Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỆ THỦY

TỈNH QUẢNG BÌNH

 

Bản án số: 46/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05/12/2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp

về nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Học và ông Phan Văn Việt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Tuyết Mai, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Hôm nay, ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 90/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 18/11/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hương T, sinh năm 1995; địa chỉ: Đ, thôn M, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Anh Bùi Văn T1, sinh năm 1991, địa chỉ: Đ, thôn M, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 12/8/2024, bản tự khai ngày 30/8/2024 nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hương T đều trình bày: Chị và anh Bùi Văn T1 tìm hiểu và kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 24/11/2017.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau tại thôn M, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình được khoảng 6 năm thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không phù hợp về tư tưởng và cách sống, thường xuyên bất đồng quan điểm. Hiện tại, Chị T xét thấy tình cảm giữa chị và anh T1 đã hết, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn được nữa nên chị yêu cầu được ly hôn anh T1.

Về con chung: Chị T trình bày chị và anh T1 có 01 con chung là Bùi Anh T2, sinh ngày 08/10/2019. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con, yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Không có, nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 02/12/2024 chị Nguyễn Thị Hương T có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt, trong đơn Chị T trình bày: Về tình cảm chị xin được ly hôn anh T1; về con chung: Chị và anh T1 có 01 con chung là Bùi Anh T2, sinh ngày 08/10/2019. Sau khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con, yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi; về tài sản chung: Không có, nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Bùi Văn T1 theo bản tự khai ngày 07/10/2024 và biên bản hòa giải ngày 07/10/2024 trình bày: Về quan hệ tình cảm: Quá trình yêu nhau và đăng ký kết hôn như chị T trình bày. Tuy nhiên theo anh cuộc sống hôn nhân còn cứu vãn được nên anh T1 có nguyện vọng được đoàn tụ với chị T; về con chung: Anh chị có 01 con chung là Bùi Anh T2, sinh ngày 08/10/2019, nếu trường hợp phải ly hôn, anh T1 có nguyện vọng giao con cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, mỗi tháng anh T1 cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Anh T1 có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 27/11/2024 giữ nguyên ý kiến trình bày như trong bản tự khai ngày 07/10/2024 và biên bản hòa giải ngày 07/10/2024

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hương T và bị đơn anh Bùi Văn T1 vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn theo điểm a khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hương T và anh Bùi Văn T1 tìm hiểu và kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 24/11/2017.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau tại thôn M, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình được khoảng 6 năm thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không phù hợp về tư tưởng và cách sống, thường xuyên bất đồng quan điểm. Theo trình bày của anh T1, thực tế mâu thuẫn như chị T trình bày, tuy nhiên theo anh mâu thuẫn của vợ chồng chưa đến mức trầm trọng, anh vẫn còn tình cảm và yêu thương vợ, nhận thấy cuộc sống hôn nhân vẫn còn cứu vãn được nên anh T1 không mong muốn ly hôn với chị T. Hội đồng xét xử xét thấy, theo thừa nhận của các bên thì mẫu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T1 là đúng thực tế, đã xảy ra trong thời gian dài và không thể hàn gắn được, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung và ngày càng trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, các bên đều có lỗi. Nay chị T thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa, anh T1 cũng thừa nhận cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, có nhiều mâu thuẫn. Xét tình cảm vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, Việc chị T đề nghị được ly hôn với anh T1 là có căn cứ, cần được chấp nhận.

[2.2]. Về con chung: Xét Chị T, anh T1 01 con chung là Bùi Anh T2, sinh ngày 08/10/2019. Sau khi ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con, yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Theo anh T1, trường hợp phải ly hôn anh T1 có nguyện vọng giao con cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, mỗi tháng anh T1 cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Hội đồng xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của hai bên, giao con Bùi Anh T2 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dương, anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi.

[2.3] Về tài sản chung: Không có, Chị T và anh T1 đều xác nhận cả hai không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

[2.5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, 82, Điều 83, Điều 117, Điều 110, Điều 116 và Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Hương T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H Trà ly hôn anh Bùi Văn T1.
  2. Về con chung: Giao con Bùi Anh T2, sinh ngày 08/10/2019 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng kể từ tháng 12/2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật Thi hành án dân sự.

  1. Về án phí:

Chị Nguyễn Thị Hương T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, anh T1 phải chịu 300.000 đồng án phí cấm dưỡng nuôi con. Tiền án phí Chị T phải chịu được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án huyện Lệ Thủy theo biên lai số 0004441 ngày 12/8/2024, anh T1 phải nộp 300.000 đồng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Lệ Thủy;
  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - Chi cục THA huyện Lệ Thủy;
  • - UBND xã Mỹ Thủy (để ghi vào sổ
  • Hộ tịch, ĐKKH ngày 24/11/2017);
  • - Lưu HS; Lưu VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Thanh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2024/HNGĐ-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 46/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger