TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2024/HS-ST
Ngày 23-4-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngôn Ngọc Viên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Hiền
Bà Hoàng Thị Hường
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Biển, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thiêm, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 234/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị H (tên gọi khác: Không); Sinh ngày 26 tháng 10 năm 1997 tại N, N, Nghệ An.
Nơi cư trú: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 02/12; Dân tộc: Thổ; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Văn B sinh năm 1973 và con bà Nguyễn Thị T sinh năm 1962 (Đã chết); Chồng và con: Không; Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 31/03/2023 bị Đồn Biên phòng cửa khẩu L, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật”, phạt tiền 3.000.000 đồng.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên toà).
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Triệu Bằng G - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 01/2023, Nguyễn Thị H - sinh ngày 26/10/1997, trú tại: xóm T, N, N, Nghệ An xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc thông qua khu vực biên giới Việt Nam - Trung Quốc thuộc tỉnh Lạng Sơn, mục đích để lao động làm thuê, trong thời gian cư trú bất hợp pháp tại Trung Quốc đến ngày 31/3/2023, H bị cơ quan chức năng Trung Quốc bắt giữ và trao trả qua cửa khẩu L, huyện H, tỉnh Cao Bằng và bị Đồn Biên phòng Cửa khẩu L, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất cảnh”, mức phạt 3.000.000đ (Ba triệu đồng).
Sau khi trở về nơi cư trú đến tháng 4/2023, H lại đến huyện T, tỉnh Cao Bằng và được một người phụ nữ không quen biết đón bằng xe máy đưa đến bờ sông Q thuộc xã M, huyện H, tỉnh Cao Bằng và lội qua sông. Khi sang đến Trung Quốc, H được một người đàn ông Trung Quốc (không biết tên, địa chỉ) đón đưa vào sâu trong nội địa, thời gian này H sinh sống như vợ chồng với một người đàn ông Trung Quốc tên là PAN ZHI XU, sinh năm 1994 tại thành phố L, Q, Trung Quốc. Đến ngày 06/11/2023, cơ quan chức năng Trung Quốc phát hiện H cư trú bất hợp pháp nên đã phạt tiền 1.000CNY (nhân dân tệ) về hành vi “Cư trú bất hợp pháp”. Sau đó, Nguyễn Thị H được Cơ quan chức năng Trung Quốc cấp visa cho phép tạm trú ở Trung Quốc đến hết ngày 14/12/2023. Ngày 16/11/2023, Nguyễn Thị H làm thủ tục nhập cảnh về Việt Nam qua cửa khẩu M, tỉnh Quảng Ninh thì bị Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế M, tỉnh Quảng Ninh phát hiện hộ chiếu không đóng dấu kiểm chứng khi xuất cảnh, nên tổ công tác đã lập biên bản để xử lý theo quy định của pháp luật.
Ngày 07/12/2023, Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế M, tỉnh Quảng Ninh đã chuyển hồ sơ vụ việc: Hành vi có dấu hiệu của tội “Vi phạm quy định về xuất cảnh” của Nguyễn Thị H đến Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh C để giải quyết theo quy định.
Tại Cáo trạng số: 20/CT-VKSCB-P1 ngày 13/03/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Vi phạm quy định về xuất cảnh” theo quy định tại Điều 347 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị H đã thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố trình bày lời luận tội đánh giá các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo khẳng định quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thị H là có căn cứ, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 347; điểm s, i, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Vi phạm quy định về xuất cảnh”; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng; Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm; Về xử lý vật chứng: Không có.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị H: Ông Triệu Bằng G nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về phần luận tội về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên về hình phạt cần xem xét bị cáo Nguyễn Thị H thuộc hộ nghèo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do hoàn cảnh khó khăn nên phải tìm kiếm việc nuôi sống bản thân nên đã vi phạm pháp luật. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s, i, n khoản 1, khoản 2 Điều 51, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt hình phạt tiền ở mức khởi điểm đối với bị cáo là 05 triệu đồng. Bị cáo thuộc hộ nghèo nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát đối đáp quan điểm của người bào chữa: Nhất trí với đề nghị của người bào chữa về hình phạt đối với bị cáo, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị H từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt vì bị cáo đang mang thai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản vụ việc và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 31/3/2023, Nguyễn Thị H nhập cảnh trái phép qua cửa khẩu L và đã bị Đồn Biên phòng cửa khẩu L xử phạt vi phạm hành chính bằng tiền 3.000.000 đồng. Ngày 16/11/2023, Nguyễn Thị H làm thủ tục nhập cảnh về Việt Nam bằng hộ chiếu số P00234879 thì bị Đồn Biên phòng cửa khẩu M, tỉnh Quảng Ninh phát hiện hộ chiếu không đóng dấu kiểm chứng khi xuất cảnh. Lần phạm tội ngày 16/11/2023 của Nguyễn Thị H đã cấu thành tội vi phạm quy định về xuất cảnh.
Xét thấy, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị H xuất cảnh trái phép qua biên giới không làm thủ tục với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là vi phạm pháp luật. Hành vi đó đã có đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về xuất cảnh”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 347 Bộ luật Hình sự.
Khi thực hiện hành vi xuất cảnh trái phép bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến trật tự quản lý trong lĩnh vực xuất nhập cảnh, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án.
Tiền sự: Ngày 31/03/2023 bị Đồn Biên phòng cửa khẩu L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Qua lại biên giới quốc gia không làm thủ tục xuất cảnh”, phạt tiền 3.000.000 đồng.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo đang có thai nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i, n khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt: Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa đề nghị hình phạt tiền đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Nguyễn Thị H thuộc hộ nghèo, không có việc làm ổn định, hiện đang mang thai nên không có khả năng thi hành án do đó không có căn cứ để chấp nhận.
Xét hoàn cảnh khó khăn, bị cáo đã có hành vi xuất cảnh sang Trung Quốc mà không làm thủ tục xuất cảnh theo quy định của pháp luật. Do tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, bản thân bị cáo là lao động thuần tuý xuất cảnh ra nước ngoài nhằm mục đích nuôi sống bản thân và gia đình, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục cũng đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
[5] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo không bị thu giữ vật chứng hoặc tài sản gì nên không đặt vấn đề xem xét.
[6] Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Vi phạm quy định về xuất cảnh”.
Về hình phạt: Áp dụng Điều 347; điểm s, i, n khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Thị H được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ngôn Ngọc Viên |
Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về vi phạm quy định về xuất cảnh
- Số bản án: 46/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về xuất cảnh
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 31/3/2023, Nguyễn Thị H nhập cảnh trái phép qua cửa khẩu L và đã bị Đồn Biên phòng cửa khẩu L xử phạt vi phạm hành chính bằng tiền 3.000.000 đồng. Ngày 16/11/2023, Nguyễn Thị H làm thủ tục nhập cảnh về Việt Nam bằng hộ chiếu số P00234879 thì bị Đồn Biên phòng cửa khẩu M, tỉnh Quảng Ninh phát hiện hộ chiếu không đóng dấu kiểm chứng khi xuất cảnh. Lần phạm tội ngày 16/11/2023 của Nguyễn Thị H đã cấu thành tội vi phạm quy định về xuất cảnh.
