|
TAND HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2024/HS- ST Ngày 23 tháng 4 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Văn Hải;
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Trường ;
2. Ông Lê Văn Đô.
Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Đông- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Hạnh- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HS ngày 08/4/2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Ngô Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1992;
Nơi cư trú: thôn M, xã M, huyện H, Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 9/12.
Con ông: Ngô Hồng H, sinh năm 1966 và bà Ngô Thị H1 năm 1968; Vợ: Ngô Thị H2sinh năm 1996; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018; Gia đình có ba chị em, bị cáo là con thứ ba.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Ngô Văn T13 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.
Bị cáo bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/12/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H13(Có mặt).
2. Họ và tên: Nguyễn Văn H2; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1983;
Nơi ĐKHKTT: thôn M, xã M, huyện H, Bắc Giang
Nơi ở hiện nay: thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12.
Con ông: Nguyễn Văn L(đã chết) và bà Ngô Thị H3 năm 1961; Vợ: Phạm Thị K năm 1985; Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2012; Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo đầu thú; bị tạm giữ từ ngày 11/12/2023 đến ngày 19/12/2023. Hiện đang áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
3. Họ và tên: Ngô Huy H4; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1988;
Nơi cư trú: thôn M, xã M, huyện H, Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12. Là đảng viên Đ sinh hoạt tại Chi bộ thôn M, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang(hiện đã bị khai trừ ra khỏi Đảng theo Quyết định số 147-QĐ/UBKTHU ngày 23/01/2024 của Huyện ủy H9).
Con ông: Ngô Huy K1, sinh năm 1958 và bà Chu Thị B, sinh năm 1956; Vợ: Phạm Quỳnh T1sinh năm 1988; Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2020; Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ hai.
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 11/12/2023 đến ngày 19/12/2023. Hiện đang áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
4. Họ và tên: Phạm Văn C; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1979;
Nơi cư trú: thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 6/12.
Con ông: Phạm Văn N, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị T1 năm 1959; Vợ: Nguyễn Thị L1sinh năm 1984; Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2010; Gia đình có ba anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 10/12/2023 đến ngày 19/12/2023. Hiện đang áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1982. Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang(Vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị L2 năm 1984. Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang(Vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn H5 năm 1977. Địa chỉ: Thôn C - P, xã B, huyện T, Thành phố Hà Nội(Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn T2 năm 1985. Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt).
- Bà Quách Thị B1sinh năm 1966. Địa chỉ: Thôn C, xã A, huyện L, tỉnh Hòa Bình(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 10/12/2023, Phòng C10 Công an tỉnh Bphối hợp với Công an huyện H, phát hiện bắt quả tang tại khu vực phòng tắm ở tầng 1 nhà Phạm Văn C, sinh năm 1979 ở thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang 01 bộ xương liền da, không nội tạng, không nguyên vẹn, nghi là cá thể hổ đã chết. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Văn C1 giữ vật chứng là 01 bộ xương liền da nghi là cá thể hổ (được bảo quản trong tủ bảo ôn nhãn hiệu Sanaky và niêm phong theo quy định), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 6A và 01 bao tải dứa màu trắng (bút lục 42-43). Phạm Văn C khai nhận cá thể thu giữ tại nhà Cầu là hổ do Nguyễn Văn H3sinh năm 1983 trú tại thôn T, xã H, huyện H nhà Cầu để nấu cao.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H khám xét nơi ở của Phạm Văn C2 quả thu giữ tại nhà bếp của C03 bếp gas công nghiệp (loại bếp đơn), 02 nồi áp suất, 01 xoong quân dụng, 02 xoong đúc, 01 mô tơ điện màu xanh, 01 khuôn cắt bằng gỗ, 04 bình gas, 03 con dao, 01 chiếc thìa bằng kim loại, 01 thanh kim loại được hàn hai đầu (bút lục 45-46).
Ngày 11/12/2023, N1 H5sinh năm 1988 trú tại thôn M, xã M, huyện H Cảnh sát điều tra Công an huyện Hđầu thú về hành vi tàng trữ cá thể hổ. Quá trình đến Cơ quan Công an đầu thú, H3tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A34 và 01 xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Captiva, biển kiểm soát 30F-169.01 (trong xe không có tài sản gì); Ngô H6 H5tự nguyện giao nộp 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Wigo, biển kiểm soát 98A-337.42 (trong xe có 04 con dao loại dao gọt hoa quả, dài 27cm) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo.
Căn cứ lời khai của H3H5và Ccùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hthi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Ngô Văn T3 năm 1992 trú tại thôn M, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giangvà thu giữ của T01 điện thoại di động nhãn hiệu Goly, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s. Đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của N Văn Tvà N H5kết quả không thu giữ tài liệu, đồ vật gì (bút lục 51-58).
Ngày 12/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H Quyết định trưng cầu giám định 01 bộ xương liền da nghi là cá thể hổ thu giữ tại nhà Cầu ngày 10/12/2023. Tại Kết luận giám định số 2173/STTNSV ngày 14/12/2023 của Vkết luận: 01 bộ xương liền da, không nội tạng là của 01 cá thể loài Hổ, có tên khoa học P. Xác định tình trạng bảo tồn theo quy định của pháp luật: 1. Loài Hổ (Plcó tên trong phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ. 2. Loài Hổ (Panthera tigris) có tên trong Nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ. 3. Loài Hổ (P1có tên trong phụ lục I, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp(CITES) ban hành kèm theo Thông báo số 25/TB- CTVN ngày 17/02/2023 của Cơ quan quản lý C1 (bút lục 167-172).
Tại cơ quan điều tra, N2 H5và Phạm Văn C3 nhận: Ngày 05/12/2023, có một người đàn ông gọi điện thoại vào số điện thoại 0964.632.xxx của Ngô Văn T; tự giới thiệu tên là N1nhà ở tỉnh Hà Tĩnh hiện đang có một con hổ đã chết, chỉ còn da bọc xương, không còn nội tạng được nhập từ bên Lào về và có nhu cầu muốn bán. Tvà N1 trao đổi, thống nhất với nhau mua bán cá thể hổ trên với số tiền 150.000.000 đồng, khi nào nấu cao xong sẽ thanh toán tiền và hẹn giao hổ vào ngày 10/12/2023 tại thôn M, xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang, đồng thời Tcung cấp số điện thoại 0962.777.xxx của mình cho N1để tiện liên hệ. Sau khi đồng ý mua cá thể hổ trên, T4 lạc với N3 H3tìm người mua cao hổ và tìm địa điểm để nấu cao hổ bán kiếm lời, đồng thời hứa hẹn với H3sau khi nấu cao hổ xong sẽ cho H3vài chục triệu đồng, H3đồng ý. Sau đó, H3gọi điện thoại cho Phạm Văn C4 năm 1979 trú tại thôn H, xã H, huyện H(là anh vợ H3đặt vấn đề cho H3nấu cao hổ tại nhà Cầu thì Cđồng ý.
Khoảng 09 giờ ngày 10/12/2023, T5 điện cho H3bảo H3đưa đến xem địa điểm nấu cao hổ. H3điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 30F-169.01 đến đón T6 chở T7 nhà Cầu. Tại đây, T8 quanh nhà quan sát để tìm vị trí cất giấu và nấu cao hổ. Sau đó, H3chở Tvề nhà T9 H3đi về nhà mình. Sau khi về đến nhà, đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, có một người đàn ông sử dụng số điện thoại 0345.150.xxx gọi đến số điện thoại 0962.777.xxx của T10 hỏi T11 hổ ở địa điểm nào. Ttrao đổi với người đàn ông đó sẽ giao hàng ở sân bóng thôn M, xã M, huyện H, T mình đi bộ ra khu vực sân bóng thì thấy có một xe ô tô nhãn hiệu Kia morning, màu trắng (Tkhai không nhớ biển kiểm soát) đang đỗ ở rìa đường. Tđi đến vị trí xe ô tô thì thấy trong xe có một người đàn ông đội mũ, đeo khẩu trang. Sau khi xác nhận đúng là Tthì người đàn ông đó bảo với T12 “hàng anh để ở cốp xe” (ý nói là hổ). Tbảo cho T13 xe ô tô để đi cất hổ thì người đàn ông đó đồng ý. Tmột mình điều khiển xe ô tô đến thẳng nhà Cầu. Khi đến nơi, lúc này nhà Cầu không có ai ở nhà, do cá thể hổ nặng, một mình Tkhông thể khiêng vào nhà Cầu được nên T14 gọi điện cho H3bảo H3và Ngô Huy H5đến nhà Cầu để khiêng hổ đi cất giấu, H3đồng ý. Sau đó, H3điều khiển xe ô tô đón H5đến nhà Cầu. Khi H3H5đến nơi thì T15 cốp xe ô tô ra rồi cùng H3Hoàng khiêng bao tải dứa màu trắng bên trong chứa hổ vào cất giấu tại phòng tắm ở tầng 1 của gia đình CSau khi cất giấu hổ xong, T16 khiển xe ô tô chở H5về rồi quay lại sân bóng thôn M trả xe cho người đàn ông vận chuyển hổ đến lúc trước, còn H3điều khiển xe ô tô đi thẳng về nhà.
Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, T5 điện cho H5bảo H7 lái xe ô tô đưa Tsang nhà H3rồi sang nhà Cầu để quay video, chụp ảnh con hổ, nếu có khách hỏi mua thì gửi cho khách. Tại phòng tắm ở tầng 1 của gia đình C; H5dùng dao rạch bao tải dứa màu trắng ra, để lộ bên trong là một cá thể hổ đã chết, còn nguyên phần đầu, da, chân, không còn nội tạng rồi cùng H3và Tdùng điện thoại di động chụp lại hình ảnh cá thể hổ trên và quay video, còn C5 ở ngoài xem. Sau đó, H3Tvà H5đi về và đều thống nhất buổi tối cùng ngày sẽ nấu cao hổ.
Để chuẩn bị cho việc nấu cao hổ, H3gọi điện thoại cho Nguyễn Văn T3sinh năm 1985 trú tại thôn T, xã M, huyện H(là người chuyên nấu cao) đặt vấn đề nhờ T3buổi tối ngày 10/12/2023 đến nhà Cầu nấu giúp nồi cao. Do trước đây H3và T3vẫn cùng nhau nấu cao ngựa nên khi H3đặt vấn đề, T3nghĩ là nấu cao ngựa nên đã đồng ý. Sau đó, khoảng 16 giờ ngày 10/12/2023 T3điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Thaco, biển kiểm soát 98C-212.59 chở các đồ vật, dụng cụ để nấu cao gồm 03 bếp gas công nghiệp, 02 nồi áp suất, 03 xoong, 01 mô tơ điện, 01 khuôn cắt bằng gỗ, 01 thìa bằng kim loại, 01 thanh kim loại và 03 con dao đến nhà H3Khi đến nhà H3thì H3ngồi lên xe ô tô của T3và bảo T3chở các đồ vật, dụng cụ đến và để ở nhà ngang của gia đình CH3nói với T3khi nào nấu cao sẽ gọi T3 và T3đi về. Trong thời gian này, H3bảo Cmua giúp 04 bình gas để nấu cao còn T5 điện cho H5nhờ mua giúp 04 con dao để lọc thịt từ xương hổ và 04 can nhựa để đựng rượu dùng tráng nồi sau khi việc nấu cao hoàn thành; Cvà H5đều đồng ý và thực hiện theo yêu cầu của H3và TĐến khoảng 20 giờ cùng ngày, lực lượng Công an huyện Htiến hành kiểm tra nhà Cầu, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật nêu trên (bút lục 290-367).
Đến ngày 20/12/2023, chị Phạm Thị H8 năm 1978 trú tại thôn M, xã M, huyện H giao nộp cho Cơ quan điều tra 04 can nhựa màu trắng và trình bày đây là 04 can nhựa mà Ngô H6 H5mang đến nhà chị ngày 10/12/2023 để mua rượu nhưng chưa kịp đến lấy.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H tiến hành kiểm tra điện thoại thu giữ của các đối tượng. Kết quả, tại điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X thu giữ của Tđiện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy thu giữ của H3và điện thoại di động nhãn hiệu Oppo thu giữ của H5có các hình ảnh, video của cá thể hổ được TH3H5quay và chụp lại ngày 10/12/2023 tại phòng tắm tầng 1 của gia đình CCơ quan điều tra đã tiến hành sao lưu và lưu vào hồ sơ vụ án (bút lục 105-166).
Đối với người đàn ông tên N1là người bán hổ và người đàn ông vận chuyển hổ đến bán cho T T17 không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Quá trình điều tra xác định số điện thoại liên lạc với T18 trao đổi mua bán hổ là 0345.150.835, số thuê bao đăng ký mang tên Quách Thị B1sinh năm 1966 trú tại thôn C, xã A, huyện L, tỉnh Hòa BìnhCơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với bà Blkết quả: từ trước đến nay bà B1không đăng ký và sử dụng số thuê bao trên, bà B1cũng không biết ai đang sử dụng số thuê bao trên. Đối với anh Nguyễn Văn T19 trình điều tra xác định ngày 10/12/2023, Nguyễn Văn H3thuê anh T3nấu cao nhưng T3không biết H3thuê nấu cao hổ. Do đó, không có căn cứ để xem xét, xử lý.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 cá thể động vật là loài hổ, có tên khoa học là P1ngày 09/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức bàn giao cho B1.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo là tài sản của H501 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A34 là tài sản của H301 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S là của T01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi là của C04 bình gas do C6; 04 con dao loại dao gọt hoa quả; 04 can rượu do H5mua đều liên quan đến hành vi phạm tội. Đối với 03 bếp gas công nghiệp (loại bếp đơn), 02 nồi áp suất, 01 xoong quân dụng, 02 xoong đúc, 01 mô tơ điện màu xanh, 01 khuôn cắt bằng gỗ, 03 con dao, 01 chiếc thìa bằng kim loại, 01 thanh kim loại được hàn hai đầu là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Văn T20 điện thoại di động nhãn hiệu Goly là của T01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Wigo, biển kiểm soát 98A-337.42 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của H501 xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Captiva, biển kiểm soát 30F-169.01 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của H3đều không liên quan đến hành vi phạm tội. Hiện Cơ quan điều tra đang nhập kho vật chứng để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo N2 H5và Phạm Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản cáo trạng số: 40/CT-VKS-HH ngày 26/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã truy tố các bị cáo Ngô Văn T21 Văn H3Ngô H6 H5và Phạm Văn C về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 244 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà các bị cáo Ngô Văn TNguyễn Văn H9 Huy H5và Phạm Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Ngô Văn T21 Văn H3Ngô H6 H5và Phạm Văn C và đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về căn cứ pháp luật và hình phạt:
1.1. Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 4 Điều 244; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 56; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự để xử phạt: Ngô Văn T từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Tổng hợp với phần hình phạt 13 tháng tại Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 31/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đối với bị cáo Ngô Văn T về tội: “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là từ 02 năm 05 tháng đến 02 năm 07 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/12/2023, nhưng được trừ đi những ngày bị tạm giữ, tạm giam của bản án trước từ ngày 11/3/2023 đến ngày 07/8/2023.
Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo T 50.000.000đồng.
1.2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự để xử phạt: Nguyễn Văn H2 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 04 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 08 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H14, huyện H, tỉnh Bắc Gianggiám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
1.3. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65Bộ luật hình sự để xử phạt: Ngô Huy H5 từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 03 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Thời gian thử thách từ 02 năm 04 tháng đến 02 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện H, tỉnh Bắc Gianggiám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
1.4. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự để xử phạt: Phạm Văn C từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 03 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Thời gian thử thách từ 02 năm 04 tháng đến 02 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H14, tỉnh Bắc Gianggiám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, số IMEI 1: 860821052632534, số IMEI 2: 860821052632526 (đã được niêm phong) của bị cáo H5;
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A34, số IMEI 1: 353370801395674, số IMEI 2: 353435771395671 (đã được niêm phong) của bị cáo H2
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 02 chiếc điện thoại di động của bị cáo TCụ thể gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, số IMEI: 356720089459245, kính mặt sau bị nứt vỡ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, số IMEI: 353263077174164 (đã được niêm phong).
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màn hình bị nứt vỡ, số IEMI 1: 864695041336738, số IEMI 2: 864695041336746 (đã được niêm phong) của bị cáo C
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 04 (Bốn) bình gas, loại 12kg, nhãn hiệu ANDUONG PETROL;
- Tịch thu tiêu hủy 04 con dao loại dao gọt hoa quả; 04 can nhựa và 01 bao tải dứa màu trắng.
- Trả lại anh Nguyễn Văn T22 tài sản sau: 03 bếp gas công nghiệp (loại bếp đơn), 02 nồi áp suất, 01 xoong quân dụng, 02 xoong đúc, 01 mô tơ điện màu xanh, 01 khuôn cắt bằng gỗ, 03 con dao, 01 chiếc thìa bằng kim loại, 01 thanh kim loại được hàn hai đầu.
- Trả lại bị cáo T01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Goly, số IMEI 1: 355229042780482, số IMEI 2: 355229042780490 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại bị cáo H501 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Wigo, biển kiểm soát 98A-337.42 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại bị cáo H301 xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Captiva, biển kiểm soát 30F-169.01 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2017 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án:
- Buộc các bị cáo N2 H5và Phạm Văn C mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Các bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng như Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.
[ 2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên họ đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3]. Về tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; vật chứng thu giữ, kết hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Sáng ngày 10/12/2023 Ngô Văn T23 một cá thể Hổ đã chết của một người đàn ông không quen biết với giá 150.000.000 đồng, T24 cá thể Hổ rồi một mình điều khiển xe ô tô chở đến nhà Phạm Văn C ở thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giangcất giấu nhằm mục đích nấu cao. Lúc này nhà Cầu không có ai ở nhà nên T14 gọi điện cho H3và Ngô Huy H5 đến nhà Cầu để khiêng cá thể Hổ vào nhà cất giấu, H3điều khiển xe ô tô đón H5đến nhà Cầu. Khi H3 và H5đến nơi thì T15 cốp xe ô tô ra rồi cùng nhau khiêng bao tải dứa màu trắng bên trong chứa cá thể Hổ vào cất giấu tại phòng tắm ở tầng 1 của gia đình CĐến khoảng 14 giờ cùng ngày, T5 điện bảo Hoàng lái xe ô tô đưa Tsang nhà H3rồi cùng nhau đến nhà Cầu để quay video, chụp ảnh con Hổ. Tại phòng tắm ở tầng 1 của gia đình C; H5dùng dao rạch bao tải dứa màu trắng ra, để lộ bên trong là một cá thể hổ đã chết, còn nguyên phần đầu, da, chân, không còn nội tạng rồi cùng H3và Tdùng điện thoại di động chụp lại hình ảnh cá thể hổ trên và quay video, lúc này C5 ở ngoài xem. Sau đó, H3Tvà H5đi về và thống nhất buổi tối cùng ngày sẽ đến nấu cao hộ cho T bán kiếm lời. Để chuẩn bị cho việc nấu cao hổ, T25 H3tìm người nấu hộ và chuẩn bị công cụ, dụng cụ để nấu cao. Khi các bị cáo chưa tiến hành nấu cao, đến khoảng 20 giờ 00 phút ngày 10/12/2023 thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Văn C1 giữ vật chứng là 01 bộ xương liền da nghi là cá thể hổ. Ngày 11/12/2023, N1 H5ra đầu thú và bắt khẩn cấp đối với Ngô Văn T26 hành vi tàng trữ cá thể H10. Theo Kết luận giám định số 2173/STTNSV ngày 14/12/2023 của Vkết luận: 01 bộ xương liền da, không nội tạng là của 01 cá thể loài Hổ, có tên khoa học P. Loài Hổ (Plcó tên trong phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ.
Do vậy, hành vi tàng trữ trái phép 01 cá thể Hổ của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 244 của Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4]. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm vào các qui định của Nhà nước về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến sự mất cân bằng trong hệ sinh thái tự nhiên và làm giảm số lượng các loài động vật quý, hiếm trong tự nhiên được pháp luật bảo vệ, do đó cần xử phạt nghiêm minh để răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
[5] Xét về vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy: Mặc dù tất cả các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, nhưng không có sự câu kết chặt chẽ, không phân công, phân nhiệm từng vị trí, vai trò cụ thể cho từng đối tượng giữa các bị cáo trong việc thực hiện hành vi phạm tội nên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức mà chỉ mang tính đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của mỗi bị cáo trong vụ án này có sự khác nhau, cụ thể:
- Bị cáo T là người trực tiếp liên hệ mua và nhận cá thể Hổ, đồng thời bị cáo đã tự liên hệ với bị cáo H3nhờ tìm địa điểm và thuê người nấu cao hổ để bán kiếm lời nên bị cáo T12 giữ vai trò đầu vụ. Đối với bị cáo H3có vai trò đồng phạm là người giúp sức tích cực. Tuy bị cáo không có sự bàn bạc, thống nhất cùng bị cáo T18 mua cá thể hổ nhưng bị cáo lại là người trực tiếp tìm địa điểm cất giấu hổ để nấu cao và là người thuê người nấu cao H8cho bị cáo T nên giữ vai trò thứ hai trong vụ án. Đối với bị cáo H5là người biết rõ T23 hổ về cất giấu để nấu cao nhưng khi được T10 H3đặt vấn đề giúp sức trong việc khiêng hổ từ xe ô tô vào trong nhà và giúp sức việc chuẩn bị công cụ, phương tiện trong việc nấu cao hổ cho bị cáo T27 bị cáo H5cũng tích cực thực hiện. Đối với bị cáo C biết rõ hổ là động vật quý hiến cần được bảo vệ nhưng khi H3đặt vấn đề nhờ địa điểm nấu cao hổ tại nhà mình thì bị cáo đồng ý cho T10 H3cất giấu hổ tại nhà mình để nấu cao nên trong vụ án này bị cáo H5và bị cáo C7 vai trò giúp sức và ngang nhau. Do vậy, khi áp dụng hình phạt cần phải xem xét đến tính chất, mức độ, động cơ, mục đính và vai trò của mỗi bị cáo để có mức án tương xứng với hành vi của từng bị cáo.
[6]. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Sau khi bị phát hiện bị cáo H3và H5ra đầu thú, khai rõ hành vi phạm tội của bản thân và đồng phạm trước cơ quan điều tra. Bị cáo H5có thời gian tham gia quân đội và trong quá trình công tác bị cáo được Chủ tịch UBND xã M giấy khen hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi năm 2020. Bị cáo H3 có bố để là ông Nguyễn Văn L3 người có công với cách mạng và bị thương binh hạng A. Bị cáo T28 ông nội là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Bị cáo Ccó bố đẻ là người có công với đất nước đã từng tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế sau ngày 30/4/1975. Do vậy, các bị cáo TH3H5và C đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[7]. Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Mặc dù bị cáo T14 từng bị Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 13 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo Bản án số 09/2024/HS-ST ngày 31/01/2024 nhưng trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm, vì thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bị xét xử trong vụ án này (là ngày 10/12/2023) là trước khi bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên kết án.
[8]. Xét về nhân thân của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo H3H5và C8 là người có nhân thân tốt, chưa từng bị kết án; không có tiền án, tiền sự.
Riêng bị cáo T, ngày 31/01/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Ngô Văn T13 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” tại Bản án số 09 ngày 31/01/2024.
[9]. Sau khi xem xét động cơ, mục đích, tính chất, vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng:
[9.1]. Đối với bị cáo T trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị xét xử trong vụ án này bị cáo đã từng bị khởi tố bị can và bị truy tố về hành vi phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”, trong thời gian điều tra, truy tố bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo T là phù hợp với tính chất, mức độ và vai trò của bị cáo gây ra nên Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát. Có như vậy mới đủ điều kiện để bị cáo cải sửa lỗi lầm của mình và để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Về tổng hợp hình phạt: Tại Bản án số 09 ngày 31/01/2024 bị cáo T29 Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 13 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Do bị cáo không kháng cáo nên phần hình phạt của bản án số 09 đối với bị cáo đã có hiệu lực pháp luật nên cần áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt của bản án trước và hình phạt của bản án này để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.
[9.2]. Đối với các bị cáo H3H5và C: Mặc dù hậu quả của hành vi phạm tội là nghiêm trọng nhưng các bị cáo là người bị rủ rê, lôi kéo; là đồng phạm giữ vai trò giúp sức trong vụ án. Bản thân các bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này các bị cáo chưa từng bị xét xử, các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy việc không bắt các bị cáo H3H5và C đi chấp hành hình phạt tù có thời hạn cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Nhằm đề cao chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội, tạo cơ hội cho các bị cáo sửa chữa, cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội. Do vậy, chưa cần thiết phải bắt các bị cáo H3H5và Cđi chấp hành hình phạt tù có thời hạn mà cho các bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đủ để các bị cáo lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân làm người có ích cho gia đình và xã hội.
[10]. Xét về hình phạt bổ sung: Bị cáo T30 tội nhằm mục đích bán kiếm lời nên ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
- Các bị cáo H3H5Cphạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức cho bị cáo T10 chưa được hưởng lợi gì nên cần miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho các bị cáo.
[11]. Đối với người đàn ông tự xưng tên là N1là người bán hổ và người đàn ông vận chuyển hổ đến giao cho T theo T17 không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ của họ ở đâu. Quá trình điều tra xác định số điện thoại liên lạc với T18 trao đổi mua bán hổ là số thuê bao đăng ký mang tên Quách Thị B1sinh năm 1966 trú tại thôn C, xã A, huyện L, tỉnh Hòa BìnhCơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với bà B1kết quả: từ trước đến nay bà B1không đăng ký và sử dụng số thuê bao trên, bà B1cũng không biết ai đang sử dụng số thuê bao trên. Do đó, không có căn cứ để xem xét, xử lý đối với người bán, người giao hổ cho T10 bà B1là đúng.
[12] Đối với anh Nguyễn Văn T19 trình điều tra xác định ngày 10/12/2023, bị cáo Nguyễn Văn H11 anh T3nấu cao nhưng anh T3không biết H3thuê nấu cao hổ nên mới nhận lời và chuẩn bị công cụ mang đến nhà Cầu để nấu cao, anh T3chưa được ai nói nấu cao hổ và cũng không biết các bị cáo cất giấu hổ tại nhà bị cáo C. Do đó, không có căn cứ để xem xét, xử lý đối với anh T31.
[13]. Đối với 01 cá thể hổ đã chết thu giữ khi bắt quả tang là loài hổ có tên khoa học là P. Ngày 09/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức bàn giao cho B3thuộc Vlà phù hợp với điểm d khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự.
[14]. Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo là tài sản của H5 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A34 là tài sản của H3 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S là của T01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi là của C04 bình gas do Có mua đều liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Đối với 04 con dao loại dao gọt hoa quả; 04 can nhựa do bị cáo H5mua để đựng rượu phục vụ việc nấu cao hổ; 01 bao tải dứa màu trắng đều liên quan việc phạm tội và có giá trị không lớn nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 03 bếp gas công nghiệp (loại bếp đơn), 02 nồi áp suất, 01 xoong quân dụng, 02 xoong đúc, 01 mô tơ điện màu xanh, 01 khuôn cắt bằng gỗ, 03 con dao, 01 chiếc thìa bằng kim loại, 01 thanh kim loại được hàn hai đầu là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Văn T32 mặc dù anh T3mang đến để nấu cao theo yêu cầu của H3nhưng anh T3không biết nấu cao Hổ nên cần trả các tài sản trên cho anh T32
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Goly là của T01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Wigo, biển kiểm soát 98A-337.42 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của H501 xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Captiva, biển kiểm soát 30F-169.01 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của H3đều không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên trả lại cho các bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.
[15]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2017 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án:
- Buộc các bị cáo TH3H5và C mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về áp dụng điều luật và hình phạt:
1.1. Áp dụng điểm b khoản 1, khoản 4 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 56 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Ngô Văn T 01 (Một) năm 04 (B2tháng tù về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Tổng hợp với hình phạt 01 (Một) năm 01 (Một) tháng tù tại Bản án hình sự số 09/2024/HSST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 02 (Hai) năm 05 (Năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 11/12/2023, nhưng được trừ đi những ngày bị tạm giữ, tạm giam của bản án trước từ ngày 11/3/2023 đến ngày 07/8/2023.
Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo T 50.000.000đồng để sung vào ngân sách nhà nước
1.2. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H2 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã H14, tỉnh Bắc Gianggiám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
1.3. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Ngô H6 H5 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 04 (Bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã M, huyện H, tỉnh Bắc Gianggiám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
1.4. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn C9 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 04 (Bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã H14, tỉnh Bắc Gianggiám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
* Trong thời gian thử thách, nếu người (các bị cáo) được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, số IMEI 1: 860821052632534, số IMEI 2: 860821052632526 (đã được niêm phong) của bị cáo H5;
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A34, số IMEI 1: 353370801395674, số IMEI 2: 353435771395671 (đã được niêm phong) của bị cáo H2
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 02 chiếc điện thoại di động của bị cáo T33 Cụ thể gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, số IMEI: 356720089459245, kính mặt sau bị nứt vỡ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, số IMEI: 353263077174164 (đã được niêm phong).
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màn hình bị nứt vỡ, số IEMI 1: 864695041336738, số IEMI 2: 864695041336746 (đã được niêm phong) của bị cáo C
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 04 (Bốn) bình gas, loại 12kg, nhãn hiệu ANDUONG PETROL;
- Tịch thu tiêu hủy 04 con dao loại dao gọt hoa quả; 04 can nhựa và 01 bao tải dứa màu trắng.
- Trả lại anh Nguyễn Văn T22 tài sản sau: 03 bếp gas công nghiệp (loại bếp đơn), 02 nồi áp suất, 01 xoong quân dụng, 02 xoong đúc, 01 mô tơ điện màu xanh, 01 khuôn cắt bằng gỗ, 03 con dao, 01 chiếc thìa bằng kim loại, 01 thanh kim loại được hàn hai đầu.
- Trả lại bị cáo T01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Goly, số IMEI 1: 355229042780482, số IMEI 2: 355229042780490 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại bị cáo H501 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Wigo, biển kiểm soát 98A-337.42 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại bị cáo H301 xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Captiva, biển kiểm soát 30F-169.01 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Toàn bộ đặc điểm vật chứng theo quyết định chuyển vật chứng số 32/QĐ-VKS-HH ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang và biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/4/2024 giữa Công an huyện H13 và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2017 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án:
- Buộc các bị cáo Ngô Văn T Nguyễn Văn H12 Ngô Huy H5và Phạm Văn C mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Văn Hải |
Bản án số 46/2024/HS- ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (vụ án hình sự)
- Số bản án: 46/2024/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐỘNG VẬT QUÝ HIẾM
