|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
|
Bản án số: 46/2025/HS-ST Ngày 09-12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thúy.
2. Bà Nguyễn Thị Bắc.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Phượng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Hoàng Quang Anh, ông Hoàng Minh Đ - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại hội trường xét xử trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh, Toà án nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Văn H, sinh năm 1996; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
Nơi sinh và cư trú: thôn T, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh.
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 06/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không;
Họ và tên cha: Ngô Văn Đ1, sinh năm 1968; Họ và tên mẹ: Hoàng Thị L, sinh năm 1967; Vợ, con: Chưa có; Bị cáo có 04 anh em ruột, bản thân là thứ ba trong gia đình.
Tiền án: Tại bản án số 11/2023/HS-ST ngày 20/03/2023 của TAND huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và được miễn án phí. Ngày 10/02/2024, H chấp hành xong hình phạt tù.
Tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/9/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tam giam số 2 Công an tỉnh B cơ sở L1 (được trích xuất đến phiên tòa, có mặt).
- Bị hại: Bà Lê Thị M, sinh năm 1963 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Đ, xã S, tỉnh Bắc Ninh.
- Người làm chứng:
- Anh Ngô Văn C, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn Đ, xã S, tỉnh Bắc Ninh. - Anh Lý Thanh T, sinh năm 2006 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn L, xã S, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Buổi tối ngày 06/9/2025, Ngô Văn H, sinh năm 1996, trú tại thôn T, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh ngủ ở nghĩa trang N thôn N, xã Y, tỉnh Bắc Ninh đến khoảng 01 giờ ngày 07/9/2025, H một mình đi bộ từ khu vực nghĩa trang N thôn N, xã Y theo đường T rồi đi theo đường liên thôn đến thôn Đ, xã S, tỉnh Bắc Ninh đến nhà anh Đỗ Thế Q, sinh năm 1977 ở thôn Đ, xã S (là người quen của H) chơi. Khoảng 6 giờ 20 phút cùng ngày, H đi đến cổng nhà anh Ngô Văn C, sinh năm 1988, trú tại thôn Đ, xã S, tỉnh Bắc Ninh rồi H đi vào sân nhà anh C để hỏi đường đi đến nhà anh Q. Khi H đi vào sân nhà anh C thì lúc này có anh C và anh Lý Thanh T, sinh năm 2006, trú tại thôn L, xã S đang rủ nhau đi câu cá, H hỏi anh C đường đi đến nhà anh Q thì được anh C chỉ đường đi đến nhà anh Quy cách nhà anh C khảng 60-70m. Sau khi hỏi đường xong H nói khát nước và xin anh C nước uốc thì được anh C cho 02 cốc nước, uống nước xong H đi bộ đến hướng nhà anh Đỗ Thế Q. Khi đi đến trước cổng nhà bà Lê Thị M, sinh năm 1963, trú tại thôn Đ, xã S (là mẹ đẻ của anh Ngô Văn C) H nhìn thấy ở trong sân nhà bà M khu vực đường đi giữa nhà bếp và nhà chính có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, VISION, màu trắng nâu đen, biển kiểm soát 98L1-131.77 của bà M dựng ở đấy. Thấy trong nhà bà M không có ai ở nhà, cửa nhà và cửa cổng đều đóng nhưng không khóa, H nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Thực hiện ý định trộm cắp, H mở cổng rồi đi vào chỗ chiếc xe mô tô thì thấy chìa khoá điện vẫn cắm ở ổ khoá, H dong chiếc xe mô tô ra đường rồi mở khoá điện đề nổ rồi ngồi lên xe điều khiển chiếc xe đi theo đường bê tông liên thôn về hướng thôn N, xã T, tỉnh Bắc Ninh.
Đối với anh Ngô Văn C, sau khi H xin nước uống xong đi về hướng nhà bà M, do nghi ngờ H đi trộm cắp tài sản nên anh C điều khiển xe mô tô của mình chở anh T phía sau đi ra đường để theo dõi H. Khi H điều khiển chiếc xe mô tô trộm cắp của bà M đi qua chỗ anh C và anh T đứng thì anh C phát hiện H đang điều khiển xe mô tô của mẹ mình nên anh C đã điều khiển xe mô tô chở anh T đuổi theo. Đuổi theo được một đoạn thì anh C dừng xe lại bảo anh T xuống xe để gọi điện thoại cho tổ an ninh trật tự cơ sở thôn và một số người dân đuổi bắt, còn anh C tiếp tục điều khiển xe mô tô đuổi theo H. Anh C đuổi theo H được khoảng 02 km thì H điều khiển xe mô tô trộm cắp được đi vào đoạn đường đất đi lên rừng, lúc này anh C gần đuổi kịp H và hô “trộm, trộm”, do sơ bị bắt nên H đã dừng xe lại bỏ ở đường rồi chạy bộ lên rừng, anh C cũng dừng xe chạy bộ đuổi theo H nhưng không đuổi được, một lúc sau có một số người dân và tổ an ninh trật tự cơ sở thôn Đ, xã S cũng đuổi đến rồi cùng nhau đi lên rừng để tìm H nhưng không tìm được, sau đó mọi người đi xuống chỗ chiếc xe mô tô của bà M mà H bỏ lại ở đường rồi điều khiển xe mô tô mang về trả lại cho bà M.
Đối với H sau khi bỏ chạy lên rừng, H đi bộ về nghĩa trang N thôn N, xã Y lẩn trốn đến ngày 10/9/2025, H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.
Ngày 10/9/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành xét nghiệm chất ma tuý đối với Ngô Văn H. Kết quả H dương tính với chất ma tuý Heroin.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra Yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô của bà Lê Thị M bị H trộm cắp. Tại kết luận định giá tài sản số 194/KL-ĐGTS ngày 15/9/2025, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân tỉnh B, kết luận:
Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn trắng nâu đen, biển kiểm soát 98L1 - 131.77 của bà Lê Thị M bị trộm cắp tính thời điểm định giá (ngày 07/9/2025) có giá trị là 17.166.667 đồng.
Quá trình điều tra, Ngô Văn H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKSKV5 ngày 11 tháng 11 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Ngô Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Ngô Văn H thừa nhận hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, cáo trạng truy tố bị cáo là đúng và không oan, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa gồm lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Ngô Văn H không có ý kiến về lời khai Hội đồng xét xử đã công bố.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh giữ quyền công tố nhà nước tại phiên toà đã luận tội bị cáo, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Văn H từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 10/9/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo H.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 3 Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Ngô Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Ngoài ra đại diện viện kiểm sát còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Bị cáo H không có ý kiến tranh luận.
Nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo Ngô Văn H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về những chứng cứ xác định bị cáo có tội và áp dụng pháp luật hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Ngô Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp lời khai của bị hại và người làm chứng, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 6 giờ 20 phút ngày 07/9/2025, trên đường đi qua cổng nhà bà Lê Thị M, sinh năm 1963, trú tại thôn Đ, xã S, Ngô Văn H nhìn thấy trong sân nhà bà M dựng 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, VISION, màu trắng nâu đen, biển kiểm soát 98L1-131.77 (là xe của bà M) không có người trông coi, H đã trộm cắp chiếc xe mô tô trên rồi điều khiển đi về hướng thôn N, xã T, tỉnh Bắc Ninh thì bị anh Ngô Văn C, sinh năm 1988, trú tại thôn Đ, xã S là con trai bà M đuổi bắt, H đã bỏ lại xe ở đường rồi bỏ trốn lên rừng, đến ngày 10/9/2025, H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đầu thú. Trị giá chiếc xe mô tô Hưng trộm cắp của bà Lê Thị M là 17.166.667 đồng.
Hành vi của bị cáo Ngô Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Bắc Ninh đã truy tố và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.
[3] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cho thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án số 11/2023/HS-ST ngày 20/03/2023 của TAND huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và được miễn án phí. Ngày 10/02/2024, H chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 07/9/2025, bị cáo chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm”, quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, theo hướng dẫn tại nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và 52 của Bộ luật hình sự (nghị quyết có hiệu lực kể từ ngày 15/11/2025), bị cáo còn được hưởng tỉnh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần xử lý nghiêm, áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, có căn cứ cần được chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bà Lê Thị M đã nhận lại chiếc xe mô tô của mình do H trộm cắp nên không yêu cầu H phải bồi thường gì. Tòa án không xem xét giải quyết là có căn cứ.
[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, VISION, màu trắng nâu đen, biển kiểm soát 98L1-131.77 của bà Lê Thị M. Sau khi H bỏ lại ở đường để chạy lên rừng đã được tổ an ninh trật tự cở sở và một số người dân điều khiển về trả lại bà M nên không đặt ra xem xét là có căn cứ.
[7]. Về tình tiết khác: Đối với kết quả xét nghiệm ma túy qua nước tiểu, kết quả xác định Ngô Văn H dương tính với chất ma túy Heroin. Quá trình điều tra, H khai ngày 08/9/2025, khi đang lẩn trốn tại nghĩa trang N thôn N, xã Y, H gặp một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ đi đến nghĩa trang S, H có xin người này một ít ma túy H1 và sử dụng bằng hình thức hít nên ngày 10/9/2025, khi xét nghiệm chất ma tuý, H có kết quả dương tính với chất ma túy Heroin. Quá trình điều tra xác định H không thuộc đối tượng được quy định từ điểm a đến điểm d khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự nên không có căn cứ để xử lý về tội “sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự. Do hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của H xảy ra tại xã Y, tỉnh Bắc Ninh, ngày 27/10/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B có công văn đề nghị Công an xã Y ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Ngô Văn H. Ngày 28/10/2025, Công an xã Y đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý đối với H bằng hình thức cảnh cáo là có cơ sở pháp lý.
[8] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 3 Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Ngô Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Văn H 01 (Một) năm 04 (B) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 10/9/2025.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 3 Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Ngô Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự Quyết định tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Án xử công khai sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quốc Tuân |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
|
Nguyễn Thị Thúy |
Nguyễn Thị Bắc |
Nguyễn Quốc Tuân |
Bản án số 46/2025/HS-ST ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - BẮC NINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 46/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Văn Hưng 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 10/9/2025.
