Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẢI HẬU

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/HS-ST

Ngày: 22-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hoè.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Kiêm;

Ông Đỗ Việt Hùng.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Vũ Minh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Kim C, sinh năm 1987; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm L, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1968; gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Ngày 18/6/2021, bị Toà án nhân dân huyện Hải Hậu xử phạt 18 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” đến ngày 30/8/2022 chấp hành xong hình phạt; tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H.

- Người làm chứng:

  1. Ông Phạm Văn N, sinh năm 1966;
  2. Anh Trần Văn C1, sinh năm 1993;
  3. Bà Trần Thị H, sinh năm 1972;
  4. Chị Mai Thị T, sinh năm 2000;
  5. Anh Nguyễn Đức T1, sinh năm 2001.

- Người chứng kiến:

  1. Anh Phạm Văn D, sinh năm 2000;
  2. Bà Lê Thanh H1, sinh năm 1965;
  3. Chị Nguyễn Thị Kim T2, sinh năm 2003;

Tại phiên tòa có mặt bị cáo, ông N, chị T; vắng mặt anh C1, bà H, anh T1, anh D, bà H1, chị T2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng giữa năm 2023, Phạm Kim C lên Hà Nội làm quen với người đàn ông tên L, khoảng 40 tuổi, sinh sống tại quận H, thành phố Hà Nội - là đối tượng bán ma tuý đá. Cương thỏa thuận với L khi nào có nhu cầu sử dụng ma tuý thì sẽ liên hệ qua điện thoại với L để mua. Ngày 03/01/2024, C sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X lắp sim số 0374.033.xxx liên hệ với số điện thoại 0888.928.xxx của L, nhờ L mua giúp 15.000.000 đồng ma túy đá về sử dụng dần trong dịp Tết Nguyên đán. L hẹn C khi nào có ma tuý sẽ đóng gói gửi xe khách về cho C, tiền gửi sau.

Khoảng 14 giờ ngày 07/01/2024, L gọi điện cho C thông báo gửi ma túy đá về cho C qua xe ô tô ghép chở khách nhãn hiệu Kia Sedona biển kiểm soát (BKS) 18A - 323.67 của anh Trần Văn C1. L đọc cho C số điện thoại của nhà xe để C tự liên hệ nhận hàng. C sử dụng tài khoản Zalo của chị Mai Thị T - người yêu của C đăng nhập vào điện thoại của C nhắn tin và gọi điện vào tài khoản Zalo của anh C1 để liên hệ nhận hàng do L gửi. C không nói cho anh C1 biết gói hàng là ma tuý đá và chỉ hỏi anh C1 “Có ai gửi hàng cho C không, bao giờ xe về đến xã H?”. Anh C1 trả lời: “Khoảng 17 giờ 30 phút đến cổng trường Trung học cơ sở xã H”. Khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 18H1 - 669.22 đi từ nhà ở xóm L, xã H đến trước nghĩa trang L1 thuộc xóm C, xã H và đứng đợi ở lề đường bên phải trên trục đường 488C theo hướng T xã H để nhận hàng. Đến 17 giờ 35 phút cùng ngày, anh C1 điều khiển xe ô tô BKS 18A - 323.67 dừng ở vị trí Cương đang đứng đợi rồi đưa cho C 01 túi ni lông màu trắng kích thước (25 x 7) cm dán kín và tiếp tục đi trả khách. C cầm túi ni lông trên đi đến chỗ dựng xe mô tô để đi về nhà, khi đến vị trí dựng xe thì bị tổ công tác Công an huyện H, Đ và Công an xã H đến kiểm tra. Phát hiện thấy lực lượng chức năng, C dùng tay xé rách và ném túi ni lông xuống sông tiêu nước cạnh trục đường 488C làm rơi 05 gói ni lông màu trắng được dán kín nổi lên mặt nước. Đồng thời, C nhảy xuống sông để chạy thoát nhưng bị tổ công tác truy đuổi, bắt giữ và thu trên mặt sông tiêu nước cạnh trục đường 488 thuộc xóm C, xã H 05 gói ni lông màu trắng kích thước (6 x 10)cm, bên trong các gói đều chứa các hạt tinh thể màu trắng (các gói không bị ngấm nước và được niêm phong ký hiệu lần lượt là M1, M2, M3, M4, M5). C khai nhận đó đều là ma túy đá C đặt mua, vừa nhận được, mục đích mang về nhà cất giấu để sử dụng dần cho bản thân. Ngoài ra còn tạm giữ của Phạm Kim C 01 xe mô tô BKS 18H1 - 669.22; 02 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 và Iphone X kèm sim số điện thoại 0374.033.xxx.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Kim C, Cơ quan điều tra còn thu giữ trong bao rác cạnh cửa ngoài hiên 02 gói ni lông màu trắng kích thước lần lượt là (2 x 5)cm và (10 x 5,5)cm đều bám dính chất bột màu trắng (niêm phong ký hiệu K1); thu giữ dưới chiếu giường ngủ 02 gói ni lông màu trắng kích thước (5 x 7)cm bên trong bám dính chất bột màu trắng (niêm phong ký hiệu K2).

Tại bản kết luận giám định số 263/KL-KTHS ngày 12/01/2024, Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 05 gói ni lông màu trắng trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M1, M2, M3, M4, M5 gửi giám định đều là ma túy, loại ma túy: Methamphetamine; khối lượng mẫu M1: 27,585 gam, khối lượng mẫu M2: 24,838 gam; khối lượng mẫu M3: 14,677gam; khối lượng mẫu M4: 5,298 gam; khối lượng mẫu M5: 18,926 gam. Tổng khối lượng các mẫu M1, M2, M3, M4, M5 là 91,324 gam. Đối với mẫu K2: Có tìm thấy thành phần chất Methamphetamine trong mẫu bột màu trắng bám dính nhưng không xác định được khối lượng mẫu. Đối với mẫu K1: Không tìm thấy thành phần các chất ma túy thường gặp theo danh mục các chất ma túy do Chính phủ ban hành; không xác định được khối lượng mẫu.

Cáo trạng số 46/CT-VKSHH ngày 26/4/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo Phạm Kim C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Kim C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Kim C từ 14 năm đến 15 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/01/2024. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và xử lý vật chứng đã thu giữ, chưa xử lý trong quá trình điều tra.

Tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo không tranh luận.

Nói lời nói sau cùng: Bị cáo công nhận đã thực hiện hành vi như nội dung vụ án đã nêu, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người làm chứng, người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định cùng các tài liệu khác đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ 35 phút ngày 07/01/2024, tại khu vực xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định, tổ công tác Công an huyện H phối hợp với Đ và Công an xã H phát hiện, bắt quả tang Phạm Kim C đang có hành vi cất giấu 91,324 gam Methamphetamine để sử dụng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không những trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây thiệt hại về sức khỏe, kinh tế của người sử dụng, ảnh hưởng lớn đến trật tự trị an xã hội.

Bị cáo là người có thể chất, tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; đã từng bị Tòa án kết án nhưng bị cáo không lấy đó là bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để trừng trị, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Ngày 18/6/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu xử phạt 18 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, đến ngày 30/8/2022 chấp hành xong hình phạt, chưa được xoá án tích. Vì vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ. Tuy nhiên, theo lời khai của bị cáo cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều thể hiện, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, bản thân nghiện ma túy. Do đó, không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp.

[6] Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 05 gói Methamphetamine. Xét đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone X màu trắng kèm sim số thuê bao 0374.033.112 bị cáo sử dụng liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu vàng đồng đã thu giữ là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Phạm Kim C.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 18H1 - 669.22: Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Phạm Văn N - bố đẻ bị cáo Phạm Kim C. Ông N không biết C mượn xe để đi lấy ma túy về sử dụng nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông N quản lý, sử dụng là phù hợp.

[7] Chị Mai Thị T cho Phạm Kim C mượn tài khoản zalo cài đặt sẵn trong điện thoại Iphone X của C để sử dụng hàng ngày; anh Trần Văn C1 là lái xe dịch vụ được thuê vận chuyển hàng từ Hà Nội về. Ngày 07/01/2024, C đã sử dụng zalo của chị T để liên hệ với anh C1 để nhận hàng gửi là ma túy. Do chị T không biết bị cáo dùng zalo để liên hệ mua ma túy, anh C1 không biết gói hàng gửi là ma túy; chị T, anh C1, đều không được bàn bạc, hứa hẹn từ trước, không hưởng lợi gì từ hành vi của bị cáo nên không có căn cứ xử lý đối với chị T và anh C1.

[8] Quá trình điều tra còn xác định, số điện thoại 0888.928.xxx mà đối tượng tên L sử dụng liên hệ với C để bán ma túy đăng ký chính chủ tên anh Nguyễn Đức T1 nhưng anh T1 đã ngừng sử dụng từ năm 2022. Anh T1 không biết C, L, không phải là người gửi ma túy cho C nên không có căn cứ xử lý bằng pháp luật đối với anh T1.

[9] Bị cáo Phạm Kim C phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

1.1. Tuyên bố bị cáo Phạm Kim C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1.2. Xử phạt Phạm Kim C 14 (mười bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/01/2024.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số Methamphetamine trong 01 phong bì thư niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 263/KLKTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N và sim điện thoại số 0374.033.xxx của bị cáo Phạm Kim C.
  • Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại IPhone X màu trắng của bị cáo Phạm Kim C.
  • Trả lại bị cáo Phạm Kim C 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 màu vàng đồng.

Vật chứng nêu trên được mô tả như Biên bản bàn giao nhận vật chứng ngày 16-5-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Bị cáo Phạm Kim C phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện Hải Hậu;
  • - Công an huyện Hải Hậu;
  • - Chi cục THADS huyện Hải Hậu;
  • - UBND xã Hải Lý;
  • - Bị cáo;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Ngô Thị Hoè

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 46/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Kim C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý trại điểm b khoản 3 điều 249
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger