Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HS-ST

Ngày 22/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hà Thị Anh;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Kim Minh;

Ông Hoàng Kim Chi;

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Chang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2024/TLST- HS ngày 12 tháng 3 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26A/2024/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2024/HSST-QĐ ngày 08/5/2024 đối với bị cáo:

Lê Văn V; Tên gọi khác: Không, sinh ngày 20/12/1995 tại Nam Định. Nơi cư trú: Tổ C, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động Tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn V1 sinh năm 1971 và bà Trần Thị H sinh năm 1972; Tiền án: 02: Bản án số 37/2015/HSST ngày 18/5/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai tuyên bố Lê Văn V phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng; Bản án số 07/2017/HSPT ngày 15/3/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai tuyên bố Lê Văn V phạm tội “Cố ý gây thương tích”, xử phạt Lê Văn V 07 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 15 tháng tù tại Bản án số 37/2015/HSST ngày 18/5/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, buộc Lê Văn V phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 Bản án là 08 năm 09 tháng tù. Ngày 14/10/2021 Lê Văn V chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương); Tiền sự: Không; Bị cáo chưa có vợ, con;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/10/2023 đến ngày 11/10/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Thị H. Địa chỉ: Tổ C, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
  2. Chị Cao Kim N. Địa chỉ: Tổ F, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  3. Anh Đặng Thành T. Địa chỉ: Tổ B, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  4. Anh Hà Ngọc Hoàng A. Địa chỉ: Thôn L, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  5. Anh Lê Đức T1. Địa chỉ: Tổ A, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  6. Anh Lê Hoàng L. Địa chỉ: Tổ C, phường N, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  7. Anh Lê Hồng P. Địa chỉ: Tổ A, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  8. Anh Ngô Thanh H1. Địa chỉ: Số nhà G, đường L, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  9. Anh Nguyễn Đức T2. Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  10. Anh Nguyễn Hải Đ. Địa chỉ: Số nhà A, đường L, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  11. Anh Nguyễn Hữu T3. Địa chỉ: Tổ C, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  12. Chị Nguyễn Mai A1. Địa chỉ: Tổ A, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  13. Anh Nguyễn Minh H2. Địa chỉ: Số nhà F, đường L, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  14. Anh Nguyễn Quyết C. Địa chỉ: Số nhà A, đường N, tổ D phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  15. Chị Nguyễn Thanh H3. Địa chỉ: Số Đ, chung cư L, phường N, thành phố L, tỉnh Lào Cai.Vắng mặt.
  16. Chị Nguyễn Thị Cẩm G. Địa chỉ: Thôn H, xã V, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  17. Chị Nguyễn Thị L1. Địa chỉ: Tổ F, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  18. Chị Nguyễn Thị Thanh T4. Địa chỉ: Tổ E, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  19. Anh Nguyễn Tiến Đ1. Địa chỉ: Tổ F, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  20. Anh Nguyễn Trọng T5. Địa chỉ: Số nhà I, đường T, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  21. Anh Nguyễn Văn B. Địa chỉ: Tổ B, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  22. Chị Nông Thị L2. Địa chỉ: Số nhà A, đường N, tổ I phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  23. Anh Phạm Văn T6. Địa chỉ: Số nhà A, đường N, tổ B phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  24. Anh Phạm Văn C1. Địa chỉ: Tổ B, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  25. Anh Trần Thành D. Địa chỉ: Số nhà H, đường N, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  26. Chị Trần Thị V2. Địa chỉ: Số nhà H, đường T, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  27. Anh Trần Xuân T7. Địa chỉ: Số nhà F, đường D, tổ B phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  28. Anh Tráng A D1. Địa chỉ: Số nhà H, đường V, tổ A phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  29. Anh Vi Văn T8. Địa chỉ: Thôn L, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai.Vắng mặt.
  30. Anh Nguyễn Minh H4. Địa chỉ: Số nhà D, đường T, tổ A, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  31. Anh Nguyễn Mạnh H5. Địa chỉ: Số nhà D, đường L, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  32. Anh Đặng Văn C2. Địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  33. Anh Bùi Đức T9. Địa chỉ: Số nhà C, đường H, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  34. Anh Hoàng Bùi Đại . Địa chỉ: Tổ D, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  35. Anh Nguyễn Văn T10. Địa chỉ: Đường T, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 00 phút, ngày 29/9/2023, tổ công tác của Phòng C3 Công an tỉnh L làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên tuyến đường đại lộ T, thành phố L phát hiện Đặng Văn C2 (sinh năm: 2002, Nơi thường trú: Thôn N, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai) đang đi xe máy tại khu vực Công ty H9 ô tô T, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Quá trình làm việc, tổ công tác phát hiện trong điện thoại của Đặng Văn C2 có nội dung liên quan đến việc Đặng Văn C2 có vay tiền của Lê Văn V (Sinh năm: 1995, Nơi thường trú: Tổ C, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai) với lãi suất cao.

Trên cơ sở chứng cứ thu thập được, ngày 01/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L tiến hành khám xét đối với Lê Văn V tại địa chỉ tổ A, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai và tổ C, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai phát hiện tạm giữ nhiều đồ vật, tài liệu liên quan.

Quá trình điều tra đến nay, Cơ quan CSĐT Công an thành phố L đã làm rõ hành vi phạm tội của Lê Văn V cụ thể như sau:

Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 3/2022 đến ngày 01/10/2023, Lê Văn V đã thực hiện hành vi cho vay lãi nặng với các hình thức vay “bốc bát họ”, vay trả lãi theo ngày, tháng (vay lãi đứng, vay nóng) và vay có thế chấp tài sản mục đích để thu lợi bất chính. Lê Văn V đã cho khách hàng vay các khoản vay khác nhau với mức lãi suất theo thỏa thuận dao động thấp nhất từ 146%/năm đến cao nhất là 2190%/năm, gấp từ 7,3 đến 109,5 lần so với mức lãi suất cao nhất trong giao dịch dân sự (20%) được quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Đối với hình thức “bốc bát họ” với khoản vay 5.000.000 đồng vay trong vòng 40 ngày, tiền lãi là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tương đương lãi suất 182,5%/năm, mỗi ngày thanh toán cả gốc và lãi là 150.000 đồng (gồm 125.000 đồng tiền gốc và 25.000 đồng tiền lãi), Lê Văn V thu lãi 1.000.000 đồng; với khoản vay 10.000.000 đồng trong vòng 40 ngày, tiền lãi là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tương đương lãi suất 182,5%/năm (theo công thức lãi suất % = (tiền lãi đã đóng x 365)/(khoản vay x số ngày vay) x 100%), mỗi ngày thanh toán cả gốc và lãi là 300.000 đồng (gồm 250.000 đồng tiền gốc và 50.000 đồng tiền lãi), Lê Văn V thu lãi 2.000.000 đồng.

Đối với hình thức vay tiền dưới dạng cầm cố, thế chấp tài sản xe máy, bị cáo thu lãi 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tương đương lãi suất 182,5%/năm và viết giấy bán xe rồi trả lãi hàng tháng, khi người vay trả hết gốc sẽ được trả lại xe.

Đối với hình thức vay tiền dưới dạng trả lãi theo tháng (không cầm cố, thế chấp tài sản gì hoặc cầm cố giấy tờ tùy thân, đăng ký xe - vay tín chấp) bị cáo thu lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tương ứng lãi suất 182,5%/năm, người vay tiền trả tiền lãi theo tháng, khi đến thời hạn trả phải trả tiền gốc vay.

Tất cả những người vay tiền sẽ thanh toán tiền gốc và lãi cho bị cáo chủ yếu qua tài khoản ngân hàng, số ít thanh toán bằng tiền mặt. Bị cáo sử dụng tài khoản Ngân hàng T13 (T14) số 88882129555, chủ tài khoản mang tên Lê Văn V để chuyển tiền cho khách vay, nhận tiền gốc và lãi của khách.

Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 3/2022 đến ngày 01/10/2023, Lê Văn V đã cho vay lãi nặng tổng cộng 34 người vay tiền với tổng số tiền cho vay là 1.157.000.000 đồng, tổng số tiền lãi đã thu là 245.466.666 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự thì lãi suất cho vay tối đa là 20%/01 năm, số tiền lãi trong mức quy định là 26.601.638 đồng, số tiền mà Lê Văn V đã thu lợi bất chính là 218.865.028 đồng. Cụ thể:

  1. Cho chị Cao Kim N, sinh năm: 1997, nơi thường trú: Tổ F, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai vay 01 lần vào ngày 06/7/2022 số tiền 10.000.000 đồng theo hình thức vay trả lãi theo tháng (lãi đứng) với mức lãi suất 5.000 đồng/01 triệu/1 ngày, 182,5%/năm và thế chấp 01 đăng ký xe máy của Cao Kim N. Chị Cao Kim N đã thanh toán 02 tháng tiền lãi với số tiền lãi là 3.000.000 đồng số tiền Lê Văn V thu lợi bất chính là 2.671.233 đồng.
  2. Cho anh Đặng Thành T, sinh năm: 1985, trú tại địa chỉ: Tổ B, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai vay 06 lần với tổng số tiền 103.000.000 đồng, vay theo hình thức “bốc họ”, hoặc vay lãi ngày, thời hạn vay từ 30 ngày đến 80 ngày, khoản vay này điều tính lãi 5000 đồng/1 triệu/ngày tương đương 182,5%/năm. Tổng số tiền lãi Lê Văn V đã thu trong các khoản vay trên là 23.150.000 đồng, số tiền Lê Văn V thu lợi bất chính là 20.613.014 đồng. Đặng Thành T còn nợ Lê Văn V số tiền vay gốc là 19.000.000 đồng.
  3. Cho anh Hà Ngọc Hoàng A, sinh năm: 2000, trú tại: Thôn L, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai vay 01 lần vào ngày 21/5/2023 số tiền 3.000.000 đồng, theo hình thức vay lãi đứng, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, 182,5%/ năm và thế chấp 01 đăng ký xe máy của Hà Ngọc Hoàng A. Hà Ngọc Hoàng A đã trả lãi 120 ngày với số tiền lãi là 1.800.000 đồng. Bị cáo Lê Văn V thu lợi bất chính số tiền là 1.602.740 đồng.
  4. Cho anh Lê Đức T1, sinh năm: 1993, trú tại: Tổ A, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai vay 01 lần vào ngày 14/5/2023 số tiền 10.000.000 đồng theo hình thức vay lãi đứng trả lãi trong 14 ngày, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, 182,5%/ năm. Lê Đức T1 đã trả lãi là 700.000 đồng, đã trả xong tiền gốc khoản vay trên. Lê Văn V thu lợi bất chính số tiền là 623.288 đồng.
  5. Cho anh Lê Hoàng L, sinh năm: 2004, trú tại: Tổ C, phường N, thành phố L, tỉnh Lào Cai vay 01 lần vào ngày 04/9/2023 số tiền 10.000.000 đồng, theo hình thức vay bốc họ trong 48 ngày với mức lãi suất 4.100 đồng/1 triệu/1 ngày, 149,7%/ năm thế chấp 01 đăng ký xe mô tô và 01 căn cước công dân của Lê Hoàng L. Lê Hoàng L đã trả xong cho Lê Văn V trong 25 ngày với tổng số tiền gốc, lãi là 11.025.000 đồng trong đó số tiền lãi là 1.025.000 đồng, số tiền Lê Văn V thu lợi bất chính là 888.014 đồng.
  6. Cho anh Lê Hồng P sinh năm 1986, trú tại: Tổ A, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai vay 03 lần với tổng số tiền 30.000.000 đồng (từ ngày 01/7/2023 đến ngày 20/9/2023), đều theo hình thức bốc họ trong thời hạn 40 ngày, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, 182,5%/năm. Tổng số tiền lãi Lê Văn V đã thu của Lê Hồng P trong các khoản vay trên là 4.600.000 đồng trong đó thu lời bất chính số tiền 4.095.891 đồng.
  7. Cho anh Ngô Thanh H1, sinh năm: 1995, trú tại: Số nhà G, đường L, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai vay 02 lần với tổng số tiền là 10.000.000 đồng (từ ngày 06/7/2023 đến ngày 06/9/2023), theo hình thức vay bốc họ trong thời hạn 40 ngày lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, 182,5%/năm. Tổng số tiền Lê Văn V thu lợi bất chính của Ngô Thanh H1 trong các khoản vay trên là 1.446.918 đồng. Số tiền gốc Ngô Thanh H1 còn nợ bị cáo là: 1.875.000 đồng.
  8. Cho anh Nguyễn Đức T2, sinh năm: 1999, trú tại: Thôn Đ, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai vay 02 lần, tổng cộng 14.000.000 đồng, (từ ngày 26/9/2023 đến ngày 01/10/2023) với hình thức cầm cố chiếc xe máy Honda Winer X mang Biển kiểm soát: 23B1 - 564.96, thời hạn vay trong 01 ngày, lãi suất tính 1042,9%/năm. Tổng số tiền Lê Văn V thu lợi bất chính của Nguyễn Đức T2 trong các khoản vay trên là 392.328 đồng.
  9. Cho anh Nguyễn Hải Đ, sinh năm: 2001, trú tại: Số nhà A, đường L, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai vay 01 lần vào ngày 03/8/2023 số tiền 5.000.000 đồng trong thời gian 03 ngày, lãi suất 16.666 đồng/1 triệu/1 ngày, tương đương lãi suất 608,3%/ năm, đã trả xong cho Lê Văn V tổng số tiền gốc, lãi là 5.250.000 đồng, trong đó số tiền lãi là 250.000 đồng, số tiền Lê Văn V thu lợi bất chính là 241.781 đồng.
  10. Cho anh Nguyễn Hữu T3, sinh năm: 2000, trú tại: Tổ C, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai vay 01 lần vào ngày 15/5/2022 số tiền 10.000.000 đồng theo hình thức trả lãi tháng, với mức lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, 182,5%/ năm, đã trả lãi 450 ngày với số tiền lãi là 22.500.000 đồng. Lê Văn V thu lợi bất chính số tiền là 20.034.247 đồng. Anh Nguyễn Hữu T3 vẫn còn nợ Lê Văn V số tiền gốc vay là 10.000.000 đồng.
  11. Cho chị Nguyễn Mai A1, sinh năm: 1984, trú tại: Tổ A, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai, vay 06 lần tổng cộng 85.000.000 đồng (từ ngày 01/6/2023 đến ngày 31/8/2023), hình thức cho vay “bốc họ”, vay lãi ngày, thời hạn cho vay 01 ngày 40 ngày, lãi suất dao động từ 182,5%/ năm đến 2190%/năm. Tổng số tiền Lê Văn V đã thu lợi bất chính trong các khoản vay trên là 11.914.384 đồng. Chị Nguyễn Mai A1 vẫn còn nợ bị cáo số tiền gốc là 20.500.000 đồng.
  12. Cho anh Nguyễn Minh H2, sinh năm: 1993, trú tại: Số nhà F, đường L, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai vay 05 lần, tổng cộng 50.000.000 đồng (từ ngày 11/6/2022 đến 17/8/2023) đều theo hình thức “bốc họ”, thời gian vay 40 ngày, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, 182,5%/năm. Tổng số tiền Lê Văn V đã thu lợi bất chính trong các khoản vay trên là 8.681.507 đồng. Anh Nguyễn Minh H2 còn nợ bị cáo số tiền gốc là: 1.250.000 đồng.
  13. Cho anh Nguyễn Quyết C, sinh năm: 2000, trú tại: Số nhà A, đường N, tổ D, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai) vay 01 lần vào ngày 06/8/2022 số tiền 10.000.000 đồng, theo hình thức vay lãi đứng, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, 182,5%/năm và thế chấp 01 đăng ký xe máy của Nguyễn Quyết C. Nguyễn Quyết C vay trong 410 ngày, đã trả tổng số tiền gốc, lãi là 30.500.000 đồng trong đó số tiền lãi là 20.500.000 đồng, thu lợi bất chính là 18.253.425 đồng.
  14. Cho chị Nguyễn Thanh H3, sinh năm: 1991, trú tại: Số Đ, chung cư L, phường N, thành phố L, tỉnh Lào Cai, vay 08 lần tổng cộng 50.000.000 đồng, đều vay trong thời hạn 40 ngày theo hình thức “bốc họ”, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, 182,5%/năm. Tổng số tiền Lê Văn V đã thu lợi bất chính trong các khoản vay trên là: 8.904.110 đồng.
  15. Cho chị Nguyễn Thị Cẩm G, sinh năm: 1980, trú tại: Thôn H, xã V, thành phố L, tỉnh Lào Cai vay 06 lần tổng cộng 60.000.000 đồng (từ ngày 10/3/2023 đến 07/9/2023) đều vay trong thời hạn 40 ngày theo hình thức “bốc họ”, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, 182,5%/năm. Tổng số tiền Lê Văn V đã thu lợi bất chính trong các khoản vay trên là 9.928.083 đồng. Chị Nguyễn Cẩm G còn nợ bị cáo Lê Văn V là 4.250.000 đồng.
  16. Cho chị Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1984, trú tại: Tổ F, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai vay 02 lần tổng cộng 20.000.000 đồng (từ ngày 06/6/2023 đến ngày 21/7/2023) đều cho vay trong thời hạn 40 ngày theo hình thức “bốc họ”, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, 182,5%/năm. Tổng số tiền Lê Văn V đã thu lợi bất chính trong các khoản vay trên là 3.561.644 đồng.
  17. Cho chị Nguyễn Thị Thanh T4 (Sinh năm: 1995, trú tại: Tổ E, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai) vay 14 lần tổng số tiền là 170.000.000 đồng (từ ngày 26/5/2022 đến ngày 25/9/2023) đều cho vay trong thời hạn 40 ngày theo hình thức “bốc họ”, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, 182,5%/năm. Tổng số tiền Lê Văn V đã thu lãi trong các khoản vay trên là 33.100.000 đồng trong đó số tiền thu lợi bất chính là 29.472.604 đồng. Nguyễn Thị Thanh T4 còn nợ bị cáo Lê Văn V số tiền gốc là 4.500.000 đồng.
  18. Cho anh Nguyễn Tiến Đ1 (Sinh năm: 1984, trú tại: Tổ F, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai) vay 01 lần vào ngày 14/12/2022 số tiền 10.000.000 đồng, trong thời hạn 40 ngày theo hình thức “bốc họ”, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, 182,5%/năm, đã trả tổng số tiền gốc, lãi là 12.000.000 đồng trong đó số tiền lãi là 2.000.000 đồng, thu lợi bất chính số tiền 1.780.822 đồng.
  19. Cho anh Nguyễn Trọng T5 (Sinh năm: 1993, trú tại: Số nhà I, đường T, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai) vay 01 lần vào ngày 29/6/2023 số tiền 10.000.000 đồng theo hình thức vay lãi đứng và thế chấp 01 giấy phép lái xe của Nguyễn Trọng T5, với mức lãi suất 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày, 146%/ năm, trong 70 ngày, đã trả cho bị cáo Lê Văn V với tổng số tiền gốc, lãi là 12.800.000 đồng trong đó số tiền lãi là 2.800.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 2.416.438 đồng.
  20. Cho anh Nguyễn Văn B (Sinh năm: 1990, trú tại: Tổ B, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai) vay 01 lần vào ngày 30/5/2023 số tiền 5.000.000 đồng theo hình thức vay lãi đứng và thế chấp 01 chiếc xe máy của Nguyễn Văn B, với mức lãi suất 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày, 146%/ năm, trong thời hạn 120 ngày, đã trả xong cho Lê Văn V với tổng số tiền gốc, lãi là 7.400.000 đồng trong đó số tiền lãi là 2.400.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 2.071.233 đồng.
  21. Cho chị Nông Thị L2, sinh năm: 1980, trú tại: Số nhà A, đường N, tổ I, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai vay 04 lần với tổng số tiền 30.000.000 đồng (từ ngày 16/6/2023 đến ngày 25/9/2023), các khoản vay trong thời hạn từ 20 ngày – 40 ngày, vay theo hình thức “bốc họ”, lãi suất từ 182,5%/năm đến 365%/năm. Tổng số tiền bị cáo Lê Văn V đã thu lãi trong các khoản vay trên là 5.550.000 đồng trong đó số tiền thu lợi bất chính là 5.026.712 đồng.
  22. Cho anh Phạm Văn T6, sinh năm: 1987, trú tại: Số nhà A, đường N, tổ B, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai vay 01 lần vào ngày 16/9/2023 số tiền 20.000.000 đồng, trong thời hạn 40 ngày theo hình thức “bốc họ”, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, 182,5%/năm, đã trả cho bị cáo được 18 ngày với số tiền 10.800.000 đồng trong đó có số tiền lãi là 1.800.000 đồng, số tiền Lê Văn V thu lợi bất chính là 1.602.740 đồng. Anh Phạm Văn T6 còn nợ bị cáo Lê Văn V số tiền gốc là 11.000.000 đồng.
  23. Cho anh Phạm Văn C1, sinh năm: 1994, trú tại: Tổ B, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai vay 03 lần (từ ngày 28/4/2023 đến ngày 20/9/2023) tổng cộng số tiền 29.000.00 đồng, vay theo hình thức trả lãi ngày, lãi suất dao động từ 146%/năm đến 1303,57%/năm. Bị cáo Lê Văn V đã thu lãi trong các khoản vay trên là 2.700.000 đồng trong đó số tiền thu lợi bất chính là 2.418.356 đồng.
  24. Cho anh Trần Thành D, sinh năm: 1988, trú tại: Số nhà H, đường N, phường C, thành phố L, Lào Cai vay 04 lần tổng cộng số tiền 40.000.000 đồng (từ ngày 06/12/2022 đến ngày 09/9/2023), vay trong thời hạn 40 ngày theo hình thức “bốc họ”, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, 182,5%/năm. Bị cáo Lê Văn V đã thu lãi trong các khoản vay trên là 7.050.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 6.277.398 đồng. Anh Trần Thành D còn nợ bị cáo số tiền vay gốc là: 4.750.000 đồng.
  25. Cho chị Trần Thị V2, sinh năm: 1983, trú tại: Số nhà H, đường T, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai vay tổng cộng 08 lần với tổng số tiền 45.000.000 đồng (từ ngày 10/5/2023 đến ngày 12/9/2023), có khoản vay theo hình thức bốc họ, có khoản vay trả lãi ngày, lãi suất dao động từ 146%/năm đến 730%/năm.Tổng số tiền lãi Lê Văn V đã thu trong các khoản vay trên là 8.250.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 7.310.274 đồng. Trần Thị V2 còn nợ lại bị cáo số tiền gốc là: 9.750.000 đồng
  26. Cho anh Trần Xuân T7, sinh năm: 1983, trú tại: Số nhà F, đường D, tổ B, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai vay 03 lần với tổng số tiền 30.000.000 đồng (từ ngày 31/7/2023 đến ngày 27/9/2023) đều trong thời hạn 40 ngày theo hình thức “bốc họ”, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, 182,5%/năm. Tổng số tiền lãi Lê Văn V đã thu trong các khoản vay trên là 4.150.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 3.695.206 đồng. Trần Xuân T7 còn nợ Lê Văn V số tiền vay gốc là 9.250.000 đồng.
  27. Đối với anh Tráng A D1, sinh năm: 1995, trú tại: Số nhà H, đường V, tổ A, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai vay 02 lần với tổng số tiền là 20.000.000 đồng (từ ngày 30/8/2023 đến 20/9/2023) đều vay trong thời hạn 40 ngày theo hình thức “bốc họ”, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, 182,5%/năm. Tổng số tiền lãi Lê Văn V đã thu trong các khoản vay trên là 2.600.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 2.315.069 đồng.
  28. Cho anh Vi Văn T8, sinh năm: 1992, trú tại: Thôn L, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai) vay 14 lần với tổng số tiền 135.000.000 đồng (từ ngày 05/3/2022 đến ngày 27/9/2023), theo hình thức “bốc họ”, thời hạn vay tùy từng khoản từ 30 ngày đến 40 ngày, lãi suất dao động từ 182,5%/năm đến 243,34%/năm. Tổng số tiền lãi Lê Văn V đã thu trong các khoản vay trên là 22.366.666 đồng, số tiền Lê Văn V thu lợi bất chính là 20.026.940 đồng. Vi Văn T8 còn nợ Lê Văn V số tiền vay gốc tổng cộng là 23.166.666 đồng.
  29. Cho anh Nguyễn Minh H4, sinh năm: 2000, trú tại: Số nhà D, đường T, tổ A, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai vay 01 lần vào ngày 30/6/2023 số tiền 5.000.000 đồng, trong thời hạn 80 ngày theo hình thức trả lãi ngày, lãi suất 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày, 182,5%/năm, thế chấp 01 đăng ký xe máy của Nguyễn Minh H4, đã trả tổng số tiền gốc, lãi là 7.000.000 đồng trong đó số tiền lãi là 2.000.000 đồng, thu lợi bất chính số tiền 1.780.822 đồng.
  30. Cho anh Nguyễn Mạnh H5, sinh năm: 1997, trú tại: Số nhà D, đường L, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai vay 07 lần với tổng số tiền 45.000.000 đồng (từ ngày 25/3/2022 đến ngày 14/8/2023), vay theo hình thức trả lãi ngày, thời hạn cho vay tùy từng khoản từ 10 ngày đến 70 ngày, lãi suất 146%/năm.Tổng số tiền lãi Lê Văn V đã thu trong các khoản vay trên là 7.400.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 6.386.301 đồng.
  31. Cho anh Đặng Văn C2, sinh năm: 2002, trú tai: Thôn N, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai vay 02 lần tổng cộng 20.000.000 đồng, theo hình thức trả lãi ngày, thời hạn vay từ 04 ngày đến 07 ngày, lãi suất dao động từ 260,7%/năm đến 456,3%/năm. Tổng số tiền lãi Lê Văn V đã thu trong các khoản vay trên là 1.000.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 939.726 đồng.
  32. Cho anh Bùi Đức T9, sinh năm: 1997, trú tại: Số nhà C, đường H, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai vay 06 lần với tổng số tiền là 40.000.000 đồng (từ ngày 06/9/2022 đến ngày 30/9/2023), vay theo hình thức bốc họ hoặc vay theo hình thức trả lãi ngày, thời hạn cho vay từ 20 ngày đến 140 ngày, lãi suất tính 182,5%/năm. Tổng số tiền lãi bị cáo đã thu trong các khoản vay trên là 9.625.000 đồng, số tiền thu lợi bất chính là 8.570.204 đồng. Anh Bùi Đức T9 vẫn còn nợ bị cáo số tiền gốc tổng cộng 9.375.000 đồng.
  33. Cho anh Hoàng Bùi Đ2, sinh năm: 1996, trú tại: Tổ D, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai vay 02 lần với tổng số tiền là 8.000.000 đồng (từ ngày 12/6/2023 đến ngày 30/8/2023), theo hình thức vay lãi ngày, thời hạn cho vay từ 10 ngày đến 30 ngày, lãi suất dao động từ 182,5%/năm đến 243,33%/năm. Tổng số tiền lãi Lê Văn V đã thu trong các khoản vay trên là 950.000 đồng, thu lợi bất chính là 851.370 đồng.
  34. Cho anh Nguyễn Văn T10, sinh năm: 1973, trú tại: Đường T, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai vay 03 lần với tổng số tiền là 15.000.000 đồng (từ ngày 22/12/2022 đến 16/9/2023), vay theo hình thức “bốc họ”, thời hạn vay 40 ngày, lãi suất tính 182,5%/năm. Tổng số tiền lãi Lê Văn V đã thu trong các khoản vay trên là 2.325.000 đồng, thu lợi bất chính là 2.070.206 đồng.

Tại kết luận giám định số 05/KL-KLHS ngày 24/01/2024 của Phòng C3 - Công an tỉnh L kết luận: Chữ viết, chữ số trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2, A3 (trừ các chữ viết, chữ số viết tại trang 1, 5, 6, 27, 35 trên tài liệu ký hiệu A2) với chữ viết, chữ số của Lê Văn V trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M8 do cùng một người viết ra.

Cáo trạng số 17/CT-VKSTPLC ngày 12/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Lê Văn V về tội "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Văn V phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Áp dụng khoản 2, 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự; Điều 38; Điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn V từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Phạt bổ sung bị cáo Lê Văn V từ 30 triệu đến 40 triệu đồng để nộp Ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị:

Truy thu của bị cáo Lê Văn V để nộp Ngân sách Nhà nước số tiền: 1.028.333.334 đồng (Một tỷ không trăm hai mươi tám triệu ba trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi tư đồng) và số tiền 26.601.638 đồng (Hai mươi sáu triệu sáu trăm linh một nghìn sáu trăm ba mươi tám đồng).

Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro max, màu trắng, viền vàng, số I: 358612414755801, bên trong lắp 01 thẻ sim (đã qua sử dụng) nộp Ngân sách Nhà nước;

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bút bi vỏ màu xanh, mực bút màu xanh; 01 (một) sổ hộ khẩu số [...], chủ hộ Trần Thị V2; 01 (một) thẻ ngân hàng T15 số thẻ 4665845300155294 mang tên LE VAN VINH; 01 (một) thẻ ngân hàng M1 số thẻ 9704222089921977 mang tên LE VAN VINH; 04 (bốn) đoạn ống kim loại hình tròn, một đầu mài nhọn; 01 (một) gậy đánh bóng chày, màu đen.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 8.866.677 đồng (Tám triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm bảy mươi bảy đồng) và số tiền 121.225.154 đồng (Một trăm hai mươi mốt triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn một trăm năm mươi tư đồng) để đảm bảo cho việc thi hành án.

Truy thu của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm Đặng Thành T số tiền 19.000.000 đồng (Mười chín triệu đồng), Ngô Thanh H1 số tiền 1.875.000 đồng (Một triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), Nguyễn Hữu T3 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), Nguyễn Mai A1 số tiền 20.500.000 đồng (Hai mươi triệu năm trăm nghìn đồng), Nguyễn Minh H2 số tiền 1.250.000 đồng (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), Nguyễn Thị Cẩm G số tiền 4.250.000 đồng (Bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), Nguyễn Thị Thanh T4 số tiền 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng), Phạm Văn T6 số tiền 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng), Trần Thành D số tiền 4.750.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng), Trần Thị V2 số tiền 9.750.000 đồng (Chín triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng), Trần Xuân T7 số tiền 9.250.000 đồng (Chín triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), Vi Văn T8 số tiền 23.167.000 đồng (Hai mươi ba triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng), Bùi Đức T9 số tiền 9.375.000 đồng(Chín triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) để nộp Ngân sách nhà nước.

Tuyên án phí, quyền kháng cáo theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật thu giữ, kết luận giám định, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Thời gian từ đầu tháng 3/2022 đến ngày 01/10/2023 bị cáo Lê Văn V đã cho 34 người vay tiền với các hình thức vay như: “Bốc bát họ”; Vay trả lãi theo ngày, tháng; Vay có thế chấp tài sản. Bị cáo cho vay với mức lãi suất dao động từ 146%/năm đến 2190%/năm cao gấp 7,3 lần đến 109,5 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự nhằm mục đích thu lời bất chính, với tổng số tiền cho vay là 1.157.000.000 đồng (Một tỷ một trăm năm mươi bẩy triệu đồng), tiền gốc thu được là: 1.028.333.334 đồng (Một tỷ không trăm hai mươi tám triệu ba trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi tư đồng), tiền lãi đã thu là 245.466.666 đồng (Hai trăm bốn mươi lăm triệu bốn trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu đồng) trong đó số tiền lãi trong mức quy định theo điều 468 Bộ luật Dân sự là 26.601.638 đồng (Hai mươi sáu triệu sáu trăm linh một nghìn sáu trăm ba mươi tám đồng), số tiền thu lợi bất chính là 218.865.028 đồng (Hai trăm mười tám triệu tám trăm sáu mươi lăm nghìn không trăm hai mươi tám đồng). Số tiền gốc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: Đặng Thành T, Ngô Thanh H1, Nguyễn Hữu T3, Nguyễn Mai A1, Nguyễn Minh H2, Nguyễn Thị Cẩm G, Nguyễn Thị Thanh T4, Phạm Văn T6, Trần Thành D, Trần Thị V2, Trần Xuân T7, Vi Văn T8, Bùi Đức T9 còn nợ bị cáo Lê Văn V là: 128.666.666 đồng (Một trăm hai mươi tám triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng).

Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Lê Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Tội phạm được quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ.

[3] Về hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về quản lý hoạt động tín dụng, kinh doanh tiền tệ, xâm phạm lợi ích của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn.

Bị cáo là người có nhân thân xấu, có 02 tiền án về tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản” và tội “Cố ý gây thương tích” tính đến nay chưa được xóa án tích. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo, qua đó răn đe, phòng ngừa những hành vi tương tự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có tài sản riêng là số tiền hiện đang bị phong tỏa tại tài khoản ngân hàng, vì vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với khoản 3 Điều 3 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 201 Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

[5] Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Lê Văn V có 02 tiền án tính đến nay chưa được xóa án tích, do đó lần phạm tội này là tái phạm nguy hiểm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

[6]Về vật chứng vụ án:

Đối với số tiền 1.028.333.334 đồng là số tiền gốc bị cáo thu được và số tiền 26.601.638 đồng là số tiền lãi suất thu được, xét thấy đây là số tiền sử dụng vào việc phạm tội và số tiền phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước;

Đối với số tiền bị cáo Lê Văn V thu lời bất chính là 218.865.028 đồng. Theo quy định tại khoản 2 điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 201 Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự số tiền trên sẽ trả lại cho những người vay. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án và tại đơn xin vắng mặt tại phiên tòa những người vay tiền gồm: Chị Cao Kim N, A Đặng Thành T, A Hà Ngọc Hoàng A, A Lê Đức T1, A Lê Hoàng L, A Lê Hồng P, A Ngô Thanh H1, A Nguyễn Đức T2, Anh Nguyễn Hải Đ, Anh Nguyễn Hữu T3, Chị Nguyễn Mai A1, Anh Nguyễn Minh H2, Anh Nguyễn Quyết C, Chị Nguyễn Thanh H3, Chị Nguyễn Thị Cẩm G, Chị Nguyễn Thị L1, Chị Nguyễn Thị Thanh T4, A Nguyễn Tiến Đ1, Anh Nguyễn Trọng T5, Anh Nguyễn Văn B, Chị Nông Thị L2, A Phạm Văn T6, Anh Phạm Văn C1, Anh Trần Thành D, Chị Trần Thị V2, Anh Trần Xuân T7, Anh Tráng A, A Vi Văn T8, A Nguyễn Minh H4, A Nguyễn Mạnh H5, A Đặng Văn C2, A Bùi Đức T9, Anh Hoàng Bùi Đ2, Anh Nguyễn Văn T10 không có yêu cầu bị cáo phải trả lãi các khoản tiền bị cáo đã thu lời bất chính nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro max, màu trắng, viền vàng, số I: 358612414755801, bên trong lắp 01 thẻ sim bị cáo sử dụng làm phương tiện để phạm tội nên cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước;

Đối với: 01 (một) bút bi vỏ màu xanh, mực bút màu xanh; 01 (một) thẻ ngân hàng T15 số thẻ 4665845300155294 mang tên LE VAN VINH; 01 (một) thẻ ngân hàng M1 số thẻ 9704222089921977 mang tên LE VAN VINH; 04 (bốn) đoạn ống kim loại hình tròn, một đầu mài nhọn; 01 (một) gậy đánh bóng chày, màu đen, bị cáo Lê Văn V không yêu cầu trả lại, và đều không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy, xét thấy là phù hợp.

Đối với 01 (một) sổ hộ khẩu số [...] tên chủ hộ Trần Thị V2, xét thấy đây là giấy tờ cá nhân của chị V2, theo luật cư trú thì từ ngày 01/01/2023 sổ hộ khẩu hết giá trị sử dụng, hơn nữa chị V2 không có ý kiến xin trả lại, vì vậy cần tịch thu tiêu hủy xét thấy là phù hợp.

Đối với lệnh phong tỏa số 11 ngày 05/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an T về việc phong tỏa số tiền 8.866.677 đồng của bị cáo Lê Văn V trong tài khoản 0929711995 tại ngân hàng M2 chi nhánh L4 và lệnh phong tỏa số 12 ngày 05/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an T về việc phong tỏa số tiền 121.225.154 đồng của bị cáo Lê Văn V trong tài khoản 88882129555 tại ngân hàng Thương mại cổ phần T13 chi nhánh L4. Do bị cáo còn phải thi hành các khoản tiền nộp ngân sách nhà nước nên cần giải tỏa các lệnh phong tỏa và tiếp tục tạm giữ số tiền có trong tài khoản để đảm bảo cho việc thi hành án.

Đối với số tiền 128.666.666 đồng (Một trăm hai mươi tám triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng) là số tiền gốc mà những người vay gồm: Đặng Thành T (19.000.000 đồng), Ngô Thanh H1 (1.875.000 đồng), Nguyễn Hữu T3 ( 10.000.000 đồng), Nguyễn Mai A1 ( 20.500.000 đồng), Nguyễn Minh H2 (1.250.000 đồng), Nguyễn Thị Cẩm G (4.250.000 đồng), Nguyễn Thị Thanh T4 (4.500.000 đồng), Phạm Văn T6 (11.000.000 đồng), Trần Thành D (4.750.000 đồng), Trần Thị V2 (9.750.000 đồng), Trần Xuân T7 (9.250.000 đồng), Vi Văn T8 (23.167.000 đồng), Bùi Đức T9 (9.375.000 đồng) chưa trả cho bị cáo, xét thấy đây là số tiền bị cáo sử dụng để phạm tội nên cần buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp vào Ngân sách nhà nước.

[7] Về các vấn đề khác liên quan trong vụ án:

Đối với chị Trần Thị H, là mẹ đẻ của Lê Văn V, quá trình điều tra chị H khai đã cho bị cáo số tiền 300 triệu đồng để kinh doanh buôn bán nhưng chị Trần Thị H không biết việc bị cáo sử dụng số tiền trên để cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, tại phiên tòa chị H không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền trên, do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý xét thấy là phù hợp.

Đối với: Chị Phùng Thị T11, địa chỉ số A, đường H, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; Anh Phạm Đình D2, địa chỉ: Số nhà H, đường P, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Chị Hoàng Thị T12, địa chỉ Số nhà B, đường L, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Anh Đặng Ngọc H6, địa chỉ Thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên); Anh Hoàng Trường G1, địa chỉ Thôn K, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai; Anh Lương Văn L3, địa chỉ Số nhà F, đường P, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Chị Đới Thị H7 địa chỉ Số nhà B, đường L, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai); Chị Phạm Thị H8, địa chỉ: Tổ A, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Chị Ly Thảo N1, địa chỉ Tổ C, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Anh Nguyễn Quang S, địa chỉ: Số nhà C, đường N, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Anh Đặng Văn Q, địa chỉ: Thôn A N, xã K, huyện B, tỉnh Lào Cai; Anh Nguyễn Văn M, địa chỉ: tổ dân phố số A, thị trấn T, huyện B, tỉnh Lào Cai; Anh Phan Quang N2, địa chỉ: Tổ dân phố L, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc và tài khoản Zalo có tên “Tuấn A2” không xác định được số điện thoại đăng ký. Quá trình điều tra, bị cáo Lê Văn V khai nhận những người kể trên đều là những người đã vay tiền của bị cáo Lê Văn V, tuy nhiên bị cáo không nhớ rõ cụ thể đã cho vay bao nhiêu tiền, hình thức như thế nào, đã thu được bao nhiêu tiền lãi. Quá trình xác minh những người kể trên đều vắng mặt tại địa phương, chưa xác minh làm rõ được, do vậy chưa có căn cứ để xử lý xét thấy là phù hợp.

[8] Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo:

Đối với đề nghị của Kiểm sát viên về điều luật áp dụng và hình phạt, về vật chứng là phù hợp.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 2, 3 Điều 201; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Văn V phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  2. Xử phạt bị cáo Lê Văn V 09 (chín) tháng tù, khấu trừ cho bị cáo 09 ngày tạm giữ. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

    Phạt bổ sung bị cáo Lê Văn V 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) nộp Ngân sách nhà nước.

  3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
  4. Truy thu của bị cáo Lê Văn V để nộp Ngân sách Nhà nước số tiền: 1.028.333.334 đồng (Một tỷ không trăm hai mươi tám triệu ba trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi tư đồng) và số tiền 26.601.638 đồng (Hai mươi sáu triệu sáu trăm linh một nghìn sáu trăm ba mươi tám đồng).

    Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro max, màu trắng, viền vàng, số I: 358612414755801, bên trong lắp 01 thẻ sim (đã qua sử dụng) nộp Ngân sách Nhà nước;

    Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bút bi vỏ màu xanh, mực bút màu xanh; 01 (một) sổ hộ khẩu số [...], chủ hộ Trần Thị V2; 01 (một) thẻ ngân hàng T15 số thẻ 4665845300155294 mang tên LE VAN VINH; 01 (một) thẻ ngân hàng M1 số thẻ 9704222089921977 mang tên LE VAN VINH; 04 (bốn) đoạn ống kim loại hình tròn, một đầu mài nhọn; 01 (một) gậy đánh bóng chày, màu đen.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/4/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L);

    Giải tỏa lệnh phong tỏa số 11 ngày 05/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố L về việc phong tỏa số tiền 8.866.677 đồng trong tài khoản 0929711995 tại ngân hàng M2 chi nhánh L4, chủ tài khoản Lê Văn V. Sau khi giải tỏa lệnh phong tỏa cần tiếp tục tạm giữ số tiền 8.866.677 đồng (Tám triệu tám trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm bảy mươi bảy đồng) để đảm bảo cho việc thi hành án.

    Giải tỏa lệnh phong tỏa số 12 ngày 05/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an T về việc phong tỏa số tiền 121.225.154 đồng trong tài khoản 88882129555 tại ngân hàng Thương mại cổ phần T13 chi nhánh L4, chủ tài khoản Lê Văn V. Sau khi giải tỏa lệnh phong tỏa cần tiếp tục tạm giữ số tiền 121.225.154 đồng (Một trăm hai mươi mốt triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn một trăm năm mươi tư đồng) để đảm bảo cho việc thi hành án.

    Truy thu của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm Đặng Thành T số tiền 19.000.000 đồng (Mười chín triệu đồng), Ngô Thanh H1 số tiền 1.875.000 đồng (Một triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), Nguyễn Hữu T3 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), Nguyễn Mai A1 số tiền 20.500.000 đồng (Hai mươi triệu năm trăm nghìn đồng), Nguyễn Minh H2 số tiền 1.250.000 đồng (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), Nguyễn Thị Cẩm G số tiền 4.250.000 đồng (Bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), Nguyễn Thị Thanh T4 số tiền 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng), Phạm Văn T6 số tiền 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng), Trần Thành D số tiền 4.750.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng), Trần Thị V2 số tiền 9.750.000 đồng (Chín triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng), Trần Xuân T7 số tiền 9.250.000 đồng (Chín triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), Vi Văn T8 số tiền 23.167.000 đồng (Hai mươi ba triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng), Bùi Đức T9 số tiền 9.375.000 đồng(Chín triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) để nộp Ngân sách nhà nước.

  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lê Văn V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND TP Lào Cai;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP Lào Cai;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP Lào Cai;
  • - Sở tư pháp;
  • - Bị cáo; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Chi cục THADS TP Lào Cai ;
  • - Lưu HS; TA

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hà Thị Anh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Thị Ngọc Bích Trần Thanh Phương

THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI về hình sự (cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)

  • Số bản án: 46/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Vịnh cho 34 người vay lãi nặng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger