73.010.000 đồng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc loại tội nghiêm trọng, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hội đồng xét xử có xem xét, áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội dưới 18 tuổi đối với bị cáo T. Mặc dù đến ngày mở phiên tòa xét xử bị cáo T về hành vi trộm cắp tài sản thì bị cáo đủ 18 tuổi nhưng tính đến ngày phạm tội 21/02/2024 thì bị cáo T chỉ mới 17 tuổi 8 tháng 26 ngày nên cần áp dụng nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi làm căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự của bị cáo T đúng quy định pháp luật.
[6] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, bị hại xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Như vậy, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[7] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo T trước khi thực hiện hành vi trộm cắp vào ngày 21/02/2024 thì bị cáo đã từng bị đưa ra xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, trong thời gian bản án chưa có hiệu lực thì bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Do Bản án số 06/2024/HS-ST ngày 31 tháng 01 năm 2024 chưa có hiệu lực nên lần phạm tội vào ngày 21/02/2024 không xác định là tái phạm. Đồng thời, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt của nhiều bản ản mà bị cáo chưa chấp hành.
Căn cứ vào các quy định pháp luật, các yếu tố nhân thân, động cơ, mục đích phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải xử phạt bị cáo hình phạt tù để đảm bảo tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, răn đe, phòng ngừa chung.
[7] Bị cáo không nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại bà N1 không yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt của bà N1 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại phiên tòa, ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị H1 giao nộp, trả lại 4.500.000 đồng đảm bảo thi hành án cho bà Võ Thị N1.
Trong giai đoạn điều tra, bà Hồ Ái N2, ông Nguyễn Ngọc H2 đều thừa nhận và đồng ý giao nộp, trả lại số tiền mà N2 và H2 mượn của bị cáo T nhưng không biết tiền mà bị cáo T cho mượn là trộm cắp của bà N1. Tại phiên tòa, Nguyễn Ngọc H2 và Hồ Ái N2 đều vắng mặt, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết buộc Hồ Ái N2 giao nộp trả lại 1.800.000 đồng; buộc Nguyễn Ngọc H2 nộp trả lại 400.000 đồng đảm bảo thi hành án cho bà Võ Thị N1.
[9] Về vật chứng vụ án:
Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với xe đạp thể thao màu xanh đã qua sử dụng: Bị cáo sử dụng tiền trộm của bà N1 để mua xe đạp. Do vậy, xét thấy cần giao trả xe đạp cho bị hại Võ Thị N1.
- Đối với 01 điện thoại di động SAMSUNG GALAXY A24 màu đen có ốp lưng màu trắng; 01 cục sạc dự phòng hiệu AVA màu trắng xanh; 01 dây sạc màu trắng: Bị cáo T dùng tiền trộm của bà N1 để mua điện thoại của ông Khúc Thành T1, quá trình điều tra ông Khúc Thành T1 đã giao nộp 4.500.000 đồng. Do vậy, cần giao trả điện thoại cùng phụ kiện cho ông Khúc Thành T1.
- Đối với dao cạo râu có cán màu nâu đã qua sử dụng: Tịch thu tiêu hủy.
[10] Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lâm Trí T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 56, Điều 90, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt: Bị cáo Lâm Trí T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 06 (sáu) tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2024/HSST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Buộc bị cáo Lâm Trí T phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 23 tháng 02 năm 2024.
2. Xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Trả lại cho bà Võ Thị N1 01 xe đạp thể thao màu xanh đã qua sử dụng.
- Trả lại cho ông K2 Thành Trí: 01 điện thoại di động SAMSUNG GALAXY A24 màu đen đã qua sử dụng có ốp lưng màu trắng; 01 cục sạc dự phòng hiệu AVA màu trắng xanh; 01 dây sạc màu trắng.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 dao cạo râu có cán màu nâu đã qua sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.
3. Phần trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự;
Công nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị H1 giao nộp, trả lại 4.500.000 đồng đảm bảo thi hành án cho bà Võ Thị N1.
Buộc Hồ Ái N2 giao nộp, trả lại 1.800.000 đồng đảm bảo thi hành án cho bà Võ Thị N1;
Buộc Nguyễn Ngọc H2 nộp trả lại 400.000 đồng đảm bảo thi hành án cho bà Võ Thị N1.
4. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Lâm Trí T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bà Trần Thị H1, bà Hồ Ái N2, ông Nguyễn Ngọc H2, mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, sự tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Yến Anh |
Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 46/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài theo điểm c khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự
