Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM NÔNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HS-ST

Ngày 23-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Phúc.

Ông Võ Hùng Em.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Nhàn, Thư ký Toà án nhân dân

huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp

tham gia phiên tòa: Ông Lê Kim Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2024/HSST-QĐ ngày 12 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn M, sinh năm 1991, tại tỉnh Đồng Tháp; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Bán vé số; trình độ học vấn: 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1965 và bà Trần Thị Đ, sinh năm 1962 (chết); chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ: Không; bắt tạm giam: Ngày 17/9/2024. Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T và có mặt tại phiên toà.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn M:

Nguyễn Văn L, sinh năm 1965 (có mặt)

Địa chỉ: ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Bị hại: Nguyễn Minh Q, sinh năm 1987 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Nguyễn Văn D, sinh năm 1965 (có đơn xin vắng mặt).

2. Quách Thị Mỹ H, sinh năm 1947 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người làm chứng:

1. Nguyễn Thị N, sinh năm 1972 (vắng mặt).

2. Nguyễn Thị N1, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 10/02/2024, Nguyễn Minh Q nhờ ông Nguyễn Văn D (cha ruột Q) trông giữ cửa hàng mua bán điện thoại và nón bảo hiểm Minh T thuộc ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Thời điểm này, Nguyễn Văn M đến gặp ông D yêu cầu được đổi điện thoại khác hoặc lấy lại tiền M đã mua tại cửa hàng M1 trước đây, do điện thoại nay không còn hoạt động được. Ông D không nghe rõ nội dung của M nói nên yêu cầu đợi Q về để nói chuyện và thực hiện các giao dịch tiếp theo. Mùi không thống nhất và cho rằng ông D không đồng ý đổi điện thoại. Từ đó, M nẩy sinh ý định lấy tiền, liền lúc này M dùng nón bảo hiểm đánh vào người ông D, ông D lấy ghế nhựa đỡ được, M đẩy ông D ra, thấy vậy bà Quách Thị Mỹ H đi đến can ngăn nhưng không được vì bà H già yếu. Mùi vào được bên trong quầy, dùng tay kéo hộc tủ làm rơi hộp sắt chứa tiền và nhặt cọc tiền bỏ chạy ra ngoài bị ông D cản lại nên M nhặt gạch ống dưới đất ném trúng vào đầu và phía trên cánh tay phải của ông D, sau đó liền bỏ chạy. Lúc này, ông D truy hô “cướp cướp”, nghe được tiếng truy hô của ông D nên người dân địa phương đã phối hợp giữ Mùi lại, M ném số tiền lấy được trong cửa hàng M1 xuống đất người dân nhặt lại giao nộp cho Cơ quan Công an, qua kiểm đếm tổng số tiền thu lại là 21.000.000 đồng.

Kết luận giám định số: 277/KL-KTHS, ngày 14/03/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ, kết luận: 74 tờ tiền Việt Nam, gồm 27 tờ tiền loại polymer mệnh giá 500.000 đồng; 28 tờ tiền loại polyme mệnh giá 200.000 đồng và 19 tờ tiền polymer mệnh giá 100.000 đồng gửi đến giám định được ký hiệu từ A1 đến A74 đều là tiền thật.

Vật chứng thu giữ: của Nguyễn Minh Q số tiền Việt Nam 21.000.000 đồng, trong đó gồm 27 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 28 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 19 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng; 01 viên gạch ống, kích thước 18cm x 08cm x 08cm (đã qua sử dụng, có nhiều vết cắt bề mặt, gạch bị bể vỡ một phần); 01 nón bằng vải, loại nón bo, màu trắng, trên nón có chữ DIO, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn M; 01 đoạn video thời gian 06 phút trích xuất từ camera an ninh nhà bà Nguyễn Thị Mỹ H1. Đối với nón bảo hiểm không truy tìm được.

Bản Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số: 191/2024/KLGĐ, ngày 07/06/2024 của Trung tâm P - Bộ Y, kết luận: Về y học: Trước, trong, sau khi phạm tội và hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Chậm phát triển tâm thần nhẹ (F70-ICD10); Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm phạm tội và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Công văn số: 191.0/PYTT ngày 07/06/2024 của Trung tâm P - Bộ Y về việc trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn M, kết luận: tại thời điểm phạm tội và hiện tại: Đương sự có năng lực trách nhiệm hình sự.

Tại Cáo trạng số: 40/CT-VKSTN ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo M về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự. Tình hình tội phạm cướp tài sản gây mất an ninh trật tự, chính trị địa phương nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm q, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M, phạm tội “Cướp tài sản” xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù. Bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về trách nhiệm dân sự: Đã xử lý xong nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy: 01 viên gạch ống, kích thước 18cm x 08cm x 08cm (đã qua sử dụng, có nhiều vết cắt bề mặt, gạch bị bể vỡ một phần); 01 nón bằng vải, loại nón bo, màu trắng, trên nón có chữ DIO, đã qua sử dụng của Nguyễn Văn M dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng; Tịch thu lưu vào hồ sơ vụ án: 01 đoạn video thời gian 06 phút trích xuất từ camera an ninh nhà bà Nguyễn Thị Mỹ H1, ghi nhận hành vi phạm tội của bị cáo. Riêng đối với nón bảo hiểm không tìm kiếm thu giữ được theo Biên bản kiểm tra, tìm kiếm nón bảo hiểm liên quan vụ án ngày 22/02/2024.

Bị cáo Nguyễn Văn M thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội “Cướp tài sản” như nội dung cáo trạng đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, không tham gia tranh luận với Kiểm sát viên.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo ông Nguyễn Văn L trình bày: Thống nhất theo lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa và Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh đối với bị cáo, không tham gia tranh luận với Kiểm sát viên. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt do bị cáo nóng giận nhất thời muốn lấy lại tiền đã mua điện thoại nhưng sử dụng không được nên phạm tội, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị hạn chế khả năng nhận thức.

Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, ông L không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Anh Q, ông D1, bà H, bà N, chị N1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên toà nhưng anh Q, ông D1, bà H vắng mặt có lý do; riêng bà N, chị N1 vắng mặt không có lý do. Xét thấy, tại giai đoạn điều tra bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã có lời khai lưu vào trong hồ sơ vụ án và đã giải quyết xong về trách nhiệm dân sự nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Qua lời khai của bị cáo và Nguyễn Văn L tại phiên toà; lời khai của bị hại, người liên quan và người làm chứng thể hiện: Vào khoảng 13 giờ ngày 10/02/2024, do điện thoại của bị cáo Nguyễn Văn M mua tại Cửa hàng bán điện thoại và nón bảo hiểm M2 thuộc ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp bị hư nên bị cáo muốn lấy lại tiền đã mua điện thoại. Vì vậy, bị cáo M đã dùng phương tiện nguy hiểm là nón bảo hiểm đánh vào người và dùng gạch ống ném trúng vào đầu và phía trên cánh tay phải của ông Nguyễn Văn D (là người trong coi cửa hàng dùm anh Nguyễn Minh Q) để chiếm đoạt số tiền 21.000.000 đồng của anh Q. Sau khi thực hiện hành vi cướp tài sản xong bị cáo bỏ chạy thì bị người dân xung quanh khống chế, bắt giữ giao cơ quan Công an xử lý.

Theo Kết luận giám định số: 277/KL-KTHS, ngày 14/03/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ, kết luận: Số tiền 21.000.000 đồng bao gồm 74 tờ tiền Việt Nam (trong đó có 27 tờ tiền loại polymer mệnh giá 500.000 đồng; 28 tờ tiền loại polyme mệnh giá 200.000 đồng và 19 tờ tiền polymer mệnh giá 100.000 đồng) gửi đến giám định được ký hiệu từ A1 đến A74 đều là tiền thật.

Tại phiên toà, ông L xác định có tham dự các buổi lấy lời khai, hỏi cung đối với bị cáo M, có nghe cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đọc lại nội dung biên bản, ông L thống nhất nên đồng ý lăn tay vào các biên bản. Qua công bố lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng tại phiên tòa, ông L không có ý kiến. Hiện nay bị cáo bị bệnh nên giọng nói khó nghe nhưng khi lấy lời khai, hỏi cung bị cáo, ông L đều thống nhất hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai

của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường và Bản ảnh cùng ngày 10/02/2024 của Công an huyện T, cùng toàn bộ chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn M tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự quy định:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) ..........

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác.

Hành vi của bị cáo là xem thường pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác trái pháp luật, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự ở địa phương. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, vì tức giận nhất thời và muốn lấy lại tiền mua điện thoại mà thực hiện hành vi cướp tài sản với lỗi cố ý. Căn cứ vào nhân thân, tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tương xứng để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có bác tên Nguyễn Văn D2 là liệt sĩ; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm q, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự quyết định dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo.

[5] Hình phạt bổ sung: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa xét thấy bị cáo bán vé số thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho bị hại Q nhận lại đủ số tiền 21.000.000 đồng (Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 08/3/2024) và bị hại không có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với ông Nguyễn Văn D: Bị cáo M có dùng nón bảo hiểm đánh vào người và dùng gạch ống ném trúng vào đầu và phía trên cánh tay phải của ông D. Quá trình điều tra và tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 06/9/2024 ông D trình

bày do thấy thương tích nhẹ, bị trầy ngoài da nên không yêu cầu giám định tỷ lệ thương tích, không yêu cầu xử lý hình sự và không yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với bà Quách Thị Mỹ H do bị cáo làm té ngã nhưng bà H không yêu cầu xử lý hình sự và không yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng của vụ án:

Đối với 01 viên gạch ống, kích thước 18cm x 08cm x 08cm (đã qua sử dụng, có nhiều vết cắt bề mặt, gạch bị bể vỡ một phần); 01 nón bằng vải, loại nón bo, màu trắng, trên nón có chữ DIO, đã qua sử dụng của bị cáo M. Xét thấy, các vật chứng trên là công cụ có liên quan đến hành vi phạm tội và không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 đoạn video thời gian 06 phút trích xuất, thu giữ từ camera an ninh nhà bà Nguyễn Thị Mỹ H1. Xét thấy, đây là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên tiếp tục lưu hồ sơ vụ án là phù hợp.

Đối với nón bảo hiểm bị cáo M dùng đánh vào người ông D. Quá trình điều tra không thu giữ được nón bảo hiểm (Biên bản kiểm tra, tìm kiếm nón bảo hiểm liên quan vụ án ngày 22/02/2024) nên không xem xét giải quyết.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 17 tháng 9 năm 2024.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) viên gạch ống, kích thước 18cm x 08cm x 08cm (đã qua sử dụng, có nhiều vết cắt bề mặt, gạch bị bể vỡ một phần); 01

(một) nón bằng vải, loại nón bo, màu trắng, trên nón có chữ DIO, đã qua sử dụng của bị cáo M.

(Tất cả vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp đang quản lý).

Lưu hồ sơ vụ án: 01 (một) đoạn video thời gian 06 phút trích xuất, thu giữ từ camera an ninh nhà bà Nguyễn Thị Mỹ H1 (đang lưu hồ sơ vụ án).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Tam Nông;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện hợp pháp của bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - CQ CSĐT CA H. Tam Nông;
  • - CQ THAHS CA H. Tam Nông;
  • - Nhà tạm giữ CA H. Tam Nông;
  • - Chi cục THADS H. Tam Nông;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

đã ký

Huỳnh Kim Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về cướp tài sản

  • Số bản án: 46/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger