Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10 - THANH HÓA

Bản án số 46/2025/HS - ST

Ngày 17 tháng 12 năm 2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Kim Sơn và Bà Lê Thị Bảy

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quang Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thuý - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2025/TLST- HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 12 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Phạm Văn Q, tên gọi khác: Không; sinh ngày 25/04/1993 tại xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn T, xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: [...]; Con ông: Phạm Văn T và bà Phạm Thị L. Tiền án, Tiền sự: Không.
  2. Nhân thân: Năm 2022 bị cáo bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định số 114/QĐ - TA ngày 19/05/2022 của TAND Thành phố Thủ Đức TP .. Chấp hành xong 25/04/2023 theo giấy chứng nhận chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 89/GCN - CSPĐ ngày 25/04/2023.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/07/2025 tại phân trại tạm giam khu vực T cho đến nay. Có mặt.

  3. Phạm Văn C; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 11/07/1993 tại xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn T, xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: [...]; Con ông Phạm Văn C1 và bà Phạm Thị D. Tiền án, Tiền sự: Không.
  4. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/07/2025 tại phân trại tạm giam khu vực T cho đến nay. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Phạm Tuấn A - Sinh năm: 1979.

Địa chỉ: Thôn C, xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa Vắng mặt người làm chứng là anh Phạm Tuấn A.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 28/07/2025, tổ tuần tra Công an xã N, tỉnh Thanh Hóa tuần tra tại khu vực thôn X, xã N phát hiện Phạm Văn Q, trú tại thôn T, xã N có biểu hiện nghi vấn, qua kiểm tra trên tay Q đang cầm một túi nilong, bên trong có 10 bơm kim tiêm loại 3ml và 10 lọ nước cất loại 2ml (chưa sử dụng), Q khai nhận vừa cùng với Phạm Văn C, trú tại thôn T, xã N sử dụng chất ma tuý và hiện bị cáo đang trên đường đi mua bơm kim tiêm, nước cất đem về để sử dụng ma tuý dần nên tổ công tác đưa Q về trụ sở để làm việc, đến khoảng 23 giờ cùng ngày Phạm Văn C đến Công an xã N khai nhận hành vi phạm tội của mình. Quá trình làm việc các đối tượng khai nhận: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 28/07/2025, sau khi ăn cơm, uống rượu, Q rủ C góp tiền đi mua ma túy để sử dụng, C đồng ý, cả hai thống nhất mỗi người góp 250.000 đồng. Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B3 - 302.35 mượn của anh Phạm Tuấn A đi mua xi lanh, nước cất và đi đến khu vực đồi luồng thuộc thôn C, xã N hỏi mua ma tuý với một người đàn ông, qua nói chuyện được biết có tên gọi là “Hĩm Huyên”, với số tiền là 500.000 đồng, loại Heroine. Mua được ma túy, Q quay về chở C đến đoạn đường vắng người thuộc thôn V, xã N. Q lấy gói ma túy và bơm kim tiêm ra cùng với C pha chế ma tuý với nước cất vào ống bơm kim tiêm, Q tiêm chích vào người của mình xong, quay sang tiêm chích cho C, sau đó Q đi mua xi lanh, nước cất đem về sử dụng dần thì bị tổ công tác Công an xã N kiểm tra, đưa về trụ sở để làm việc, sau đó C đến Công an xã N đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi Q và C sử dụng ma túy, Cơ quan điều tra thu giữ được 02 bơm kim tiêm bên trong có chất bám dính chất màu nâu đỏ (nghi là máu). Kết quả giám định của V, Bộ C2 kết luận, (bút lục 35 - 38): “Tìm thấy chất ma túy H (H) và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Heroine trong bơm kim tiêm niêm phong mã số NP0011 gửi giám định.

Tìm thấy sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Heroin (Heroine) trong bơm kim tiêm trong niêm phong mã số NP0067 gửi giám định.”

“1. Chiếc bơm kim tiêm trong phong bì ghi: “TÚI NIÊM PHONG Mã số" NP 0067" có bám dính máu của Phạm Văn C.

2. Chiếc bơm kim tiêm trong phong bì ghi: “TÚI NIÊM PHONG Mã số” NP 0011 “có bám dính máu của Phạm Văn Q"

“Tìm thấy các sản phẩm chuyển hóa của H (Heroin) trong các mẫu nước tiểu ghi thu của Phạm Văn Q và Phạm Văn C gửi giám định”.

Bản cáo trạng số 09/CT-VKSKV10 ngày 07/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 Thanh Hoá truy tố Phạm Văn Q và Phạm Văn C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Phạm Văn Q và Phạm Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo giữ nguyên quan điểm truy tố, căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Phạm Văn Q và Phạm Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".

Áp dụng: Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn Q với mức án từ 03 (ba) năm 09 (Chín) tháng đến 04 (B) năm tù.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn C với mức án từ 03 (ba) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm 09 (Chín) tháng tù.

Đề nghị HĐXX xem xét xử lý vật chứng, đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo và đề nghị buộc các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Các Bị cáo không bào chữa và không có tranh luận gì.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên toà, người làm chứng vắng mặt, mặc dù đã được toà án triệu tập hợp lệ. Xét thấy việc vắng mặt của người làm chứng không gây trở ngại đến việc xét xử vụ án. Căn cứ điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà Phạm Văn Q và Phạm Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu trên. Lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 28/07/2025 Phạm Văn Q và Phạm Văn C rủ nhau góp tiền mua ma tuý, loại Heroine với một người đàn ông lạ mặt, ở khu vực đồi luồng thuộc thôn C, xã N với số tiền 500.000 đồng đem về cùng nhau sử dụng, bằng hình thức tiêm chích vào người, tại đoạn đường vắng người thuộc thôn V, xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Hành vi của Phạm Văn Q và Phạm Văn C đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 có khung hình phạt từ 03 đến 07 năm tù.

[3] Hành vi phạm tội của Bị cáo Phạm Văn Q và Phạm Văn C là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, xâm hại trật tự an toàn xã hội. Tệ nạn nghiện hút ma túy là một trong những nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh các loại tệ nạn và tội phạm nguy hiểm khác, làm suy kiệt kinh tế và tác động ảnh hưởng thế hệ thanh thiếu niên, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải có đường lối xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Các Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, Các bị cáo nhận thức rõ tác hại của tệ nạn ma túy và việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Cả hai bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân:

Bị cáo Phạm Văn C có nhân thân tốt.

Bị cáo Phạm Văn Q có nhân thân xấu: Năm 2022 bị cáo bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định số 114/QĐ - TA ngày 19/05/2022 của TAND Thành phố Thủ Đức - TP .. Chấp hành xong 25/04/2023 theo giấy chứng nhận chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 89/GCN - CSPĐ ngày 25/04/2023. Lẽ ra sau lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc này bị cáo phải lấy đó làm bài học, rèn luyện tu dưỡng bản thân để tránh xa tệ nạn ma tuý thì bị cáo lại tiếp tục rủ Phạm Văn C cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Do đó cần lên cho bị cáo mức án phù hợp và nghiêm khắc đối với Phạm Văn Q để đủ sức răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên toà Phạm Văn Q và Phạm Văn C đều thành khẩn khai báo. Mặt khác sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện các bị cáo đã đầu thú. Do đó cả hai bị cáo cùng được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về vai trò của các bị cáo trong vụ án:

Vụ án này có hai bị cáo cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội. Nhưng hành vi của các bị cáo không cấu kết chặt chẽ, không có sự phân công vai trò cụ thể, nên chỉ là dạng đồng phạm giản đơn giữa hai bị cáo trong vụ án. Trong đó Phạm Văn Q là người rủ rê Phạm Văn C góp tiền mua ma túy, trực tiếp đi mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ, trực tiếp đưa ma túy vào cơ thể của Phạm Văn C. Nên trong vụ án này bị cáo Phạm Văn Q là người giữ vai trò cao hơn so với Phạm Văn C.

Về hình phạt:

Căn cứ vào tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội; trên cơ sở xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Phạm Văn Q và Phạm Văn C như đã nêu ở trên. Khi quyết định hình phạt xét thấy việc cách ly xã hội đối với các bị cáo một thời gian là cần thiết, nhưng cũng cần xem xét giảm cho các bị cáo một phần hình phạt chính để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân lương thiện.

Tại phiên toà, đại diện viện kiểm sát đề nghị buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ nên hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự thì “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 đến 05 năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Xét bị cáo Phạm Văn Q và Phạm Văn C không có nghề nghiệp, không có tài sản và thu nhập ổn định nên HĐXX quyết định miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.

[6] Về vật chứng và tài liệu đồ vật thu giữ:

- Đối với 01 phong bì niêm phong bởi 03 hình dấu và các chữ ký có liên quan Đào Thị Thanh H1, Quách Mạnh H2, bên trong có 02 bơm kim tiêm đã qua sử dụng; 10 bơm kim tiêm (xi lanh) loại 3ml chưa qua sử dụng; 10 ống nước cất chưa qua sử dụng. Đây là công cụ phương tiện phạm tội của các bị cáo không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp.

- Đối với số tiền 250.000 (Hai trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền mà C trả cho Q sau khi sử dụng xong ma tuý. Xét thấy đây là số tiền Q thu được từ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý do đó cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp.

[7] Về các vấn đề khác:

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B3 - 302.25 Phạm Văn Q mượn của anh Phạm Tuấn A, ở thôn C, xã N, Phạm Tuấn A không biết Q sử dụng vào việc phạm tội, nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Theo lời khai của Phạm Văn Q: Số ma tuý mà Q cùng với C sử dụng ở khu vực thuộc thôn V, xã N do mua với người đàn ông có tên gọi là “Hĩm Huyên", không biết địa chỉ, quá trình điều tra không xác định được, cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý. Nên HĐXX không xem xét.

[8] Về Án phí: Các bị cáo Phạm Văn Q và Phạm Văn C là người bị kết án nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điều 50; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 1 và Đ a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333; Điều 336; Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; Điều 26 của Luật thi hành án dân sự.

Tuyên bố:

Các bị cáo Phạm Văn Q và Phạm Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt:

Bị cáo Phạm Văn Q 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 29/07/2025.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn C 03 (Ba) năm 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 29/07/2025.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bởi 03 hình dấu và các chữ ký có liên quan Đào Thị Thanh H1, Quách Mạnh H2, bên trong có 02 bơm kim tiêm đã qua sử dụng; 10 bơm kim tiêm (xi lanh) loại 3ml chưa qua sử dụng; 10 ống nước cất chưa qua sử dụng.

- Tịch thu sung công: Số tiền 250.000 (Hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 20/11/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T với Chi cục Thi hành án dân sự khu vực 10 - Thanh Hoá và giấy nộp tiền ngày 20/11/2025 vào tài khoản số 3949.0.10546.00000 của thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá.

Án phí:

Các bị cáo Phạm Văn Q và Phạm Văn C. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (17/12/2025). Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thanh Hoá, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND khu vực 10 - Thanh Hoá;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Trại tạm giam khu vực Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá.
  • - CQĐT CA tỉnh Thanh Hoá;
  • - THADS tỉnh Thanh Hoá;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thu Hằng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Kim Sơn

Lê Thị Bảy

Nguyễn Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HS - ST ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THANH HÓA về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 46/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Q và Phạm Văn C sử dụng trái phép chất ma tuý.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger