|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2024/HNGĐ-ST
Ngày 22 tháng 4 năm 2024
V/v ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lâm Sơn
Ông Hứa Văn Khương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Trung, là Thư ký viên của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách tham gia phiên tòa: Bà Lâm Bích Ngọc-Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự về việc “Ly hôn” thụ lý số 384/2023/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 18/3/2024, và Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 04/4/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lâm Thị Kiều T; địa chỉ: ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng
Bị đơn: Ông Trần Thanh V; địa chỉ: ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Trong đơn khởi kiện ngày 27/10/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lâm Thị Kiều T trình bày: Giữa nguyên đơn với bị đơn là ông Trần Thanh V kết hôn từ năm 2018, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 18/9/2018. Vợ chồng không có con chung. Quá trình chung sống do không cùng quan điểm, tính tình không hợp nên thường xuyên cãi nhau, không còn tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Nay bà T yêu cầu ly hôn ông V; về con chung không có; về tài sản chung và nợ bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Trần Thanh V, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho ông V, nhưng ông không có ý kiến trả lời, cũng không đến Tòa án để cung cấp lời khai và tham gia các phiên họp khi được triệu tập.
2
Ý kiến của Viện Kiểm sát: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nhận xét về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án nhìn chung đều thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
[1] Tại phiên tòa, bà T là nguyên đơn và ông V là bị đơn đều vắng mặt, nhưng bà T đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, ông V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án, theo quy định tại Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông V xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật, nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Trong thời gian chung sống gần đây, bà T nhận thấy vợ chồng không cùng chung quan điểm, thường xuyên cãi nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, nên bà T yêu cầu ly hôn ông V. Riêng về phía ông V, Tòa án đã triệu tập tham dự các phiên họp, hòa giải ông đều vắng mặt, điều này cho thấy Tòa án đã tạo điều kiện thuận lợi để vợ chồng có cơ hội hàn gắn, đoàn tụ, nhưng ông V tỏ ra không quan tâm đến, không có thiện chí hợp tác. Tòa án đã xác minh ở chính quyền địa phương để tìm hiểu nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng nhưng địa phương không nắm được.
[3] Hội đồng xét xử thấy rằng, quan hệ hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên, nay bà T kiên quyết xin ly hôn vì cho rằng vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không còn tiếng nói chung; chính từ đó đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.
[4] Về con chung: Bà T cho biết giữa bà và ông V không có con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông V không có yêu cầu phản tố, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[8] Về quyền kháng cáo của đương sự được thực hiện theo quy định tại các Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
3
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 228, 238, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51 và 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án ly hôn và được giải quyết như sau:
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị Kiều T được ly hôn ông Trần Thanh V.
- - Về con chung: Không có.
- - Về tài sản chung và nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Bà Lâm Thị Kiều T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng, được khấu trừ hết vào số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000977, ngày 20/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Diệu |
Bản án số 46/2024/HNGĐ-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn
- Số bản án: 46/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị T yêu cầu ly hôn anh V
