Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HS-ST

Ngày 26 tháng 4 năm 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê ngọc Tiền.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh và ông Nguyễn Thanh Trang.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Diễm My – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2024/HSST ngày 29 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Thành Đ, sinh năm 1999, nơi sinh: P - An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ 01, khóm P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật giáo Hòa hảo; quốc tịch: Việt Nam; cha là Võ Văn Đ1, sinh năm 1975 và mẹ là Dương Thị M, sinh năm 1981; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 05/11/2023 cho đến nay (có mặt).

Bị hại:

  • - Bùi Thành C, sinh năm 1966; nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt);
  • - Trần Văn C1, sinh năm 1963; nơi cư trú: Khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt);
  • - Nguyễn Văn H, sinh năm 1969; nơi cư trú: Số E đường N, tổ A, khóm G, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
  • - Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 1993; nơi cư trú: Tổ B, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • - Võ Thanh B, sinh năm 1985; nơi cư trú: Khóm P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt);
  • - Nguyễn Uy M1, sinh năm 1991; nơi cư trú: Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt);
  • - Phạm Thanh H1, sinh năm 1971; nơi cư trú: Tổ A, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt);

Người làm chứng: Nguyễn Văn N1, Lê Văn T, Nguyễn Ngọc N2, Đoàn Văn S; Nguyễn Kim P; Võ Thị H2; Huỳnh Thanh M2; Võ Văn Đ1; Nguyễn Thị Đ2; Huỳnh Quốc V; Huỳnh Văn V1; Nguyễn Thị Hồng T1; Đinh Văn N3; Lê Minh P1; Bạch Hữu A; Phan Ngọc M3 (ông T, ông Đ1, bà Đ2 có mặt; những người làm chứng còn lại vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài, Võ Thành Đ nảy sinh ý định dùng thủ đoạn thuê người giả làm người thân, đến các tiệm mua bán xe mô tô cũ, giả vờ hỏi mua xe, để lại người được thuê giả làm người thân để tạo lòng tin, một mình chạy thử xe rồi chiếm đoạt. Bằng cách thức này, Đ đã chiếm đoạt xe mô tô trên địa bàn thành phố C như sau: Khoảng 12 giờ ngày 31/10/2023, Đ thuê Nguyễn Văn N1 (chạy xe Honda đầu) giả làm cha ruột, tiền công 1.000.000 đồng, chở đến tiệm mua bán xe cũ của Nguyễn Văn H, số E đường N, tổ A, khóm G, phường C, thành phố C, giả vờ hỏi mua xe mô tô biển số 67C1-688.28 và yêu cầu H đưa xem giấy chứng nhận đăng ký xe, H đồng ý, lấy đưa Đ xem. Lúc này, Đ đề nghị H cho chạy thử xe và giới thiệu N1 là cha ruột sẽ ở đây chờ. Tin thật, H đồng ý, Đ liền điều khiển xe mô tô và mang theo giấy chứng nhận đăng ký xe chạy đi, đến tiệm cầm đồ “Vũ Hải”, tổ A, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, cầm cho Phạm Thanh H1 (chủ tiệm), được 10.000.000 đồng, tiêu xài hết, không trả tiền công cho N1.

Quá trình điều tra còn xác định, cũng bằng thủ đoạn, cách thức trên, Đ đã thực hiện nhiều vụ chiếm đoạt xe mô tô trên các địa bàn huyện P và huyện C, tỉnh An Giang. Cụ thể các vụ án như sau:

Vụ 1: Khoảng 10 giờ ngày 27/10/2023, Đ thuê Lê Văn T (chạy xe Honda đầu) giả làm cha ruột, tiền công 500.000 đồng chở đến nhà Bùi Thành C (mua bán xe cũ), ấp L, xã L, huyện P, giả vờ hỏi mua xe mô tô biển số 92F8-7193, chiếm đoạt xe, mang đến cửa hàng mua bán xe cũ “Thanh Bình”, khóm P, thị trấn C, huyện P, bán cho Võ Thanh B (chủ cửa hàng), được 2.000.000 đồng, tiêu xài hết, không trả tiền công cho T.

Vụ 2: Khoảng 17 giờ ngày 28/10/2023, Đ thuê Nguyễn Ngọc N2 (chạy xe Honda đầu) giả làm cha ruột, chở đến cửa hàng mua bán xe cũ “Năm Chửng” của vợ chồng Trần Văn C1 và Nguyễn Kim P, khóm T, thị trấn P, huyện P, giả vờ hỏi mua xe mô tô biển số 67C1-248.96, chiếm đoạt xe, mang đến cửa hàng mua bán xe cũ “Minh O”, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang, bán cho Nguyễn Uy M1 (chủ cửa hàng), được 9.000.000 đồng, tiêu xài hết, không trả tiền công cho N2.

Vụ 3: Khoảng 08 giờ ngày 03/11/2023, Đ thuê Đoàn Văn S (chạy xe Honda đầu) giả làm ông ngoại, chở đến cửa hàng mua bán xe cũ “Duy Thanh” của Nguyễn Thị Yến N, tổ B, ấp M, xã M, huyện C, giả vờ hỏi mua xe mô tô biển số 67D1-913.87, chiếm đoạt xe, mang đến quán Karaoke "373”, xã P, huyện P, bán cho Huỳnh Quốc V, được 3.000.000 đồng, tiêu xài hết, không trả tiền công cho S.

H, C, vợ chồng C1 và P, N trình báo Cơ quan Công an, bắt khẩn cấp Đ. Qua làm việc, Đ thừa nhận thực hiện hành vi nêu trên. H1, B và M1 thừa nhận mua xe mô tô do Đ bán nhưng không biết là tài sản lấy trộm, đã giao nộp lại xe. Riêng V không thừa nhận mua xe. Nhơn, T, N2 và S chỉ chở thuê, không biết Đ thuê chở đi chiếm đoạt xe, không thỏa thuận, hứa hẹn với Đ.

Vật chứng thu giữ: 04 xe mô tô, trong đó, 01 xe nhãn hiệu Honda, loại Future, màu đỏ – bạc, biển số 67C1-688.28; 01 xe nhãn hiệu Honda, loại Win, màu đỏ, biển số 92F8-7193; 01 xe nhãn hiệu Honda, loại Future, màu nâu – vàng, biển số 67C1-248.96 cùng giấy chứng nhận đăng ký xe, đã trao trả cho các bị hại Nguyễn Văn H, Bùi Thành C và vợ chồng Trần Văn C1; 01 xe nhãn hiệu Hamco, màu đỏ - đen, biển số 67M1-6709, trao trả cho Nguyễn Văn N1; 01 (một) quần vải dài màu đen; 01 (một) áo sơ mi tay dài màu trắng; 01 (một) nón kết màu đen-xám, trên mũ có chữ NEWW YOURK HILFGER; 01 (một) đôi dép màu đen – trắng (loại dép quai ngang). Tất cả đã qua sử dụng.

Căn cứ các Kết luận định giá tài sản số 747 ngày 07/11/2023, số 49 ngày 26/12/2023, số 01 ngày 05/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, huyện P, huyện C, xác định:

  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future, màu đỏ – bạc, biển số 67C1-688.28, trị giá 20.000.000 đồng (tài sản của Nguyễn Văn H).
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Win, màu đỏ, biển số 92F8-7193, trị giá 4.000.000 đồng (tài sản của Bùi Thành C).
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future, màu nâu – vàng, biển số 67C1-248.96, trị giá 14.000.000 đồng (tài sản của vợ chồng Trần Văn C1).
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Winner X, màu đen – bạc – vàng, biển số 67D1-913.87, trị giá 16.000.000 đồng (tài sản của Nguyễn Thị Yến N).

Căn cứ Kết luận giám định số 82/KL-KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A, ghi nhận: Trích xuất 51 ảnh từ dữ liệu 02 tập tin video lưu trữ trong USB (ký hiệu A) do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C gửi đến giám định, chi tiết thể hiện Phụ lục kèm theo.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Võ Thành Đ để điều tra, xử lý.

Cáo trạng số 14/CT-VKSCĐ-HS ngày 29/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố bị cáo Võ Thành Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

  • - Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng thể hiện. Bị cáo không có ý kiến về Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và chấp nhận bồi thường số tiền cho bị hại N 16.000.000 đồng, H1 10.000.000 đồng và B 2.000.000 đồng. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.
  • - Bị hại Nguyễn Thị Yến N có yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị chiếc xe theo giá mà Hội đồng định giá đã định với số tiền 16.000.000 đồng và không có ý kiến khác.
  • - Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Thành Đ từ 04 đến 05 năm tù. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không nghề nghiệp ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường số tiền cho bị hại N 16.000.000 đồng, H1 10.000.000 đồng và B 2.000.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy vật chứng do không còn giá trị sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại.

Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, nhưng người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quyết định tiến hành xét xử.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, cùng các vật chứng đã thu giữ và trả lại cho bị hại, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận:

Bị cáo Đ có hành vi gian dối để chiếm đoạt chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Văn H, trị giá 20.000.000 đồng; của Bùi Thành C, trị giá 4.000.000 đồng; của Trần Văn C1, trị giá 14.000.000 đồng và Nguyễn Thị Yến N, trị giá 16.000.000 đồng, tổng cộng 54.000.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; thực hiện với lỗi cố ý; xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác nên đã đủ yếu tố cấu thành tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù (tội phạm nghiêm trọng).

Vì vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; thuộc thành phần lao động, học lực thấp đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhận chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy bị cáo Đ có hoàn cảnh khó khăn, không có nghề nghiệp và không có tài sản nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại H, C, C1 đã nhận lại xe mô tô do bị cáo Đ chiếm đoạt và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan M1 đều không yêu cầu bồi thường nên không đề cập xem xét. Đối với yêu cầu bị hại N, xe mô tô bị Đ chiếm đoạt không thu hồi được, yêu cầu bồi thường theo giá trị đã định giá 16.000.000 đồng; H1 yêu cầu bồi thường 10.000.000 đồng, B yêu cầu bồi thường 2.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo Đ chấp nhận theo yêu cầu bồi thường cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Xét, buộc bị cáo Đ có trách nhiệm bồi thường số tiền cho bị hại N số tiền 16.000.000 đồng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan H1 10.000.000 đồng, B 2.000.000 đồng.

[6] Về xử lý vật chứng: 01 (một) quần vải dài màu đen; 01 (một) áo sơ mi tay dài màu trắng; 01 (một) nón kết màu đen-xám, trên mũ có chữ NEW YORK HILFIGER; 01 (một) đôi dép màu đen – trắng. Tất cả đã qua sử dụng, không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Vấn đề khác: Trường hợp Phạm Thanh H1, Võ Thanh B và Nguyễn Uy M1 đã nhận cầm và mua xe nhưng không biết đây là tài sản do bị can Võ Thành Đ phạm tội mà có; Nguyễn Văn N1, Lê Văn T, Nguyễn Ngọc N2 và Đoàn Văn S được Đ thuê chở đi nhưng không biết đi chiếm đoạt tài sản, không hưởng lợi tuy không xử lý nhưng cần giáo dục công khai tại phiên tòa. Huỳnh Quốc V không thừa nhận mua xe do bị can Đ phạm tội mà có, không thu hồi được xe, ngoài lời khai của Đ, không còn chứng cứ khác, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.400.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Võ Thành Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản";

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Võ Thành Đ 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo Võ Thành Đ được tính kể từ ngày 05/11/2023.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Võ Thành Đ có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Yến N số tiền 16.000.000 (mười sáu triệu) đồng; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phạm Thanh H1 10.000.000 (mười triệu) đồng, Võ Thanh B 2.000.000 (hai triệu) đồng.

Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) quần vải dài màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) áo sơ mi tay dài màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) nón kết màu đen-xám, trên mũ có chữ NEWW YOURK HILFGER, đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép màu đen – trắng (loại dép quai ngang), đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).

Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Võ Thành Đ phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.400.000 (một triệu bốn trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của những người vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát TP. Châu Đốc;
  • - Nhà Tạm giữ TP. Châu Đốc;
  • - Thi hành án DS TP. Châu Đốc;
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Ngọc Tiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 46/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 5 năm tù giam.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger