Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN THÀNH

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 46/2024/DS-DT

Ngày: 22-08-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH -TỈNH NGHỆ AN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Xuân Thọ - Thẩm phán.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần danh Phú.
  2. Bà Nguyễn Lệ Lan.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nhật Thanh – Thư ký, Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Luyện Văn Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 22/08/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 124/2024/TLST- DS ngày 05 tháng 06 năm 2024 về việc “ tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định hoãn phiên tòa số 58/2024/QĐST- DS ngày 30/07/2024 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần V.

Địa chỉ: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

  • - Ông Ngô Chí D – Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật ( vắng mặt) .
  • - Ông Nguyễn Hồng B – Trưởng phòng xử lý nợ là người đại diện theo uỷ quyền (Văn bản uỷ quyền ngày 02/08/2023 ) ( vắng mặt).
  • - Ông Phan Thanh C và ông Thái Đình Đ – Chuyên viên xử lý nợ là người đại diện theo uỷ quyền lại (Văn bản uỷ quyền ngày 30/04/2024 ) ( có mặt).

2.Bị đơn:

  • - Bà Trần Thị H, sinh năm1976 ( Có mặt).
  • Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
  • -Ông Trần Văn T, sinh năm 1973 (vắng mặt).
  • Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 30 tháng 04 năm 2024 và trong quá giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V trình bày:

Ngày 11/11/2022, khách hàng bà Trần Thị H, ông Trần Văn T và Ngân hàng thương mại cổ phần V (sau đây viết tắt là V1) ký hợp đồng tín dụng số LN2211087357601, nội dung như sau:

  • - Số tiền vay: 800.000.000 đồng.
  • - Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh buôn chuyến nông sản.
  • - Thời hạn vay 12 tháng, kể từ ngày tiếp theo ngày bên ngân hàng giải ngân số tiền vay.
  • - Lịch trả nợ gốc: Cuối kỳ.
  • - Lịch trả lại: Hàng tháng vào ngày 15, kỳ trả lại đầu tiền vào ngày 15/12/2023.
  • - Lãi suất cho vay : 7,99 %/năm, lãi suất này sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,8%/năm.
  • - Lãi suất quá hạn : 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
  • Lãi suất trên số tiền lãi chậm trả : 150% lãi suất cho vay nhưng tối đa không quá 10%/năm.
  • Khách hàng vi phạm các điều khoản theo hợp đồng thì Ngân hàng có quyền chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn và gửi thông báo cho khách hàng được biết.
  • Chuyển nợ quá hạn : Kể từ ngày đến hạn trả nợ gốc theo các kỳ hạn hoặc kết thúc kỳ hạn cho vay hoặc Ngân hàng có thông báo về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn nếu khách hành không trả hết nợ gốc phải trả đúng hạn.
  • Tài sản đảm bảo cho khoản tiền vay:

Ông Trần Văn T và bà Trần Thị H thế chấp Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khắc gắn liền với đất, thửa đất số 69, tờ bản đồ số 74, diện tích 495 m², địa chỉ: xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Được Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận (quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) cho ông Trần Văn T và bà Trần Thị H ngày 25/03/2015, tại Ngân hàng thương mại cổ phần V để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Ngày 10/11/2023 Ngân hàng đã giải ngân cho bà Trần Thị H, ông Trần Văn T 800.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của bà H. Bà Trần Thị H và ông Trần Văn T đã ký khế ước nhận nợ 800.000.000 đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà Trần Thị H, ông Trần Văn T trả tiền lãi khoản vay từ ngày 10/11/2023 đến ngày 14/12/2023 là 6.129.315 đồng, đến ngày 06/02/2024 tiền lãi phải trả 9.088.502 đồng, bà H, ông T trả 368.156 đồng, còn nợ tiền lãi là 8.720.346 đồng; đến kỳ trả lãi hàng tháng tiếp theo nhưng bà Trần Thị H và ông Trần Văn T không thực hiện nghĩa vụ trả lãi.

Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu bà H, ông T trả lãi nhưng bà H, ông T vẫn không chịu thực hiện nghĩa vụ trả lãi theo yêu cầu.

Do bà H, ông T vi phạm hợp đồng về nghĩa vụ trả tiền lãi nên ngày 10/04/2024 Ngân hàng đã ra thông báo gửi bà H, ông T là “chuyển khoản vay 800.000.000 đồng sang nợ quá hạn ngày 15/02/2024, với mức lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn. Tính đến ngày 10/04/2024 dư nợ khoản vay trên là: nợ gốc 800.000.000 đồng, nợ lãi 30.150.419 đồng, tổng: 830.150.419 đồng. Yêu cầu bà H, ông T thanh toán khoản dư nợ trước ngày 30/04/2024"

Tuy nhiên đến ngày 30/04/2024 bà H, ông T không chịu thanh toán khoản dư nợ cho V1 nên V1 yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

  • - Buộc bà H, ông T trả cho V1 gồm:

Nợ gốc: 800.000.000 đồng.

Lãi trong hạn: 10.999.734 đồng.

  1. Từ ngày 15/12/2023 đến ngày 06/02/2024 là 54 ngày x 800.000.000 đồng x 7,99%/năm = 9.088.502 đồng. Đã thanh toán 368.156 đồng còn nợ 8.720.346 đồng.
  2. Từ ngày 07/02/2024 đến ngày 14/02/2023 là 08 ngày x 800.000.000 đồng x 10,9%/năm = 1.911.232 đồng.

Lãi quá hạn: 55.699.726 đồng.

  1. Từ ngày 15/02/2024 đến ngày 10/03/2024 là 25 ngày x 800.000.000 đồng x 10,9%/năm x 150% = 8.958.904 đồng.
  2. Từ ngày 11/03/2024 đến ngày 10/04/2024 là 31 ngày x 800.000.000 đồng x 10%/năm x 150% = 10.191.871 đồng.
  3. Từ ngày 11/04/2024 đến ngày 26/04/2024 là 16 ngày x 800.000.000 đồng x 10,5%/năm x 150% = 5.523.288 đồng.
  4. Từ ngày 27/04/2024 đến ngày 10/05/2024 là 14 ngày x 800.000.000 đồng x 10,5%/năm x 150% = 4.832.877 đồng.
  5. Từ ngày 10/06/2024 đến ngày 09/07/2024 là 30 ngày x 800.000.000 đồng x 10,7%/năm x 150% = 10.553.425 đồng.
  6. Từ ngày 10/07/2024 đến ngày 09/08/2024 là 31 ngày x 800.000.000 đồng x 10,9%/năm x 150% = 11.109.041 đồng.
  7. Từ ngày 10/08/2024 đến ngày 22/08/2024 là 13 ngày x 800.000.000 đồng x 10,6%/năm x 150% = 4.530.411 đồng.

Tổng cộng: 866.699.461 đồng.

  • - Tiếp tục tính lãi cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng.
  • - Trong trường hợp khách hàng bà Trần Thị H và ông Trần Văn T không trả được nợ hoặc không trả đủ nợ cho V1 thì cho phát mãi ngay toàn bộ tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết.
  • -Trường hợp sau khi phát mãi bán tài sản đảm bảo mà không đủ bù đắp số tiền gốc nợ vay, tiền lãi vay, lãi phạt có liên quan, án phí, lệ phí, chi phí phát mãi tài sản (nếu có) thì khách hàng bà Trần Thị H và ông Trần Văn T có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền còn thiếu.

Tại bản tự khai đề ngày 12 tháng 06 năm 2024 và trong quá giải quyết vụ án, bị đơn bà Trần Thị H trình bày:

Ngày 11/11/2022, B1 và chồng là ông Trần Văn T ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng thương mại cổ phần V, nội dung như sau:

  • - Số tiền vay: 800.000.000 đồng.
  • - Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh buôn chuyến nông sản.
  • - Thời hạn vay 12 tháng, kể từ ngày tiếp theo ngày bên ngân hàng giải ngân số tiền vay.
  • - Lịch trả nợ gốc: Cuối kỳ.
  • - Lịch trả lại: Hàng tháng vào ngày 15, kỳ trả lại đầu tiền vào ngày 15/12/2023.
  • - Lãi suất cho vay : 7,99%/năm, lãi suất này sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,8%/năm.
  • - Lãi suất quá hạn : 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
  • Lãi suất trên số tiền lãi chậm trả : 150% lãi suất cho vay nhưng tối đa không quá 10%/năm.
  • Khách hàng vi phạm các điều khoản theo hợp đồng thì Ngân hàng có quyền chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn và gửi thông báo cho khách hàng được biết.
  • Chuyển nợ quá hạn : Kể từ ngày đến hạn trả nợ gốc theo các kỳ hạn hoặc kết thúc kỳ hạn cho vay hoặc Ngân hàng có thông báo về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn nếu khách hành không trả hết nợ gốc phải trả đúng hạn.
  • Tài sản đảm bảo cho khoản tiền vay:

Vợ chồng bà thế chấp Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khắc gắn liền với đất, thửa đất số 69, tờ bản đồ số 74, diện tích 495 m2, địa chỉ: xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Được Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận (quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) cho ông Trần Văn T và bà Trần Thị H ngày 25/03/2015, tại Ngân hàng thương mại cổ phần V để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Ngày 10/11/2023 Ngân hàng đã giải ngân cho vợ chồng bà 800.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của B1 và vợ chồng B1 đã ký khế ước nhận nợ 800.000.000 đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng vợ chồng Bà trả tiền lãi đến ngày 14/12/2023 là 6.129.315 đồng. Đến ngày 06/02/2024 tiền lãi phải trả 9.088.502 đồng nhưng vợ chồng Bà chỉ trả được 368.156 đồng, còn nợ là 8.720.346 đồng.

Do kinh tế sa sút nên vợ chồng B1 chưa trả tiền lãi hàng tháng tiếp theo cho đến nay.

Do vợ chồng Bà vi phạm hợp đồng nay V1 yêu cầu:

  • - Vợ chồng bà trả cho V1 gồm:

Nợ gốc: 800.000.000 đồng.

Lãi trong hạn: 10.999.734 đồng.

Lãi quá hạn: 55.699.726 đồng.

Tổng cộng: 866.699.461 đồng.

  • - Tiếp tục tính lãi cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng.
  • - Trong trường hợp vợ chồng bà không trả được nợ hoặc không trả đủ nợ cho V1 thì cho phát mãi ngay toàn bộ tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết.
  • -Trường hợp sau khi phát mãi bán tài sản đảm bảo mà không đủ bù đắp số tiền gốc nợ vay, tiền lãi vay, lãi phạt có liên quan, án phí, lệ phí, chi phí phát mãi tài sản (nếu có) thì vợ chồng bà có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền còn thiếu.

Thì Bà hoàn hoàn nhất trí.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, công bố việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa và việc giải quyết vụ án:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án tuân theo pháp luật của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 101, khoản 1 Điều 157, Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 292, Điều 295, Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 322, 323, Điều 351, Điều 357, Điều 463, khoản 5 Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 27, 37 Luật hôn nhân gia đình; khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 1, điều 2 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Thống đốc Ngân hàng N về hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; Điều 7, điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của chính phủ về giao dịch đảm bảo; khoản 2 Điều 8, Điều 12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP và khoản 4 Điều 13 Thông Tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V. Buộc ông Trần Văn T và bà Trần Thị H phải có trách nhiệm liên đới thanh toán cho Ngân hàng số tiền

vay tại hợp đồng tín dụng nêu trên tạm tính đến ngày xét xử cho ngân hàng là: nợ gốc: 800.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn; lãi quá hạn tính đến thời điểm xét xử.

Trường hợp ông T và bà H không trả hoặc trả không đủ thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp của bà Trần Thị H và ông Trần Văn T đã thế chấp cho ngân hàng tại Hợp đồng thế chấp số LN2211087357601 ngày 11/11/2022 để thu hồi các khoản nợ. Trong trường hợp các tài sản sau khi kê biên, phát mại không đủ trả nợ thì bà Trần Thị H và ông Trần Văn T phải có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ cho đến khi thực tế trả hết khoản nợ

2. Về án phí:

Buộc bị đơn là ông Trần Văn T và bà Trần Thị H phải nộp Án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Ngân hàng TMCP V được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục THADS huyện Y.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến trình bày của Ngân hàng thương mại Cổ phần V tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về tố tụng:

Bị đơn bà Trần Thị H và ông Trần Văn T có địa chỉ rõ ràng trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp bất động sản. Đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Bà H có mặt, nhưng ông T vắng mặt phiên họp không có lý do.

Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải lần 2 và kết quả phiên họp cho ông T nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý. Các bên đương sự có mặt yêu cầu Tòa án tiến hành hòa giải nên Tòa án đã hòa giải và lập biên bản hòa giải.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho bà H, ông T nhưng ông T vắng mặt tại phiên tòa lần 2, không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T là phù hợp với khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

[2] Ngân hàng thương mại cổ phần V2 ( sau đây viết tắt là V1) và bà Trần Thị H, ông Trần Văn T đã ký kết hợp đồng tín dụng số LN2211087357601 ngày 11/11/2022. Nội dung :

  • - Số tiền vay: 800.000.000 đồng.
  • - Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh buôn chuyến nông sản.
  • - Thời hạn vay 12 tháng, kể từ ngày tiếp theo ngày bên ngân hàng giải ngân số tiền vay.
  • - Lịch trả nợ gốc: Cuối kỳ.
  • - Lịch trả lại: Hàng tháng vào ngày 15, kỳ trả lại đầu tiền vào ngày 15/12/2023.
  • - Lãi suất cho vay : 7,99 %/năm, lãi suất này sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,8%/năm.
  • - Lãi suất quá hạn : 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
  • Lãi suất trên số tiền lãi chậm trả : 150% lãi suất cho vay nhưng tối đa không quá 10%/năm.
  • Khách hàng vi phạm các điều khoản theo hợp đồng thì V1 có quyền chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn và gửi thông báo cho khách hàng được biết.
  • Chuyển nợ quá hạn : Kể từ ngày đến hạn trả nợ gốc theo các kỳ hạn hoặc kết thúc kỳ hạn cho vay hoặc V1 có thông báo về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn.
  • Tài sản đảm bảo cho khoản tiền vay:

Ông Trần Văn T và bà Trần Thị H thế chấp Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khắc gắn liền với đất, thửa đất số 69, tờ bản đồ số 74, diện tích 495 m², địa chỉ: xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Được Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận (quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) cho ông Trần Văn T và bà Trần Thị H ngày 25/03/2015.

Ngày 10/11/2023 Ngân hàng đã giải ngân cho bà Trần Thị H, ông Trần Văn T 800.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của bà H. Bà Trần Thị H và ông Trần Văn T đã ký khế ước nhận nợ 800.000.000 đồng.

[3]Thực hiện hợp đồng:

Ngày 10/11/2023 V1 đã giải ngân cho bà H, ông T 800.000.000 đồng và bà H, ông T đã nhận nợ là 800.000.000 đồng.

Bà Trần Thị H và ông Trần Văn T trả tiền lãi khoản vay từ ngày 10/11/2023 đến ngày 14/12/2023 là 6.129.315 đồng, đến ngày 06/02/2024 tiền lãi phải trả 9.088.502 đồng, bà H, ông T trả 368.156 đồng, còn nợ tiền lãi là 8.720.346 đồng; đến kỳ trả lãi hàng tháng tiếp theo nhưng bà Trần Thị H và ông Trần Văn T không thực hiện nghĩa vụ trả lãi.

Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu bà H, ông T trả lãi nhưng bà H, ông T vẫn không chịu thực hiện nghĩa vụ trả lãi theo yêu câu.

Do bà H, ông T vi phạm hợp đồng về nghĩa vụ trả tiền lãi nên ngày 10/04/2024 Ngân hàng đã ra thông báo gửi bà H, ông T là “chuyển khoản vay 800.000.000 đồng sang nợ quá hạn ngày 15/02/2024, với mức lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn. Tính đến ngày 10/04/2024 dư nợ khoản vay trên là: nợ gốc 800.000.000 đồng, nợ lãi 30.150.419 đồng, tổng: 830.150.419 đồng. Yêu cầu bà H, ông T thanh toán khoản dư nợ trước ngày 30/04/2024"

Tuy nhiên đến ngày 30/04/2024 bà H, ông T không chịu thanh toán khoản dư nợ cho V1 nên V1 yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

  • Buộc bà H, ông T trả cho V1 gồm:

Nợ gốc: 800.000.000 đồng.

Lãi trong hạn: 10.999.734 đồng.

Lãi quá hạn: 55.699.726 đồng.

Tổng cộng: 866.699.461 đồng.

  • - Tiếp tục tính lãi cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng.
  • - Trong trường hợp khách hàng bà Trần Thị H và ông Trần Văn T không trả được nợ hoặc không trả đủ nợ cho V1 thì cho phát mãi ngay toàn bộ tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết.
  • -Trường hợp sau khi phát mãi bán tài sản đảm bảo mà không đủ bù đắp số tiền gốc nợ vay, tiền lãi vay, lãi phạt có liên quan, án phí, lệ phí, chi phí phát mãi tài sản (nếu có) thì khách hàng bà Trần Thị H và ông Trần Văn T có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền còn thiếu.

[4]Hội đồng xét xử xét thấy Hợp đồng tín dụng số LN2211087357601 ngày 11/11/2022 đã được các bên ký, ghi họ tên, điểm chỉ. Hợp đồng thế chấp bất động sản đã được các bên ký, ghi họ tên, điểm chỉ trước mặt công chứng viên Nguyễn Thị T1, Văn phòng C1, trình tự thủ tục thế chấp theo đúng quy định của pháp luật.

Thực hiện hợp đồng, V1 đã giải ngân 800.000.000 đồng cho bà H, ông T và bà H, ông T đã ký nhận nợ 800.000.000 đồng.

Bà H, ông T thực hiện hợp đồng đã thanh toán tiền lãi khoản vay cho V1 được hơn một tháng với mức lãi suất 7,99 %/năm, số tiền là 6.497.471 đồng.

Như vậy hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp hợp pháp về cả nội dung và hình thức, đã được các bên thực hiện và thừa nhận nên cần được chấp nhận.

[5]Theo Hợp đồng tín dụng bà H, ông T phải trả tiền lãi vào ngày 15 hàng tháng, kỳ trả nợ lãi đầu tiên vào ngày 15/12/2023. Tuy nhiên đến kỳ hạn trả tiền lãi đầu tiên bà H, ông T trả đầy đủ, đến kỳ hạn tiếp theo chỉ trả được 368.156 đồng và kỳ hạn sau đó bà H, ông T không trả. Do bà H, ông T vi phạm hợp đồng nên V1 đã đơn phương chấm dứt hợp đồng và yêu cầu bà H, ông T trả tiền gốc, tiền lãi chậm nhất ngày 14/02/2024 nhưng bà H, ông T không thực hiện nên V1 yêu cầu bà H, ông T trả tiền gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn theo hợp đồng tín dụng cho V1 là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của V1. Buộc bà H, ông T phải trả cho V1.

Nợ gốc: 800.000.000 đồng.

Lãi trên nợ gốc trong hạn: 10.999.734 đồng.

  1. Từ ngày 15/12/2023 đến ngày 06/02/2024 là 54 ngày x 800.000.000 đồng x 7,99%/năm = 9.088.502 đồng. Đã thanh toán 368.156 đồng còn nợ 8.720.346 đồng.
  2. Từ ngày 07/02/2024 đến ngày 14/02/2023 là 08 ngày x 800.000.000 đồng x 10,9%/năm = 1.911.232 đồng.

Lãi trên nợ gốc quá hạn: 55.699.726 đồng.

