Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÀNG LONG

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2024/DS-ST

Ngày: 21-8-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng

góp hụi và thực hiện nghĩa

vụ tài sản do người chết để lại.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thạch Huỳnh Liêm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khoa

Ông Trương Văn Tấn

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thu, Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Tính – Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 366/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024 giửa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Cao Thị H, sinh năm 1973

    Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

  2. Bị đơn: Người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng hợp pháp cho bà Nguyễn Thị C (chết 2021) gồm:
    • - Ông Ngô Chí T, sinh năm 1992
    • - Ông Ngô Chí T1, sinh năm 1995

    Cùng địa chỉ: ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 11 tháng 12 năm 2023 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Cao Thị H trình bày: Vào ngày 26 tháng 02 năm 2019 (âl), bà có làm đầu thảo hai dây hụi mùa mệnh giá 3.000.000 đồng (dây số 3 và dây số 4), gồm 14 phần, bà Nguyễn Thị C tham gia mỗi dây 01 phần, ghi trong danh sách hụi là 6 Cuộc. Khui hụi mỗi năm 03 lần bằng hình thức bỏ thăm, ai kêu thăm cao thì được hốt hụi, tiền đầu thảo hưởng huê hồng là 1.000.000 đồng. Giao kết trong vòng 10 ngay sau khi khui hụi thì các hụi viên phải đóng tiền đầy đủ cho đầu thảo để giao cho người hốt hụi. Việc chơi hui do bà là người lập danh sách giao cho các hụi viên theo dõi trong quá trình chơi hụi. Cụ thể quá trình chơi hụi như sau:

Dây hụi số 3 hụi khui đến lần thứ 3 vào ngày 24/9/2019 âl, bà C kêu 750.000 đồng và hốt được số tiền 29.750.000 đồng; Dây hụi số 5 khui đến lần thứ 4 vào ngày 13/02/2020 âl, bà C kêu 800.000 đồng và hốt được số tiền 30.000.000 đồng, tất cả số tiền hốt hụi bà đã giao đủ cho bà C. Sau khi hốt hết cả hai dây, bà C đóng hụi chết xong lần thứ 7, đến lần khui hụi thứ 8 vào ngày 13/6/2021 âl đến lần khui thứ 12 bà C không đóng hụi chết, lý do bà C chết vào ngày 17/3/2021 âl. Sau khi bà đã đóng choàng cho bà C 05 lần hụi chết của hai dây hụi với số tiền 30.000.000 đồng (mỗi dây 15.000.000 đồng) và khoảng tiền nợ của dây hụi khác nhưng các thừa kế của bà C gồm chồng bà C là ông Ngô Văn N và con bà C là Ngô Chí T và Ngô Chí T1 không thanh toán tiền hụi cho bà nên bà đã yêu cầu Cơ quan Toà án nhân dân huyện Càng Long giải quyết và đã giải quyết cho bà bằng bản án số 69/2023/DS-ST ngày 11/7/2023 đã có hiệu lực và đang chờ thi hành án. Hai dây hụi này còn 02 lần nửa đến ngày 15/6/2023 mãn hụi.

Đến hụi khui lần thứ 13 ngày 05/02/2023 âl và lần thứ 14 ngày 15/6/2023, bà tiếp tục đóng choàng hụi chết cho bà C 02 lần của 02 dây hụi với số tiền 12.000.000 đồng. Đến ngày 06/10/2023, ông Ngô Văn N là chồng bà C cũng chết. Nay bà yêu cầu giải quyết buộc ông Ngô Chí T và ông Ngô Chí T1, phải trả cho bà số tiền 12.000.000 đồng mà bà đóng choàng hụi chết cho bà C trong dây hụi này. Ngoài ra tôi không có yêu cầu gì thêm.

Trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Ngô Chí T và ông Ngô Chí T1 vắng mặt nên không có lời trình bày.

Ý kiến của Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Càng Long:

Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Từ khi thụ lý vụ án nguyên đơn thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa thực hiện theo quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Sau khi xem xét toàn bộ các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Ngô Chí T và ông Ngô Chí T1 liên đới thanh toán cho bà H số tiền hụi 12.000.000 đồng trong phạm vi di sản của bà Nguyễn Thị C và phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng: Theo đơn khởi kiện của bà Cao Thị H yêu cầu giải quyết buộc ông Ngô Chí T và ông Ngô Chí T1, cùng trú tại ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh liên đới trả số tiền hụi 12.000.000 đồng do bà Nguyễn Thị C chết chưa thanh toán. Vụ án được xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng góp hụi và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 471, 615 của Bộ luật dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Càng Long theo quy định tại Điều 35; Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về tham dự phiên toà của các đương sự: Nguyên đơn bà Cao Thị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt còn bị đơn ông Ngô Chí T và ông Ngô Chí T1 từ khi thụ lý đến đưa vụ án ra xét xử đều vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
  3. Về nội dung vụ án: Theo bản án số 69/2023/DS-ST ngày 11/7/2023 của Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh đã có hiệu lực thi hành đã nhận định: Vào ngày 26 tháng 02 năm 2019 âl, bà H có làm đầu thảo hai dây hụi mùa mệnh giá 3.000.000 đồng (dây số 3 và dây số 4), mỗi dây gồm 14 phần, bà Nguyễn Thị C tham gia mỗi dây 01 phần, (ghi trong danh sách hụi là 6 Cuộc). Quá trình chơi hụi như sau: Vào lần khui thứ 3 ngày 24/9/2019 âl, bà C kêu Dây hụi số 3 được số tiền 29.750.000 đồng và vào lần thứ 4 ngày 13/02/2020 âl, bà C kêu hốt Dây hụi số 5 được số tiền 30.000.000 đồng, tất cả số tiền hốt hụi bà H đã giao đủ cho bà C. Sau khi hốt hết cả hai dây, bà C đóng hụi chết xong lần thứ 7, từ lần khui hụi thứ 8 vào ngày 13/6/2021 âl, bà C không đóng hụi chết, lý do bà C bị dịch bệnh Covid-19 chết ngày 17/3/2021 âl nên bà H bà đã đóng choàng cho bà C từ lần khui hụi thứ 8 vào ngày 13/6/2021 âl đến lần khui thứ 12 là 05 lần với số tiền 30.000.000 đồng nên Toà án nhân dân huyện Càng Long đã tuyên buộc các thừa kế của bà C gồm ông Ngô Văn N, Ngô Chí T, Ngô Chí T1 thanh toán tiền hụi trên cho bà H.
  4. Xét yêu cầu của bà H thấy rằng, hai dây hụi số 3, số 4 trên chỉ mới giải quyết xong đến lần khui thứ 12 còn lại lần khui thứ 13 ngày 05/02/2023 âl và lần khui thứ 14 ngày 15/6/2023 mới mãn hụi nhưng chưa được giải quyết do thời điểm đó chưa đến thời gian khui hụi nên chưa phát sinh tranh chấp. Hiện nay, bà H đã tiếp tục đóng choàng xong hụi chết cho bà C 02 lần của 02 dây hụi với số tiền 12.000.000 đồng. Do vợ chồng bà Nguyễn Thị C và ông Ngô Văn N chết và trong quá trình tố tụng ông Ngô Chí T và ông Ngô Chí T1 không tham dự, không cung cấp chứng cứ nào khác. Bà H có cung cấp Phiếu cung cấp thông tin số 594/PCCTT-CNHCL ngày 17/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, thể hiện hộ bà Nguyễn Thị C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm: Thửa đất số 773A, tờ bản đồ số 7, diện tích 8370m², loại đất lúa; Thửa đất số 785, tờ bản đồ số 27, diện tích 2534,2m², loại đất ONT-CLN; Thửa đất số 840, tờ bản đồ số 27, diện tích 414,4m², loại đất CLN, cùng toạ lạc ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh để chứng minh di sản của bà C. Do đó, bà H yêu cầu ông Ngô Chí T và ông Ngô Chí T1 liên đới thanh toán cho bà H số tiền hụi 12.000.000 đồng trong phạm vi di sản trên là có căn cứ là phù hợp với Điều 471, 615 của Bộ luật dân sự nên được chấp nhận.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của bà H được chấp nhận nên ông T, ông T1 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  6. Xét lời đề nghị của kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 217; Điều 264; Điều 266; Điều 267; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điều 471; Điều 612; Điều 613; Điều 615; Điều 623; Điều 651; Khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;

Căn cứ Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Cao Thị H.

    Buộc ông Ngô Chí T và ông Ngô Chí T1 liên đới thanh toán cho bà Cao Thị H số tiền hụi 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).

    Ông Ngô Chí T và ông Ngô Chí T1 liên đới thanh toán cho bà Cao Thị H số tiền trên trong phạm vi di sản của bà Nguyễn Thị C đối với thửa đất số 773A, tờ bản đồ số 7, diện tích 8370m², loại đất lúa; Thửa đất số 785, tờ bản đồ số 27, diện tích 2534,2m², loại đất ONT-CLN; Thửa đất số 840, tờ bản đồ số 27, diện tích 414,4m², loại đất CLN, cùng toạ lạc ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Ngô Chí T và ông Ngô Chí T1 liên đới phải nộp 600.000 đồng (Sáu trăm ngàn đồng). Bà Cao Thị H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001303 và số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001302 cùng ngày 12/12/2023 tại Chi cục Thi hành án huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.

    Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt tại phiên có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Trà Vinh ;
  • -VKSND huyện Càng Long;
  • -CC THADS huyện Càng Long;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu HS,TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thạch Huỳnh Liêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/DS-ST ngày 21/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng góp hụi và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

  • Số bản án: 46/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Buộc ông Ngô Chí Tình và ông Ngô Chí Thương liên đới thanh toán cho bà Cao Thị Hà số tiền hụi 12.000.000 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger