|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:46/2025/HS- ST Ngày 15-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Xuân Hải
Ông Trần Văn Thiện
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Chức- Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3- Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3- Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 179/2025/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 12 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 21/TB- TA ngày 08/12/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lương Trọng Đ, sinh năm 1986
Nơi thường trú: tổ dân phố M, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lương Văn P và bà: Hoàng Thị P1; vợ: Hà Thị T; con: có 03 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2019; nhân thân: không; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên toà).
+ Bị hại: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1947 (đã chết)
+ Đại diện hợp pháp của bà T1:
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1976 (vắng mặt)
Nơi thường trú: thôn N, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
- Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1985 (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1990 (có đơn xin vắng mặt)
Đều thường trú: thôn C, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện theo uỷ quyền của chị H, anh T2, anh L: Ông Nguyễn Tuấn N, sinh năm 1968 (có đơn xin vắng mặt)
Nơi thường trú: thôn C, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Hà Thị T, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Nơi thường trú: tổ dân phố M, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lương Trọng Đ, sinh năm 1986, trú tại tổ dân phố M, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh có giấy phép lái xe B2 theo quy định. Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 30/7/2025, Đ điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98C - 371.04 đi trên đường X, tỉnh Bắc Ninh theo hướng thôn C, xã N đi đường T. Khi đến đoạn đường thuộc thôn C, xã N, tỉnh Bắc Ninh, do Đ mệt mỏi và ngủ gật, không làm chủ tay lái dẫn đến xe ô tô đã đi ra lề đường đất bên phải (theo chiều đi của Đ). Lúc này, Đ giật mình tỉnh ngủ thì phát hiện bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1947, trú tại thôn C, xã N, tỉnh Bắc Ninh đang đứng ở lề đường đất bên phải và cách đầu xe ô tô của Đ khoảng 4m đến 5m, Đ điều khiển xe ô tô đánh lái sang bên trái để tránh bà T1 nhưng không kịp nên phần nhựa ốp đèn chiếu sáng bên phải, cạnh trước bên phải nắp capo trước xe ô tô đã đâm vào người bà T1 đang đứng ở lề đường làm bà T1 ngã xuống ruộng. Hậu quả bà T1 bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B, sau đó tử vong cùng ngày.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tạm giữ của Lương Trọng Đ gồm: 01 xe ô tô nhãn hiệu MAZDA, số loại CX5, màu sơn Trắng, biển kiểm soát 98C - 371.04; 01 (một) Giấy đăng ký xe ô tô số 9800000307; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số 1188559, 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm số DK24/0331289; 01 (một) Giấy phép lái xe hạng B2, số [...] mang tên Lương Trọng Đ.
Ngày 08/8/2025, Đ giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 đĩa DVD-R, nhãn hiệu Maxell, bên trong có lưu giữ 02 file video ghi lại diễn biến vụ tai nạn giao thông ngày 30/7/2025 do camera hành trình trên xe ô tô của Đ ghi lại để phục vụ công tác điều tra.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là tại đoạn đường liên xã đoạn thuộc thôn C, xã N, tỉnh Bắc Ninh. Đoạn đường thẳng, mặt đường trải nhựa phẳng, rộng 11,1m, ở giữa có vạch sơn nét đứt màu vàng chia lòng đường thành hai chiều. Theo hướng thôn C đi Tỉnh lộ 295, bên phải đường có lề đất rộng 1,4m, bên cạnh là ruộng rau, bên trái đường có lề bê tông rộng 0,7m, trên lề có cột biển báo giao nhau với đường không ưu tiên W.207a.
Quá trình khám nghiệm lấy mép đường bên phải theo hướng thôn C đi Tỉnh lộ 295 làm chuẩn. Xác định cột biển báo giao nhau với đường không ưu tiên W.207a bên trái đường làm mốc.
Tại hiện trường phát hiện: Dấu vết cày, xới đất in hằn hình dạng vân lốp và gãy nát cỏ cây trên lề đất và ruộng rau ký hiệu (1), chiều hướng thôn C đi Tỉnh lộ 295, kích thước (30,74 x 2)m. Điểm đầu vết trùng với mép đường làm chuẩn, cách điểm mốc 14,6m về hướng thôn C. Điểm cuối vết cách mép đường làm chuẩn 4,5m và trùng với bánh trước bên phải của xe ô tô biển kiểm soát 98C - 371.04. Mảnh nhựa vỡ rơi trên ruộng rau, ký hiệu (2) kích thước (0,3 x 0,13)m. T1 vết cách điểm đầu vết (1) là 20,35m về hướng Tỉnh lộ 295 và cách mép đường làm chuẩn 3,4m. Xe ô tô biển kiểm soát 98C- 371.04 nằm dưới ruộng rau, hơi nghiêng về bên phải ký hiệu (3), đầu xe hướng Tỉnh lộ 295.
Trục bánh trước bên trái xe cách mép đường làm chuẩn 2,4m. Trục bánh sau bên trái xe cách mép đường làm chuẩn 1,8m (bút lục 82-90).
* Kết quả khám nghiệm tử thi Nguyễn Thị T1:
- Khám ngoài: Vùng đầu: Tóc đen điểm bạc, để ngang vai. Vùng mặt: hai mắt khép tự nhiên, hai mũi, hai tai khô, miệng khô, vùng má trái có vết chợt da màu tím, kích thước (1,8 x 0,1)cm, vành tai trái có vết bầm tím, kích thước (2 x 1,5)cm; Trật đốt sống cổ C5, C6. Ngực, bụng, lưng, mông: Gãy cung bên xương sườn 8,9,10 bên phải, khoang lồng ngực bên phải chọc hút ra nhiều khí. Gãy cung trước xương sườn 6, 7, 8, 9 bên trái, chọc hút có ít dịch tại khoang màng phổi trái ra nhiều máu không đông màu đỏ. Vùng mông bên phải có nhiều vết bầm tím trên diện (20 x 18)cm. Gãy cổ xương đùi phải, vỡ ổ chảo phải; Khuỷu tay phải có vết chợt da bầm tím sưng nề trên diện (9 x 7)cm. Mặt sau 1/3 khuỷu tay phải có vết sưng nề bầm tím, kích thước (7,5 x 4)cm. Mu bàn tay phải có vết bầm tím trên diện (5 x 4)cm, trên nền có vết rách da, kích thước (2,5 x 0,4)cm; Tay trái khám không có thương tích. Chân phải: Đổ ngoài, mặt trước trong 1/3 trên đùi phải có vết bầm tím, kích thước (8 x 5)cm. Khoeo chân phải bầm tím, kích thước (19 x 8)cm. Mặt trước cẳng chân phải có đám chợt da bầm tím, kích thước (30 x 16)cm. Mu bàn chân phải có 02 vết chợt da, kích thước (0,6 x 0,6) cm và (3 x 0,2)cm. Chân trái: mặt trước trong cẳng chân trái có nhiều vết bầm tím, kích thước (36x13)cm, bộ phận sinh dục không tổn thương. Khám kỹ bên ngoài không phát hiện tổn thương khác.
- Mổ tử thi: Gia đình từ chối giải phẫu tử thi.
* Tại Bản kết luận giám định tử thi số 03A/KLGĐTT-TTPY ngày 25/8/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh B, kết luận:
- Các kết quả chính qua giám định: Cổ mềm. Trật đốt sống cổ C5, C6; Gãy cung bên xương sườn 8, 9, 10 bên phải. Gãy cung trước xương sườn 6, 7, 8, 9 bên trái. Chọc hút khoang màng phổi phải ra nhiều khí. Chọc hút khoang màng phổi trái ra nhiều máu không đông màu đỏ. Khuỷu tay phải có vết chợt da bầm tím, sưng nề. Mặt sau 1/3 trên cẳng tay phải có vết sưng nề, bầm tím. Mu bàn tay phải có vết bầm tím, trên nền có vết thương rách da. Chân phải: Đổ ngoài. Gãy cổ xương đùi phải, vỡ ổ chảo phải; Mặt trước 1/3 trên đùi phải có vết bầm tím. Khoeo chân phải bầm tím. Mặt trước cẳng chân phải có vết chợt da bầm tím. Mu bàn chân phải có 02 vết chợt da; Mông phải có nhiều vết bầm tím.
- Kết luận nguyên nhân chết: Chết do đa chấn thương do tai nạn giao thông.
- Kết luận khác: Thời gian chết: Cách thời điểm khám nghiệm trên 06 giờ.
Các thương tích ở mục kết quả chính qua giám định là nguyên nhân chính dẫn đến cái chết của bà T1. Cơ chế, chiều hướng, vật, lực gây nên thương tích: Các thương tích do va chạm với vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng và lực tác động.
* Kết quả khám xe ô tô biển kiểm soát 98C - 371.04: Gương chiếu hậu bên phải gãy treo ở xe, mặt gương và ốp gương bật rời khỏi xe; Nắp capo bẹp méo, cong vênh hướng từ trước về sau, từ dưới lên trên. Mặt trên có nhiều vết mài sát trên diện (112 x 55)cm; Mặt trước ốp nhựa đèn chiếu sáng trước bên phải có vết mài sát nhựa, kích thước (16 x 3)cm; Mặt ga lăng nứt vỡ, bẹp méo chiều hướng từ trước về sau, trên có nhiều vết mài sát bám dính bùn đất trên diện (56 x 38)cm; Ba đờ sốc trước vỡ nhựa, bẹp méo chiều hướng từ trước về sau, bám dính nhiều bùn đất, vôi vữa trên diện (100 x 40) cm; Biển số trước cong vênh, bẹp méo hướng từ trước về sau bám dính bùn đất, kích thước (12 x 10)cm; Cản trước vỡ nhựa, bẹp méo hướng từ trước về sau, bám dính nhiều bùn đất, kích thước (50 x 30)cm; Mặt ngoài cửa xe phía trước và phía sau bên phải có vết mài sát bám dính chất màu đen trên diện (56 x 36)cm; Bánh trước, bánh sau và sườn xe bên phải bám dính nhiều bùn đất; Túi khí ghế lái và ghế phụ phía trước bung ra. Hệ thống điều khiển, phanh, đèn, còi hoạt động bình thường.
* Tại Bản kết luận giám định số 2264/KL-KTHS ngày 05/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
- Dấu vết mài trượt nhựa tại ốp đèn chiếu sáng bên phải, cạnh trước bên phải nắp capo trước của xe ô tô biển kiểm soát 98C -371.04, có hướng từ trước ra sau (ảnh 8, 9, 10 bản ảnh khám phương tiện) được hình thành do va chạm với vật tày, có bề mặt dạng vải sợi (như cơ thể người mặc quần áo) tạo nên. Không xác định được vị trí xảy ra va chạm trên mặt đường qua dấu vết cơ học.
- Dấu vết bẹp méo, chùn cong, mài sát sơn, nhựa, kim loại, bám dính đất tại mặt ca lăng, ba đờ sốc trước, biển số trước, cản trước của xe ô tô biển kiểm soát 98C - 371.04, có hướng từ trước về sau (từ ảnh 13 đến 16 bản ảnh khám phương tiện) được hình thành do va chạm với vật tày cứng, bề mặt dạng gạch - bê tông (như khối gạch - bê tông trên ruộng rau bên phải đường, ảnh số 13 bản ảnh khám nghiệm hiện trường).
- Dấu vết cày xới đất, dập nát cỏ cây, in hình vân lốp ký hiệu số 1 phù hợp với quá trình xe ô tô biển kiểm soát 98C-371.04 chuyển động tiến và rê trượt trên lề đường và ruộng rau bên đường tạo nên.
- Chiều hướng chuyển động: Tại thời điểm xảy ra tai nạn xe ô tô biển kiểm soát 98C-371.04 chuyển động theo hướng thôn C, xã N đi Tỉnh lộ 295.
- Không xác định được tốc độ của xe ô tô biển kiểm soát 98C-371.04 tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra cho bị cáo Lương Trọng Đ quan sát các bản ảnh được trích xuất từ camera hành trình xe ô tô biển kiểm soát 98C-371.04. Sau khi quan sát bản ảnh, Đ xác định các hình ảnh trích xuất được phù hợp với diễn biến vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 30/7/2025, tại thôn C, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
* Tại Bản kết luận giám định số 2109/KL-KTHS ngày 27/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
- Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 (hai) file video được lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định sau: File video có tên “MOVI1093.mov", dung lượng: 100MB, thời lượng 01 phút 01 giây; File video có tên “MOVI1094. mov”, dung lượng: 100MB, thời lượng 01 phút 29 giây.
- Trích xuất được 14 (mười bốn) hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong file video gửi giám định.
Tại Cáo trạng số: 18/CT- VKS ngày 25/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Bắc Ninh đã truy tố Lương Trọng Đ về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025.
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật HìnhXử phạt bị cáo Lương Trọng Đại T3 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo Đ thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Bắc Ninh trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Tuy nhiên họ đã có lời khai trong quá trình điều tra, sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về tội danh và hình phạt: tại phiên toà, bị cáo có mặt đã hoàn toàn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như quyết định truy tố đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và diễn biến của quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 30/7/2025, Lương Trọng Đ là người có giấy phép lái xe ô tô theo quy định điều khiển xe ô tô biển kiểm soát biển kiểm soát 98C - 371.04 tham gia giao thông theo hướng thôn C, xã N đi Tỉnh lộ 295. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn C, xã N, tỉnh Bắc Ninh, do Đ ngủ gật thiếu quan sát, không làm chủ tay lái nên xe ô tô đã đi ra lề đường đất bên phải theo chiều đi của Đ. Lúc này, Đ phát hiện bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1947, trú tại thôn C, xã N, tỉnh Bắc Ninh đang đứng ở lề đường đất bên phải theo chiều di chuyển của xe ô tô và cách đầu xe ô tô của Đ khoảng 4m đến 5m, Đ điều khiển xe ô tô đánh lái sang bên trái để tránh bà T1 nhưng không kịp nên phần nhựa ốp đèn chiếu sáng bên phải, cạnh trước bên phải nắp capo trước xe ô tô đã đâm vào người bà T1 đang đứng ở lề đường bên phải. Hậu quả bà T1 bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B, sau đó tử vong cùng ngày.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý. Hành vi nêu trên của Lương Trọng Đ đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2015. Do đó, bản cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: bị cáo Đ là người có nhân thân tốt.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi gây tai nạn bị cáo Đ đã bồi thường gia đình bị hại số tiền 150.000.000 đồng. Gia đình của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo có thời gian tham nghĩa vụ quân sự được Bộ T4 tặng danh hiệu Chiến sĩ tiên tiến. Bị cáo tích cực tham gia ủng hộ quỹ vì người nghèo cho phường Đ, tỉnh Bắc Ninh với số tiền 2.000.000đồng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2025, cần xem xét để giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Từ những phân tích, đánh giá về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy bị cáo Đ có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, cụ thể và rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo đã chấp hành tốt pháp luật cũng như quy định của địa phương nơi cư trú. Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho gia đình bị hại. Bị cáo Đ có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử thấy, không cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành công dân chấp hành tốt pháp luật, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
[5] Về vật chứng vụ án: 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu MAZDA, số loại CX5, màu sơn Trắng, biển kiểm soát 98C-371.04 (bị hư hỏng); 01 (một) Giấy đăng ký xe ô tô số 9800000307; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số 1188559; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm số DK24/0331289; 01 (một) Giấy phép lái xe hạng B2, số B, mang tên Lương Trọng Đ. Kết quả tra cứu xe ô tô biển kiểm soát 98C-371.04, số máy PE50439258, số khung RN2KD2W7AMS161766 không có trong cơ sở dữ liệu ô tô vật chứng. Ngày 14/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Quyết định xử lý vật chứng số 14021 bằng hình thức: Trả lại 01 xe ô tô biển kiểm soát 98C-371.04, 01 Giấy chứng nhận kiểm định số 1188559, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm số DK24/0331289 cho Lương Trọng Đ.
Đối với 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số [...] mang tên Lương Trọng Đ do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 28/12/2022, tại phiên toà bị cáo đề nghị được xin lại nên cần trả lại cho bị cáo Đ.
[6] Về trách nhiệm dân sự: bị cáo Lương Trọng Đ và chị Hà Thị T đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng), gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, không ai yêu cầu bồi thường gì thêm. Chị Hà Thị T không yêu cầu bị cáo Đ phải trả lại số tiền chị và bị cáo Đ đã bồi thường cho gia đình bị hại nên Hội đồng không xem xét, giải quyết.
Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98C-371.04 bị hư hỏng, bị cáo Đ không yêu cầu ai phải bồi thường gì nên Hội đồng không xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí: bị cáo Lương Trọng Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thườngvụ Quốc hội.
[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo, đại diện của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là có căn cứ cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hìnhsự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2025.
- Xử phạt: Bị cáo Lương Trọng Đ 01 (một) năm 3 (ba) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lương Trọng Đ cho Ủy ban nhân dân phường Đ, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tốhình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Trả lại cho bị cáo Lương Trọng Đ 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số [...] mang tên Lương Trọng Đ do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 28/12/2022.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/12/2025)
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lương Trọng Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Oanh |
Bản án số 46/2025/HS- ST ngày 15/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - BẮC NINH về hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Số bản án: 46/2025/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Trọng Đ phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