  1. Từ ngày 15/02/2024 đến ngày 10/03/2024 là 25 ngày x 800.000.000 đồng x 10,9%/năm x 150% = 8.958.904 đồng.
  2. Từ ngày 11/03/2024 đến ngày 10/04/2024 là 31 ngày x 800.000.000 đồng x 10%/năm x 150% = 10.191.871 đồng.
  3. Từ ngày 11/04/2024 đến ngày 26/04/2024 là 16 ngày x 800.000.000 đồng x 10,5%/năm x 150% = 5.523.288 đồng.
  4. Từ ngày 27/04/2024 đến ngày 10/05/2024 là 14 ngày x 800.000.000 đồng x 10,5%/năm x 150% = 4.832.877 đồng.
  5. Từ ngày 10/06/2024 đến ngày 09/07/2024 là 30 ngày x 800.000.000 đồng x 10,7%/năm x 150% = 10.553.425 đồng.
  6. Từ ngày 10/07/2024 đến ngày 09/08/2024 là 31 ngày x 800.000.000 đồng x 10,9%/năm x 150% = 11.109.041 đồng.
  7. Từ ngày 10/08/2024 đến ngày 22/08/2024 là 13 ngày x 800.000.000 đồng x 10,6%/năm x 150% = 4.530.411 đồng.

Tổng cộng: 866.699.461 đồng.

Tiếp tục tính lãi cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng.

[6] Tài sản thế chấp: Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 22/07/2024. Thửa đất thế chấp có kích thước, diện tích đúng như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp và có tài sản gắn liền thửa đất. Đất không có tranh chấp các hộ liền kề.

Nếu bà H, ông T không trả hoặc trả không đủ số tiền còn nợ của hợp đồng tín dụng trên thì V1 có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ.

Trường hợp sau khi phát mãi bán tài sản đảm bảo mà không đủ bù đắp số tiền gốc nợ vay, tiền lãi vay, lãi phạt có liên quan, án phí, lệ phí, chi phí phát mãi tài sản (nếu có) thì khách hàng bà Trần Thị H và ông Trần Văn T có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền còn thiếu.

[7] Về án phí:

Yêu cầu của V1 được chấp nhận nên bà H, ông T phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm là 36.000.000 đồng + (866.699.726 đồng – 800.000.000 đồng) x 3% = 38.000.991 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 318, 307, 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự; Điều 27 Luật đất đai năm 2024; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V.
  2. Buộc bà Trần Thị H và ông Trần Văn T phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số LN2211087357601 ngày 11/11/2022 bao gồm: nợ gốc là 800.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 10.999.724 đồng; nợ lãi quá hạn là 55.699.726 đồng. Tổng cộng: 866.699.726đ (T2 trăm sáu mươi sáu triệu, sáu trăm chín mươi chín nghìn, bảy trăm hai mươi sáu đồng).
  3. Xử lý tài sản thế chấp: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật bà Trần Thị H và ông Trần Văn T không trả hoặc trả không đủ số tiền còn nợ của Hợp đồng tín dụng số LN2211087357601 ngày 11/11/2022 thì Ngân hàng thương mại cổ phần V có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp “Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, thửa đất số 69, tờ bản đồ số 74, diện tích 495 m² ( Đất ở 200m², Đất trồng cây lâu năm 295m²), địa chỉ: xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Được Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận (quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) số BX615902 cho bà Trần Thị H và ông Trần Văn T ngày 25/03/2015 theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản thế chấp sau khi thanh toán các chi phí xử lý tài sản thế chấp lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền chệnh lệch phải được trả cho bà H và ông T.

    Trường hợp số tiền có được từ việc xử lý tài sản thế chấp sau khi thanh toán các chi phí xử lý tài sản thế chấp nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán bà H và ông T tiếp tục phải thực hiện.

    Trường hợp bà H và ông T trả đủ số tiền nợ trên thì Ngân hàng thương mại cổ phần V có nghĩa vụ trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H và ông T.

  4. Án phí:

    Buộc bà Trần Thị H và ông Trần Văn T mỗi người phải chịu tiền án phí Dân sự sơ thẩm là 19.000.495₫ ( Mười chín triệu, không nghìn, bốn trăm chín mươi lăm đồng).

    Ngân hàng thương mại cổ phần V được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 18.522.000đ ( Mười tám triệu, năm trăm hai mươi hai nghìn đồng ) theo biên lai thu tiền số 0002848 ngày 05 tháng 06 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

  5. Thi hành án, nghĩa vụ chậm thi hành án:

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền

thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Thành;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Cơ quan thực hiện việc đăng kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu kết quả;
  • - Đương sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Phan Xuân Thọ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/DS-DT ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 46/2024/DS-DT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng TMCP V và Trần Thị H, Trần Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger