Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DI LINH

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 46/2024/HS-ST

Ngày: 24 - 6 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Sỹ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Thanh Hải;
  2. Ông Bùi Ngọc Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thùy Lương - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham

gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

- Bị cáo Hoàng Minh T; sinh năm 1998 tại Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú: Thôn H, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nơi sinh sống khi bị bắt: Thôn P, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Minh D (đã chết) và bà Huỳnh Thị Ngọc C; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số: 106/2019/HS-ST ngày 30/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 18 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt và và các quyết định của bản án từ ngày 05/7/2020, đã được xóa án tích; bị tạm giữ từ ngày 03/01/2024, chuyển tạm giam từ ngày 11/01/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện D. Có mặt.

2

- Bị cáo Trương Thị Diễm N; sinh năm 1998 tại Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nơi sinh sống khi bị bắt: Thôn T, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Hoàng D1 và bà Võ Thị Diễm K; có 01 con sinh năm 2018; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 03/01/2024, chuyển tạm giam từ ngày 11/01/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện D. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Vũ Quốc B; sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

+ Nguyễn Thị Thúy A; sinh năm 2002; nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; nơi ở hiện tại: Phòng số 103T1 Nhà nghỉ H, thôn T, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 30/12/2023, Hoàng Minh T khách đến Thành phố Hồ Chí Minh gặp người tên Q (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 4.200.000 đồng ma túy tổng hợp để mang về bán kiếm lời. Sau khi mang ma túy về nhà tại thôn P, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng Thành chia nhỏ một phần ma túy mua được cho vào trong 25 gói nylon và hàn kín rồi bỏ vào trong một hộp kim loại màu đen cất giấu trong người để thuận tiện khi bán cho người mua. Số ma túy còn lại T chia làm hai phần cất giấu ở những chỗ khác nhau với mục đích khi nào bán hết 25 gói ma túy nêu trên thì tiếp tục lấy ra để bán, trong đó một phần đựng vào 01 gói nylon mang đến cất giấu tại Phòng số 105T1 Nhà nghỉ H, thôn T, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng là nơi bạn gái của T là Trương Thị Diễm N thuê để ở; một phần để vào trong hộp thuốc lá có ghi chữ SEVEN DIAMONDS cất giấu trên cửa sổ trong phòng ngủ của T tại thôn P, xã G, huyện D.

Khoảng 23 giờ ngày 02/01/2024, T đến nơi ở của Trương Thị Diễm N tại phòng 105T1 Nhà nghỉ H tại thôn T, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng nhưng không gặp N. T lấy một ít ma túy đã cất giấu trước đó trong phòng của N bỏ vào dụng cụ sử dụng ma túy do T tự chế và sử dụng một mình. Sau khi sử dụng ma túy, T cất giấu bộ D2 sử dụng ma túy bên trong có ma túy chưa sử dụng hết vào chỗ khuất ở phía sau chân giường trong phòng 105T1 và đi về nhà.

3

Sáng ngày 03/01/2024, T lấy một trong số 25 gói ma túy đã chia trước đó bán cho một người tên “Tý” (chưa rõ nhân thân, lai lịch) nhà ở xã Đ được số tiền 300.000 đồng. Chiều ngày 03/01/2024 T bán thêm 01 gói ma túy cho Vũ Quốc B với giá 300.000 đồng, B trả trước cho T 270.000 đồng và nợ lại T 30.000 đồng. Đến 17 giờ 30 phút ngày 03/01/2024, khi T đang ở nhà thì bị Công an kiểm tra thu giữ một hộp kim loại màu đen bên trong có 23 gói nylon trong suốt hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy, 01 kéo kim loại là công cụ T sử dụng để phân chia ma túy và số tiền 570.000 đồng T thu được từ việc bán ma túy trong ngày. Sau đó cơ quan Công an tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T tại Thôn P, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng thu giữ tại vị trí trên cửa sổ phòng ngủ 01 vỏ bao thuốc lá SEVEN DIAMONDS bên trong có 01 gói nylon trong suốt có nắp kéo kín chứa tinh thể màu trắng.

Tiến hành khám xét khẩn cấp Phòng 105T1 Nhà nghỉ H thuộc thôn T, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Cơ quan Công an huyện D thu giữ trong hộp giấy sát mép tường bên trái từ cửa phòng đi vào 01 gói nylon trong suốt có nắp kéo kín chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bên trong có chất tinh thể màu trắng đã ngả vàng và 01 bật lửa đặt trên bàn để trên giường ngủ. T khai nhận chất tinh thể nêu trên là ma túy đá do T cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời, bộ D2 sử dụng ma túy và bật lửa là của T dùng để sử dụng ma túy.

Đối với Trương Thị Diễm N là đối tượng nghiện ma túy đã thuê phòng 105T1 tại nhà nghỉ H thuộc thôn T, xã Đ, huyện D để ở từ tháng 7/2023. Quá trình sống tại đây N quen và có quan hệ tình cảm với T nên T thường xuyên đến phòng 105T1 của N. Trong thời gian từ ngày 26/12/2023 đến ngày 02/01/2024 N đi chăm sóc con tại Bệnh viện Đ tại thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Ngày 03/01/2024 N về phòng trọ 105T1 và dọn dẹp phòng thì thấy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bên trong còn ma túy để khuất dưới chân giường nên N nghĩ là của T cất giấu. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên N để bộ dụng cụ lên chiếc bàn nhỏ để sẵn trên giường trong phòng và dùng bật lửa có sẵn châm lửa để sử dụng ma túy một mình. Khi N sử dụng ma túy thì Nguyễn Thị Thúy A là bạn của N sống ở phòng 103T1 gần đó sang chơi, thấy N vừa sử dụng ma túy xong và trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy còn ma túy nên A đã tự châm lửa sử dụng ma túy trong phòng 105T1, N thấy A sử dụng ma túy thì im lặng đồng ý cho A sử dụng ma túy tại phòng của mình. Sau đó N và A cùng đi ăn cơm tối về lại phòng trọ 105T1 vào buổi tối cùng ngày. Đến 20 giờ 30 phút ngày 03/01/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D tiến hành khám xét phòng 105T1 là nơi ở của N và thu giữ số ma túy T cất giấu và bộ D2 sử dụng ma túy trong phòng.

4

Ngày 04/01/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện D đã ban hành quyết định trưng cầu giám định chất ma túy đối với số vật chứng thu giữ trong vụ án. Tại bản kết luận giám định số 41/KL-KTHS ngày 09 tháng 01 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận:

  • Mẫu tinh thể (M1) đựng trong hai mươi ba gói nylon được niêm phong gửi giám định là mua túy, có khối lượng 4,1881g (bốn phẩy một tám tám một gam), loại Methaphetamine.
  • Mẫu tinh thể (M2) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là mua túy, có khối lượng 15,3204g (một năm phẩy ba hai không bốn gam), loại Methaphetamine.
  • Mẫu tinh thể (M3) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là mua túy, có khối lượng 1,5191g (một phẩy năm một chín một gam), loại Methaphetamine.
  • Mẫu tinh thể (M4) đựng trong bầu tròn ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0620g (không phẩy không sáu hai không gam), loại Methaphetamine.

Quá trình điều tra, Hoàng Minh T thừa nhận toàn bộ số ma túy bị thu giữ trong vụ án là của T mua về để bán kiếm lời, vào ngày 03/01/2024 bị cáo đã bán cho người tên T2 một phần ma túy được 300.000 đồng, bán cho Vũ Quốc B một phần ma túy với giá 300.000 đồng, được B trả 270.000 đồng và còn nợ 30.000 đồng. Vũ Q1 bảo thừa nhận đã mua 300.000 đồng ma túy tổng hợp của T vào ngày 03/01/2024, đã trả được 270.000 đồng và còn nợ T 30.000 đồng. Đối với Trương Thị Diễm NNguyễn Thị Thúy A khai nhận không liên quan đến số ma túy bị thu giữ trong vụ án. Tuy nhiên, N và A cùng thừa nhận vào buổi chiều ngày 03/01/2024, N đã sử dụng ma túy và đồng ý cho A sử dụng ma túy tại phòng 105T1 nhà nghỉ H là nơi N thuê để sinh sống như đã nêu ở trên. Đối với người mua ma túy của T tên là T2 không xác minh được nhân thân, lai lịch nên chưa có lời khai.

Tại Cáo trạng số: 39/CTr-VKS ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố Hoàng Minh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự; truy tố Trương Thị Diễm N về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 256 của Bộ luật hình sự.

Quá trình thẩm vấn tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Minh T, Trương Thị Diễm N thành khẩn khai nhận các tình tiết của vụ án đúng như đã nêu ở trên và xin giảm nhẹ hình phạt.

5

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa khẳng định cáo trạng truy tố các bị cáo là có căn cứ pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Trương Thị Diễm N phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” và đề nghị xử lý như sau:

  • Áp dụng các điểm b, i khoản 2 Điều 251, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Minh T từ 09 đến 10 năm tù;
  • Áp dụng khoản 1 Điều 256, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trương Thị Diễm N từ 02 năm tù đến 03 năm tù;
  • Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 hộp kim loại màu đen, 01 kéo kim loại, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 bật lửa và số ma túy còn lại sau giám định cùng bao gói vật chứng; tịch thu sung công quỹ 570.000 đồng là số tiền bị cáo Hoàng Minh T có được từ việc bán ma túy.
  • Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D và của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Vũ Quốc BTrương Thị Diễm N1 vắng mặt nhưng đã có lời khai rõ ràng trong quá trình điều tra. Việc vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, cần căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vụ án là đúng pháp luật.

6

[3] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án như: Các biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản thu giữ, niêm phong đồ vật bị tạm giữ, biên bản xác định hiện trường vụ án và bản ảnh kèm theo, phiếu xét nghiệm chất ma túy ngày 03 tháng 01 năm 2024; Quyết định trưng cầu giám định số 14/QĐ-ĐCSMT ngày 04 tháng 01 năm 2024 của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện D; Kết luận giám định số 41/KL-KTHS ngày 09 tháng 01 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L. Qua đó có cơ sở xác định:

[3.1] Vào ngày 03 tháng 01 năm 2024, bị cáo Hoàng Minh T đã bán ma túy cho 02 người gồm: Bán 01 gói ma túy cho người tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) và đã thu được 300.000 đồng; bán cho Vũ Quốc B 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng và đã được B trả số tiền 270.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo Hoàng Minh T còn cất giấu 21,0276 gam ma túy loại Methamphetamnine với mục đích để bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo Hoàng Minh T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b và điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự

[3.2] Đối với bị cáo Trương Thị Diễm N là người thuê phòng 105T1 tại nhà nghỉ H thuộc thôn T, xã Đ, huyện D để ở. Vào ngày 03/01/2024, khi thấy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bên trong có ma túy do T cất giấu tại phòng 105T1 thì Trương Thị Diễm N đã lấy ra và sử dụng ma túy, sau đó bị cáo Trương Thị Diễm N đã đồng ý cho Nguyễn Thị Thúy A cùng sử dụng ma túy trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy nêu trên tại phòng 105T1 nhà nghỉ H. Do đó, việc bị cáo Trương Thị Diễm N để cho Nguyễn Thị Thúy A sử dụng ma túy trong phòng 105T1 đã cấu thành tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 256 của Bộ luật hình sự. Về việc bị cáo Hoàng Minh T cất giấu ma túy trong phòng 105T1 nhà nghỉ H nhưng Trương Thị Diễm N nhưng không biết. Vì vậy Trương Thị Diễm N không phải chịu trách nhiệm đối với số ma túy thu giữ được tại nơi ở của mình.

[4] Trong tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật về ma túy tại địa phương hiện nay đang có diễn biến phức tạp, gây ra nhiều hậu quả xấu cho xã hội và là nguyên nhân phát sinh các tội phạm, vi phạm pháp luật khác. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phục vụ công tác phòng, chống tội phạm tại địa phương. Bị cáo T phạm tội với 02 tình tiết tăng nặng định khung và có khung hình phạt cao hơn bị cáo N nên hình phạt bị cáo T phải chịu cũng cao hơn bị cáo N. Quá trình tố tụng các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng điểm s khoản

7

1 Điều 51 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[4] Đối với người bán ma túy cho bị cáo Hoàng Minh T có tên “Q” chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Điều tra tiếp tục xác minh xử lý là phù hợp. Đối với Nguyễn Thị Thúy A có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đã bị Công an huyện D xử phạt hành chính. Đối với 01 hộp kim loại màu đen, 01 kéo kim loại, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 bật lửa và số ma túy còn lại sau giám định cùng bao gói vật chứng cần tịch thu tiêu hủy; đối với 570.000 đồng bị cáo Hoàng Minh T có được từ việc bán ma túy cần tịch thu sung công quỹ.

[5] Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án. Cần buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b và điểm i khoản 2 Điều 251, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Minh T 10 (mười) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/01/2024.
  2. Tuyên bố bị cáo Trương Thị Diễm N phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 256, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trương Thị Diễm N 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/01/2024.

    Tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo thi hành án

  3. Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 hộp kim loại màu đen, 01 kéo kim loại, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 bật lửa và số ma túy còn lại sau giám định cùng bao gói vật chứng; Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 570.000 đồng đã thu giữ của bị cáo Hoàng Minh T (Toàn bộ vật chứng nêu trên đã được Công an huyện D bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh theo Biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 25/4/2024)
  4. Buộc bị cáo Hoàng Minh T và bị cáo Trương Thị Diễm N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa

8

quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo phần bản án trực tiếp liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình)

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND huyện Di Linh;
  • - CQ Điều tra CA huyện Di Linh;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Di Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Di Linh;
  • - Bị cáo;
  • - Bộ phận Thi hành án hình sự;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - Lưu HS, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Văn Sỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự

  • Số bản án: 46/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger