|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 22/7/2024.
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con."
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Nguyễn Văn Xuôi.
2.Ông Nguyễn Thành Công.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: ông Thạch Ươn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mỹ Nhanh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 332/2024/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 6 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 96/2024/QĐST - HNGĐ ngày 01 tháng 07 năm 2024, và quyết định hoãn phiên tòa số: 102/2024/QĐST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Đặng Ngọc Kim N, sinh năm: 1998 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: ấp L, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre.
2. Bị đơn: anh Võ Anh V, sinh năm 1997 (vắng mặt không lý do).
Địa chỉ: ấp Đ, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 30/5/2024, và bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đặng Ngọc Kim N trình bày:
Trước đây vào năm 2017 chị với anh Võ A Văn tự tìm hiểu quen biết nhau, sau đó dẫn đến đăng ký kết hôn vào ngày 09/02/2023 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh, sau khi kết hôn hai đứa sống thuê nhà trọ bên tỉnh Bến Tre, trong thời gian sống chung, chúng tôi có 01 con chung tên cháu Võ Bùi An N1, sinh năm 11/4/2023, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do hai đứa thường xuyên cự cải nhau, không họp nhau, nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không thể sống chung, nên làm đơn yêu cầu được ly hôn với anh Võ Anh V, về con chung: chị xin tiếp tục nuôi cháu Võ Bùi An N1, và không yêu cầu anh V phụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung; nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Do chị bận đi làm ăn xa, chị không đến dự phiên tòa được, nên chị làm đơn yêu cầu Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị.
Bị đơn anh Võ Anh V trình bày:
Trước năm 2017 anh với chị Đặng Ngọc Kim N tự tìm hiểu quen biết nhau, sau đó dẫn đến đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh, không có tổ chức đám cưới, trong quá trình sống chung có 01 con chung tên Võ Bùi An N1, sinh ngày 11/04/2023, hiện đang sống với N. Trong thời gian sống chung hai đứa không có tạo ra tài sản chung, và không có thiếu nợ chung. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do hai đứa bất đồng quan điểm, thường xuyên gây gỗ dẫn đến sống ly thân từ trước tết năm 2024cho đến nay. Nay N xin ly hôn thì anh không đồng ý, anh yêu cầu đoàn tụ nuôi con.
Qua biên bản xác minh của bà Nguyễn Thị Thanh T là mẹ của anh Võ Anh V cho biết Anh V là con ruột của bà, theo bà biết vợ chồng Anh V và Kim N sống với nhau có 01 con chung tên Võ Bùi An N1, sinh ngày 11/04/2023, hiện cháu N1 đang sống với mẹ tại tỉnh Bến Tre, về tài sản chung thấy không có, và nợ chung thì bà không nghe thiếu ai, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẩn của vợ chồng Anh V với Kim N là do đứa nào cũng có bồ hết, và ly thân từ tháng 02 năm 2024 đến nay, việc ly hôn hay đoàn tụ do hai đứa tự quyết định bà không có ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long phát biểu ý kiến: về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án, cho đến trước thời điểm nghị án, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định tại Điều 48, Điều 70; 71;72 của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn chị Đặng Ngọc Kim N đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật và có đơn xin xét xử vắng mặt, còn bị đơn anh Võ Anh V, Toà án triệu tập hoà giải nhiều lần, nhưng anh không chấp hành theo giấy triệu của Tòa án nên không hoà giải được, và anh có bản tự khai xin đoàn tụ nuôi con, không đồng ý ly hôn, tại phiên tòa xét xử hôm nay anh V vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do.
Về nội dung vụ án:
Xét thấy hôn nhân giữa chị N và anh V là do hai bên tự quen biết, thời gian kết hôn đến nay chưa lâu, tuổi đời của hai người còn rất trẻ. Bên cạnh, chị N chưa cung cấp được tài liệu, chứng cứ thể hiện tình trạng hôn nhân của chị N và anh V là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó yêu cầu xin ly hôn của chị N là chưa có căn cứ chấp nhận. Cần cho chị N và anh V thêm thời gian để vun vén, vì chị N và anh V còn có sự quan tâm chung là bé Võ Bùi An N1 mới hơn 1 tuổi, cũng như tạo môi trường cho sự phát triển toàn diện cho con.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: do không chấp nhận yêu cầu ly hôn nên không xem xét giải quyết.
- Áp dụng khoản 1 Điều 28, 35, 39, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Ngọc Kim N yêu cầu ly hôn với anh Võ Anh V.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: do không chấp nhận yêu cầu ly hôn nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: chị Đặng Ngọc Kim N chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Chị Đặng Ngọc Kim N và anh Võ Anh V xác lập quan hệ hôn nhân, và có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 09 tháng 02 năm 2023 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh đúng theo quy định của pháp luật. Trong quá trình sống chung chị Đặng Ngọc Kim N với anh Võ Anh V có 01 con chung tên cháu Võ Bùi An N1, sinh ngày 11/4/2023, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do anh V thường xuyên cự cải nhau, không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến ly thân từ tháng 11 năm 2023 cho đến nay.
[2] Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị Đặng Ngọc Kim N và anh Võ Anh V không có khả năng hàn gắn đoàn tụ được, nên chị Đặng Ngọc Kim N làm đơn xin được ly hôn với anh Võ Anh V, về con chung cháu Võ Bùi An N1 còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên cần sự chăm sóc của người mẹ nhiều hơn, nên cần giao cho chị Đặng Ngọc Kim N được quyền trực tiếp nuôi cháu An N1 là phù hợp với Khoản 3, Điều 81 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014, do chị Kim N không yêu cầu anh V phụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng không đặt ra xem xét.
[3] Đối với anh Võ Anh V, mong muốn yêu cầu vợ chồng đoàn tụ nuôi dạy con chung nhưng anh không đưa ra được lời lẽ yêu thương hay bằng chứng gì để có thiện chí tích cực hàn gắn tình cảm vợ chồng để cho chị N tin tưởng an tâm trở về đoàn tụ, từ đó yêu cầu đoàn tụ của anh V không có sức thuyết phục được chị N nên không thể đoàn tụ theo yêu cầu của anh V được.
[4]Theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 qui định; thì vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, nhưng ở đây hai người sống với nhau được 01 đứa con chung, anh V không lo làm ăn nuôi con chung và xây dựng tổ ấm hạnh phúc gia đình, mà anh thường xuyên cự cải, có người phụ nữ khác bên ngoài dẫn đến bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng. Nên chị N quyết định xin ly hôn với anh V. Và qua xác minh người thân của anh V thì vợ chồng anh không có tạo ra tài sản, và nợ chung, chỉ có 01 đứa con chung, hai người đã sống ly thân nhau từ tháng 11 năm 2023 cho đến nay nhà ai nấy ở.
Từ các cơ sở phân tích trên, thấy rằng mục đích hôn nhân của chị Đặng Ngọc Kim N với anh Võ Anh V không đạt được, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ hai người đã sống ly thân nhau từ tháng 11 năm 2023 cho đến nay. Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xét thấy việc chị Đặng Ngọc Kim N xin ly hôn với anh Võ Anh V, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của chị Đặng Ngọc Kim N là có căn cứ phù hợp pháp luật.
[5]Về con chung: cháu Võ Bùi An N1, sinh ngày 11/4/2023 còn nhỏ nên cần sự chăm sóc đặc biệt của người mẹ; mặt khác hiện cháu đang sống chung với chị N, nên việc giao cho chị N được tiếp tục trực tiếp nuôi cháu An N1 là cần thiết, do chị Kim N không yêu cầu anh V phụ cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6]Về tài sản chung, và nợ chung: do chị Đặng Ngọc Kim N với anh Võ Anh V khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[7]Án phí: chị Đặng Ngọc Kim N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Anh Võ Anh V không phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.
Quan điểm của Vị kiểm sát viên là không có căn cứ xét thấy chị N và anh V không có khả năng đoàn tụ, Hội đồng xét xử không chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng: Khoản 1, Điều 28; Khoản 1, Điều 35; điểm a, Khoản 1, điều 39; Điều 147; Điều 227; Khoản 1, Điều 228; Điều 238, và Khoản 1, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng: các Điều 19; 56; 69;81;82;83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đặng Ngọc Kim N.
Cho chị Đặng Ngọc Kim N được ly hôn với anh Võ Anh V.
Về con chung: chị Đặng Ngọc Kim N được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Võ Bùi An N1, sinh ngày 11/4/2023, anh V không phải cấp dưỡng nuôi cháu N1 do chị Kim N không yêu cầu.
Anh Võ Anh V được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dạy con chung không ai được quyền ngăn cấm hoặc cản trở.
Về tài sản, nợ chung: chị Đặng Ngọc Kim N với anh Võ Anh V khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: chị Đặng Ngọc Kim N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm mà chị Kim N đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số: 0004199, ngày 06/06/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Càng Long. Nên chị Kim N không phải nộp thêm tiền án phí.
Anh Võ Anh V không phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.
Án sơ thẩm xét xử công khai, báo cho các đương sự vắng mặt tại phiên Tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b, và điều 9 luật thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Văn Tâm |
Bản án số 46/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 46/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
