|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2024/HSST Ngày: 22/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN – TỈNH BẮC KẠN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Dương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Kiên Cường.
Ông Lý Văn Chỉnh.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại hội trường xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 45/2024/HSST ngày 17/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Hoàng Phúc Đ (tên gọi khác: Không), sinh ngày 12/02/1992 tại B; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B1, xã L, huyện Ch, tỉnh B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Phúc Ch (đã chết) và bà Hoàng Thị L; vợ con chưa có; tiền án: 01 (Tại Bản án số 13/2020/HSST ngày 08/9/2020, Tòa án nhân dân huyện Ch, tỉnh B xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau đó Tòa án nhân dân tỉnh B xét xử phúc thẩm, tại Bản án số 30/2020/HSPT, ngày 28/12/2020, xử phạt Hoàng Phúc Đ 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2012, bị đưa vào cơ sở giáo dục với thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 1674/QĐ – UBND ngày 12/10/2012 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B. Năm 2016 bị Tòa án nhân dân huyện Ch, tỉnh B xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 49/2016/HSST ngày 18/11/2016. Năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh L áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 12 (mười hai) tháng tại Quyết định số 95/2018/QĐ - TA ngày 13/8/2018, đến ngày 07/12/2019 thì chấp hành xong).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/11/2023 cho đến nay, tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 15 phút ngày 04/11/2023 tại khu vực tổ 12, phường S, thành phố B2, tỉnh Bắc Kạn tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy - Công an thành phố B2, tỉnh B bắt quả tang đối với Hoàng Phúc Đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Kết quả kiểm tra đã phát hiện và tạm giữ: Tại túi quần đằng trước bên phải của Hoàng Phúc Đ đang mặc 01 (một) hộp giấy màu trắng có chữ in, bên trong có 01 (một) gói giấy màu trắng loại giấy vệ sinh, bên trong có chứa 01 (một) gói được gói bằng giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột màu trắng (niêm phong trong phong bì ký hiệu A1); 01 (một) xy lanh, 02 (hai) lọ nước cất đều chưa qua sử dụng ( niêm phong trong phong bì ký hiệu A2). Ngoài ra tổ công tác còn tạm giữ của Hoàng Phúc Đ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen trắng đã qua sử dụng bên trong có lắp 02 sim có số thuê bao 0387.559.0xx và 0833.122.8xx.
Cùng ngày Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Phúc Đ. Qua khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.
Hoàng Phúc Đ khai nhận: Toàn bộ số chất bột màu trắng có trong 01 (một) hộp giấy màu trắng có chữ in, bên trong có 01 (một) gói giấy màu trắng loại giấy vệ sinh, bên trong có chứa 01 (một) gói được gói bằng giấy màu trắng có dòng kẻ Cơ quan điều tra thu giữ tại túi quần đằng trước bên phải của Đ đang mặc là ma túy của Đ tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Về nguồn gốc số ma túy Hoàng Phúc Đ khai: Đ là người nghiện ma túy, khoảng 19 giờ 30 phút ngày 04/11/2023 Đ đi bộ từ thôn N, xã N1, thành phố B2 đến tổ 12, phường S, thành phố B2 với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Trên đường đi, Đ vào một hiệu thuốc tân dược (không nhớ tên, địa chỉ cụ thể) mua 02 (hai) lọ nước cất và 01 (một) xylanh nhựa với số tiền 5.000 đồng (năm nghìn đồng) để sử dụng ma túy. Khi đi đến tổ 12, phường S, thành phố B2, Đ gặp một người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể), qua nói chuyện Đ biết người này có ma túy bán nên đã hỏi mua 1 gói ma túy loại Heroine với 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), sau khi đưa tiền thì người đàn ông đã đưa cho Đ 01 (một) hộp giấy màu trắng có chữ in, bên trong có 01 (một) gói giấy màu trắng loại giấy vệ sinh, bên trong có chứa 01 (một) gói được gói bằng giấy màu trắng có dòng kẻ có chứa ma túy. Sau khi mua được ma túy Đ cất giấu vào trong túi quần đằng trước bên phải đang mặc rồi đi tìm nơi sử dụng. Trên đường đi thì bị tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy, Công an thành phố B2 bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy và một số đồ vật khác.
Tiến hành cân xác định khối lượng toàn bộ số chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 có khối lượng là 0,15g (không phẩy một năm gam), sau khi cân niêm phong số chất bột màu trắng vào phong bì ký hiệu M1 gửi giám định. Phong bì, hộp giấy màu trắng, giấy vệ sinh màu trắng, giấy gói cũ được niêm phong vào phong bì ký hiệu M2 bảo quản theo quy định.
Tại Kết luận giám định số 355/KL-KTHS ngày 10/11/2023 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh B kết luận:
- Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định là ma tuý, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.
- Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu M1 có khối lượng là 0,15g (không phẩy một năm gam).
Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu M1 còn lại 0,10g (không phẩy một không gam) cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T202 hoàn trả lại cho Cơ quan trưng cầu.
Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKSTP ngày 16/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với Hoàng Phúc Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
......
c, Heroine ...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
......
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 04/11/2023.
Hình phạt bổ sung đề nghị không áp dụng.
* Về xử lý vật chứng đề nghị: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ký hiệu T202; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ký hiệu M2; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ký hiệu A2.
Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen trắng, đã qua sử dụng.
* Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
* Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo là không oan, đúng người, đúng tội và xin hưởng mức án nhẹ nhất. Lý do: Bản thân bị bệnh, hoàn cảnh gia đình khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo thống nhất với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có cơ sở khẳng định:
Hồi 20 giờ 15 phút ngày 04/11/2023, tại khu vực tổ 12, phường S, thành phố B2, tỉnh B tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy - Công an thành phố B2, tỉnh B bắt quả tang đối với Hoàng Phúc Đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,15g (không phẩy một năm gam) ma túy loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, việc truy tố, xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, vì vậy cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có 01 tiền án (Tại Bản án số 13/2020/HSST ngày 08/9/2020, Tòa án nhân dân huyện Ch, tỉnh B xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau đó Tòa án nhân dân tỉnh B xét xử phúc thẩm, tại Bản án số 30/2020/HSPT, ngày 28/12/2020, xử phạt Hoàng Phúc Đ 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2012, bị đưa vào cơ sở giáo dục với thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 1674/QĐ – UBND ngày 12/10/2012 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B. Năm 2016 bị Tòa án nhân dân huyện Ch, tỉnh B xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 49/2016/HSST ngày 18/11/2016. Năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh L áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 12 (mười hai) tháng tại Quyết định số 95/2018/QĐ - TA ngày 13/8/2018, đến ngày 07/12/2019 thì chấp hành xong).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
* Về hình phạt bổ sung: Bị không có tài sản, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung "Phạt tiền” theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ký hiệu T202 và dòng chữ: “Mẫu hoàn trả vụ: Hoàng Phúc Đ (1992)”. Mặt sau phong bì có 04 (bốn) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ký hiệu M2 và dòng chữ “Phong bì và giấy gói cũ lưu hồ sơ vụ án”. Mặt sau phong bì có 05 (năm) chữ ký không đọc được, 02 (hai) dòng chữ “Hoàng Phúc Đ”, 02 (hai) chữ ký tên “Đ”, và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố B2. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ký hiệu A2. Mặt sau phong bì có 04 (bốn) chữ ký không đọc được, 02 (hai) dòng chữ “Hoàng Phúc Đ”, 02 (hai) chữ ký tên “Đ”. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn. Tất cả là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
- - 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen trắng, đã qua sử dụng. IMEI1: 353872084267397 và số IMEI2: 353872084267405, bên trong điện thoại có sim số thuê bao 03875590xx và 08331228xx là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
* Trong vụ án này còn có người đàn ông đã bán ma túy cho Hoàng Phúc Đ, nhưng do Đ không biết họ tên, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ.
* Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố bị cáo Hoàng Phúc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hoàng Phúc Đ 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 04/11/2023.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ký hiệu T202 và dòng chữ: “Mẫu hoàn trả vụ: Hoàng Phúc Đ (1992)”. Mặt sau phong bì có 04 (bốn) chữ ký không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ký hiệu M2 và dòng chữ “Phong bì và giấy gói cũ lưu hồ sơ vụ án”. Mặt sau phong bì có 05 (năm) chữ ký không đọc được, 02 (hai) dòng chữ “Hoàng Phúc Đ”, 02 (hai) chữ ký tên “Đ”, và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố B2. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ký hiệu A2. Mặt sau phong bì có 04 (bốn) chữ ký không đọc được, 02 (hai) dòng chữ “Hoàng Phúc Đ”, 02 (hai) chữ ký tên “Đ”. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen trắng, đã qua sử dụng. IMEI1: 353872084267397 và số IMEI2: 353872084267405, bên trong điện thoại có sim số thuê bao 03875590xx và 08331228xx
Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an thành phố Bắc Kạn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn.
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Hoàng Phúc Đ phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
* Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Dương |
Bản án số 46/2024/HSST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN – TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 46/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN – TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Phúc Đ - Tàng trữ trái phép chất ma túy
