Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HSPT

Ngày: 10/4/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung

Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Quân

Bà Trương Thị Anh

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh hoá tham gia phiên toà:

Ông Trần Huy Dũng - Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2025/HSPT ngày 22/01/2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn M và bị cáo Nguyễn Bá N, do có kháng cáo của các bị cáo và bị đơn dân sự đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 169/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

* Bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Văn M, sinh năm 1975; Giới tính: Nam; CCCD số [...]; Nơi sinh: Phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Tổ Dân phố T, phường B, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hóa: Lớp 3/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Dương Thị C, sinh năm 1930; có vợ: Hoàng Thị Thùy D, sinh năm 1992; có 05 con: Con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không;
  2. Nhân thân: Ngày 06/11/2015, bị Công an huyện T (nay là Công an thị xã N) xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản bằng hình thức phạt tiền (Theo Quyết định số 07/QĐ-XPHC). Đã thi hành xong quyết định ngày 09/11/2015.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/9/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Nguyễn Bá N (tên gọi khác không), sinh năm 1976; Giới tính: Nam; CCCD số [...]; Nơi sinh: xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Bá T1 (đã chết) và bà Mai Thị T2, sinh năm 1954; Có vợ: Nguyễn Thị

T3, sinh năm 1982; có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án; tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/9/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  • * Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn M: Bà Nguyễn Hằng N1 và bà Nguyễn Thị Phương L - Là Luật sư thuộc Văn phòng L2, Đoàn luật sư Thành phố H - Địa chỉ: Số D K, phường N, quận B, thành phố Hà Nội (Đều có mặt)
  • * Bị hại:
    1. Ông Cao Văn B, sinh năm 1963; Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (có mặt)
    2. Anh Lê Văn B1, sinh năm 1983;

    Người đại diện theo ủy quyền: Chị Hoàng Thị H (vợ anh B1)

    Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)

  • * Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Cao Văn B:

    Bà Ngô Kim L1 - Luật sư thuộc Văn phòng L3, Đoàn luật sư Thành phố H - Địa chỉ: Số E, ngõ B, đường T, phường T, quận C, Thành phố Hà Nội (có mặt)

  • * Bị đơn dân sự: Hợp tác xã M1 - Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường B, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa

    Người đại diện theo pháp luật: Bà Hoàng Thị Thùy D - Giám đốc (có mặt)

  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tổng Công ty B3;

    Địa chỉ: Số G, L, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Xuân V - Tổng giám đốc

    Người đại diện theo ủy quyền:

    • Bà Đỗ Phương A, sinh năm 1973 - Chức danh: Phó giám đốc ban K1 (có mặt)
    • Ông Trần Mạnh H1, sinh năm 1990 - Chức vụ: Chuyên viên ban giám định bồi thường hàng hoá (có mặt)
    • Bà Đỗ Minh A1 – Chức vụ: Chuyên viên ban kiểm soát tuân thủ pháp luật (vắng mặt)
    • Ông Đỗ Công T4 - Chức vụ: Trưởng phòng bảo hiểm số 7, Công ty B3 (vắng mặt)
  • * Người làm chứng:
    1. Anh Hoàng Bá T5, sinh năm 1978; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường B, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (có mặt)
    2. Chị Lê Thị H2, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (có mặt)
    3. 4. Bà Lê Thị H3, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Thôn V, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (có mặt)
    4. 5. Ông Nguyễn Đức T6, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường

T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn M là Giám đốc Hợp tác xã M1, có địa chỉ tại thôn T, xã B, huyện T (nay là tổ dân phố T, phường B, thị xã N) theo Giấy chứng nhận đăng ký Hợp tác xã số 2801973861, đăng ký lần đầu ngày 16/8/2014, đăng ký thay đổi lần thứ 3, ngày 07/9/2020. Vào thời điểm năm 2019, Hợp tác xã M1 có lực lượng Phòng cháy chữa cháy cơ sở, gồm có Nguyễn Văn M là Đội trưởng và vợ của M là chị Hoàng Thị Thùy D là thành viên.

Tháng 3/2019, Hợp tác xã M1 có hợp đồng thời vụ với Nguyễn Bá N, thời hạn từ ngày 01/3/2019 đến ngày 31/3/2019, công việc chính là kéo tàu và làm những công việc mà Nguyễn Văn M giao.

Khoảng giữa tháng 3/2019, tàu thu mua thủy sản số hiệu TH-91166-TS của ông Cao Văn B, trú tại thôn L, xã H, huyện T (nay là tổ dân phố L, phường H, thị xã N), tỉnh Thanh Hóa và tàu thu mua thủy sản số hiệu TH-90135-TS của anh Lê Văn B1, trú tại thôn L, xã H, huyện T (nay là tổ dân phố L, phường H, thị xã N), tỉnh Thanh Hóa được kéo lên xưởng của Hợp tác xã M1 để sửa chữa, 02 tàu nằm song song với nhau, có điểm gần nhất cách nhau khoảng 0,4m.

Ngày 27/3/2019, ông Cao Văn B thuê Nguyễn Văn M hàn các miếng kim loại vào góc phía sau bên trái mạn đuôi tàu TH-91166-TS của ông B. M giao việc này cho Nguyễn Bá N thực hiện. Mặc dù chưa được cấp chứng chỉ về hàn cắt kim loại nhưng Như vẫn thực hiện công việc do M giao. Đến chiều cùng ngày, N sử dụng máy cắt kim loại cắt 02 miếng kim loại phù hợp với lỗ do anh Lê Văn S, trú tại thôn N, xã H, huyện T (nay là tổ dân phố N, phường H, thị xã N) đã khoan trên thân vỏ gỗ tàu của ông B trước đó, còn Như tự khoan lỗ trên miếng kim loại, rồi vặn ốc cố định 02 miếng kim loại này vào vỏ tàu. Tiếp đó, Như đóng điện máy hàn của Hợp tác xã M1, kéo dây nối đến vị trí hàn, rồi đứng trên giàn giáo, dùng kìm hàn kẹp que hàn rồi chấm hàn vào khoảng giữa 02 miếng kim loại để hàn đính lại với nhau. Quá trình Như thực hiện công việc hàn, thì M không có phương án phòng, chống cháy đối với khu vực hàn điện, không áp dụng bất kỳ biện pháp nào để phòng chống cháy đối với khu vực và vị trí hàn điện. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Như hàn xong và đi làm công việc kéo tàu.

Đến khoảng 23 giờ 30 phút ngày 27/3/2019, thì xảy ra cháy trên tàu TH-91166-TS của ông Cao Văn B, sau đó cháy lan sang tàu TH-90135-TS của anh Lê Văn B1.

Sau khi tiếp nhận tin báo, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T (nay là cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N) đã phối hợp với lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thuộc Đội chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ Khu vực 2 của Phòng PC07 Công an tỉnh T tiến hành chữa cháy trên 02 chiếc tàu trên, đến sáng ngày 28/3/2019 thì đám cháy được dập tắt. Hậu quả, tàu TH-91166-TS, tàu TH-90135-TS và các tài sản trên hai tàu bị hư hỏng.

Tại Bản Kết luận giám định số 1707/C09-P2 ngày 26/4/2019, V1 Bộ C1 kết luận:

“- Điểm xuất phát cháy nằm ở khu vực mạn bên trái đuôi tàu mang số hiệu TH–91166– TS đang neo đậu tại xưởng sửa chữa tàu của hợp tác xã M1 thuộc thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. - Nguyên nhân cháy: Do sơ xuất bất cẩn của con người trong quá trình hàn cắt kim loại bằng hồ quang điện, làm cháy lớp vỏ gỗ bên ngoài, sau đó cháy lan ra xung quanh, gây ra vụ cháy nói trên”.

Quá trình điều tra, trong các ngày 21/12/2020, 30/7/2021 Cơ quan CSĐT Công an thị xã N có công văn gửi V1 Bộ C1 đề nghị giải thích kết luận giám định số 1707/C09-P2 ngày 26/4/2019.

Tại các Công văn số 04/C09-P2 ngày 05/01/2021 và Công văn số 2480/C09-P2 ngày 1: V1 Bộ C1 trả lời: “Thời điểm trước khi phát hiện vụ cháy tại khu vực hiện trường có xảy ra mưa và với khoảng thời gian kết thúc việc hàn tại tàu TH-91166-TS đến thời điểm phát hiện ra vụ cháy là từ khoảng 17h30' đến 23h30' ngày 27/3/2019 thì vẫn xảy ra vụ cháy nêu trên do hàn cắt kim loại bằng hồ quang điện”, “Quá trình giám định các mẫu vật thu giữ tại khu vực điểm xuất phát cháy của quá trình khám nghiệm hiện trường đã xác định được: Các hạt kim loại hình cầu màu xám là sản phẩm do quá trình hàn cắt kim loại bằng hồ quang điện tạo ra. Trong các mẫu sản phẩm cháy đều không tìm thấy dấu vết của nhiên liệu cũng như các dung môi dễ cháy. Do vậy nếu như mang nguồn gây cháy từ bên ngoài vào khu vực mạn bên trái đuôi tàu mang số hiệu TH-91166-TS thì có thể xảy ra vụ cháy nhưng không tạo ra được các sản phẩm đặc trưng của quá trình hàn cắt kim loại bằng hồ quang điện tạo ra”.

Ngày 14/5/2019, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T (nay là cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N) có văn bản Yêu cầu định giá tài sản số 101/YC-CSĐT và 102/YC-CSĐT yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện T xác định giá trị thiệt hại của tàu TH-90135-TS, tàu TH-91166-TS và các tài sản trên hai tàu này trong vụ cháy nêu trên. Ngày 08/8/2019, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND huyện T có công văn số 07/HĐĐGTS từ chối việc định giá những tài sản nêu trên do việc định giá tài sản là tàu thu mua vượt quá phạm vi hiểu biết chuyên môn của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND huyện T

Ngày 11/12/2019, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã có văn bản Yêu cầu định giá tài sản số 07/YC-CSĐT và số 08/YC-CSĐT yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND tỉnh T xác định giá trị thiệt hại của tàu TH-91166-TS, tàu TH-90135-TS và các tài sản trên hai tàu này trong vụ cháy nêu trên.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 39/KL-HĐĐG ngày 15/7/2020, Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự UBND tỉnh T kết luận:

“Giá trị thiệt hại của tàu TH-90135-TS và những tài sản trên tàu TH-90135-TS bị cháy vào ngày 27 và ngày 28/3/2019 theo đề nghị tại Công văn yêu cầu định giá tài sản số 08/YC-CSĐT ngày 11/12/2019 của Cơ quan CSĐT Công

an huyện T là 1.500.500.000 đồng. ” Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐG ngày 15/7/2020, Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự UBND tỉnh T kết luận:

“Giá trị thiệt hại của tàu TH-91166-TS và những tài sản trên tàu TH-91166-TS bị cháy vào ngày 27 và ngày 28/3/2019 theo đề nghị tại Công văn yêu cầu định giá tài sản số 07/YC-CSĐT ngày 11/12/2019 của Cơ quan CSĐT Công an huyện T là 1.596.000.000 đồng”.

Tổng giá trị thiệt hại tài sản trong vụ cháy được xác định là 3.096.500.000đ.

Quá trình điều tra, Nguyễn Bá N đã hoàn toàn thừa nhận bản thân chưa có chứng chỉ về hàn cắt kim loại, chưa được huấn luyện cấp chứng chỉ về an toàn cháy, nổ nhưng N vẫn thực hiện công việc hàn các mảnh kim loại trên bề mặt vỏ gỗ bên trái mạn đuôi tàu TH-91166-TS trong khi không có phương án phòng, chống cháy đối với khu vực hàn điện, không áp dụng các biện pháp phòng chống cháy đối với khu vực và vị trí hàn điện có chất dễ cháy (vỏ tàu bằng gỗ) dẫn đến làm cháy lớp vỏ gỗ mạn bên trái đuôi tàu TH-91166-TS, rồi cháy lan sang tàu TH-90135-TS gây thiệt hại về tài sản là 3.096.500.000 đồng.

Đối với Nguyễn Văn M với tư cách là Giám đốc, là người sử dụng lao động, kiêm Đội trưởng Đội phòng cháy, chữa cháy cơ sở của Hợp tác xã M1 mặc dù không thừa nhận bản thân đã giao cho Nguyễn Bá N hàn hồ quang điện tại khu vực mạn bên trái đuôi tàu TH-91166-TS của ông Cao Văn B, mà khai nại rằng Như đã tự ý hàn nhằm chối bỏ trách nhiệm về vụ cháy tàu. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai trình bày của ông Cao Văn B về diễn biến sự việc phù hợp với lời khai nhận của Nguyễn Bá N, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án, đủ cơ sở xác định Nguyễn Văn M mặc dù biết rõ Như không có chứng chỉ hàn cắt kim loại, chưa được huấn luyện cấp chứng chỉ về an toàn cháy, nổ, không đủ điều kiện thực hiện công việc hàn điện hồ quang nhưng vẫn giao cho Nguyễn Bá N hàn điện tại tàu TH-91166-TS của ông Cao Văn B. Đồng thời, M cũng không có phương án phòng, chống cháy đối với khu vực hàn điện, không áp dụng các biện pháp phòng, chống cháy đối với khu vực và vị trí hàn điện. Hành vi của Nguyễn Văn M đã vi phạm điểm 2.2.17. điểm 3.4.2.1 Quy chuẩn Việt Nam số 3:2011/BLĐTBXH ngày 29/7/2011 của Bộ L4 - Thương binh và Xã hội quy định về Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về an toàn lao động đối với máy hàn điện và công việc hàn điện dẫn đến xảy ra vụ cháy tàu, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của người khác.

* Về vật chứng của vụ án:

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành quy trữ và giao chiếc máy hàn mà Nguyễn Bá N sử dụng chiều ngày 27/3/2019 tại Hợp tác xã M1 gây ra vụ cháy tàu nêu trên cho Nguyễn Văn M, Giám đốc Hợp tác xã M1, bảo quản, không để hư hỏng mất mát và cam kết sẽ không bán, không chuyển nhượng máy hàn cho cá nhân, tổ chức nào khác theo biên bản làm việc ngày 24/5/2019.

* Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 17/4/2018, Công ty B3 thuộc Tổng Công ty B3 và chủ tàu TH-90135-TS là anh Lê Văn B1 có hợp đồng nguyên tắc bảo hiểm thân tàu cá số THO.KV3.TC.18. HD09, thời hạn từ 18/4/2018 đến ngày 17/4/2019. Sau khi vụ án xảy ra, giữa Tổng Công ty B3 và chủ tàu TH-90135-TS đã xảy ra tranh chấp hợp đồng bảo hiểm và đã được cơ quan Toà án giải quyết.

Ngày 20/10/2023, Tổng Công ty B3 đã thực hiện việc bồi thường đối với anh Lê Văn B1 số tiền 2.000.000.000 đồng theo Bản án số 427/2023/DS-PT ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.

Ngày 26/9/2024, Tổng Công ty B3 có văn bản số 5348/BHBV-KSTT-PC yêu cầu ông Nguyễn Văn M, Hợp tác xã M1 và những cá nhân, tổ chức khác (nếu có) bồi hoàn toàn bộ số tiền mà Bảo hiểm B3 đã chi trả, bồi thường cho anh Lê Văn B1 nêu trên.

Ông Cao Văn B có yêu cầu bồi thường về dân sự đối với với thiệt hại của tàu TH-91166-TS với số tiền 1.596.000.000 đồng. Quá trình điều tra, Nguyễn Văn M đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho ông Cao Văn B số tiền là 20.000.000 đồng; Nguyễn Bá N đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho ông Cao Văn B số tiền là 30.000.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 169/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá quyết định:

  1. Tuyên bố: Nguyễn Văn M và Nguyễn Bá N phạm tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy”.
  2. 2. - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 313, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Nguyễn Văn M 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/9/2024.

    - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 313, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt Nguyễn Bá N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/9/2024.

  3. 3. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 313 Bộ luật hình sự, phạt tiền đối với:
    • - Nguyễn Văn M 10.000.000đ (mười triệu đồng).
    • - Nguyễn Bá N 10.000.000đ (mười triệu đồng).
  4. 4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 589, 597 Bộ luật dân sự, Điều 54 Luật kinh doanh bảo hiểm.

    Buộc Hợp tác xã M1 phải có trách nhiệm bồi thường cho ông Cao Văn B số tiền thiệt hại 1.546.000.000đ (một tỷ năm trăm bốn mươi sáu triệu đồng), bồi thường cho Tổng Công ty B3 1.500.500.000₫ (một tỷ năm trăm triệu năm trăm nghìn đồng).

Án sơ thẩm còn quyết định về lãi suất chậm trả thi hành án trong thực hiện trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng trong vụ án, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Sau khi xét xử, bị cáo Nguyễn Văn M kháng cáo toàn bộ bản án, kêu oan với nội dung: Tòa sơ thẩm đã không chấp nhận đề nghị của bị cáo về việc dựng lại hiện trường và đưa người làm chứng là ông Dương Minh T7 là người trông coi con tàu của anh Lê Văn B1 vào tham gia tố tụng mà chỉ căn cứ vào lời khai của bị cáo Nguyễn Bá N để kết tội bị cáo. Đề nghị Tòa phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại, dựng lại hiện trường, giám định lại, định giá lại để minh oan cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Bá N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với nội dung: Mức án Tòa sơ thẩm đã tuyên là quá nặng do bản thân bị cáo chỉ là công nhân làm thuê cho Hợp tác xã M1. Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo luôn thành khẩn khai báo .

Bị đơn dân sự Hợp tác xã M1 kháng cáo toàn bộ phần trách nhiệm bồi thường dân sự trong Bản án hình sự sơ thẩm với lý do: Tòa án cấp sơ thẩm xác định tư cách tham gia tố tụng của Hợp tác xã M1 là bị đơn dân sự nhưng không triệu tập bà Hoàng Thị D là người đại diện theo pháp luật của Hợp tác xã tham gia phiên tòa. Hợp tác xã M1 không đồng ý bồi thường cho ông Cao Văn B số tiền 1.546.500.000 đồng và không đồng ý bồi hoàn cho Tổng công ty B3 số tiền 1.5000.500.000 đồng vì: Hợp đồng lao động giữa Hợp tác xã M1 và bị cáo Nguyễn Bá N không có công việc hàn điện. Chiều ngày 27/3/2019 ông Nguyễn Văn M - Giám đốc Hợp tác xã M1 không giao cho Nguyễn Bá N hàn điện trên tàu của ông Cao Văn B. Giá trị tài sản bị thiệt hại theo kết luận định giá là quá cao, không đúng với giá trị thực tế và quy định về tính khấu hao giá trị tài sản. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại do việc định giá tài sản bị thiệt hại không đúng quy định của pháp luật và Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của Hợp tác xã M1.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo, bị đơn dân sự giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn M có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn M vì các lý do: Nhận định của bản án sơ thẩm về việc bị cáo M phạm tội là không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 13 BLHS về nguyên tắc suy đoán vô tội đối với bị cáo M. Đề nghị hủy bản án sơ thẩm do có vi phạm nghiêm trọng trong hoạt động điều tra như cơ quan điều tra không thực nghiệm điều tra lại hiện trường vụ cháy, không chấp nhận đề nghị của luật sư, của bị cáo M về việc giám định lại, định giá lại tài sản, không có chứng thư thẩm định giá lưu trong hồ sơ vụ án.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá:

- Đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn M: Tại cấp phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Văn M không xuất trình thêm tình tiết mới. Tại phiên tòa bị cáo không thừa nhận đã giao cho Nguyễn Bá N hàn hồ quang điện tại khu vực mạn bên trái đuôi tàu TH-91166-TS của ông Cao Văn B. Tuy nhiên trên cơ sở điều tra thẩm vấn tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định tội danh như nhận định và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm. Vì vậy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn M, không có cơ sở chấp nhận việc đề nghị dựng lại hiện trường vụ cháy, định giá lại tài sản của bị cáo và luật sư bào chữa cho bị cáo.

- Đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Bá N: Bị cáo Như xuất trình thêm tình tiết mới: có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương); tham gia ủng hộ quỹ vì người nghèo, quỹ phòng chống thiên tai, quỹ hỗ trợ nhà ở cho người nghèo (có thư cảm ơn của UBMTTQ); bị cáo có bố đẻ được tặng Huân chương Kháng chiến Hạng Nhì. Tuy nhiên, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, tính chất hành vi phạm của bị cáo, cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo 07 năm 06 tháng tù là phù hợp. Do đó, kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo N là không có cơ sở chấp nhận.

- Đối với kháng cáo của bị đơn dân sự: Việc thay đổi người đại diện theo pháp luật của Bị đơn dân sự không làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của bị đơn dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 BLTTHS, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, đại diện theo pháp luật của Hợp tác xã M1; giữ nguyên bản án sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo Nguyễn Văn M và Nguyễn Bá N về tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 313 BLHS; buộc Hợp tác xã M1 bồi thường lại cho Tổng Công ty B3 1.500.500.000 đồng, bồi thường cho ông Cao Văn B số tiền còn lại 1.546.000.000 đồng./.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo, bị đơn dân sự nộp trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm vắng mặt người bị hại anh Lê Văn B1, người được ủy quyền của anh B1 là bà Hoàng Thị H (đã được triệu tập hợp lệ), người làm chứng (ông Nguyễn Đức T6). Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người bị hại, người làm chứng theo qui định tại điểm b, c khoản 1 Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Xét nội dung kháng cáo:

[2.1] Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Bá N:

Chiều ngày 27/3/2019, tại Hợp tác xã M1, có địa chỉ ở thôn T, xã B, huyện T (nay là tổ dân phố T, phường B, thị xã N), tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Bá N là lao động hợp đồng của Hợp tác xã M1, chưa có chứng chỉ về hàn cắt kim loại, chưa được huấn luyện cấp chứng chỉ về an toàn cháy, nổ nhưng khi được M giao công việc hàn tàu vẫn thực hiện công việc hàn các mảnh kim loại trên bề mặt vỏ gỗ bên trái mạn đuôi tàu TH-91166-TS trong khi không có phương án phòng, chống cháy đối với khu vực hàn điện, không áp dụng các biện pháp phòng chống cháy đối với khu vực và vị trí hàn điện có chất dễ cháy (vỏ tàu bằng gỗ) dẫn đến làm cháy lớp vỏ gỗ mạn bên trái đuôi tàu TH-91166-TS, rồi cháy lan sang tàu TH-90135-TS gây thiệt hại về tài sản là 3.096.500.000 đồng. Hành vi của Nguyễn Bá N đã vi phạm quy định tại các điểm 2.1.4, điểm 2.2.17. điểm 3.4.2.1 Quy chuẩn Việt Nam số 3:2011/BLĐTBXH ngày 29/7/2011 của Bộ L4 - Thương binh và Xã hội quy định về Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về an toàn lao động đối với máy hàn điện và công việc hàn điện là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vụ cháy tàu nêu trên, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của người khác.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm Nguyễn Bá N đã hoàn toàn thừa nhận bản thân chưa có chứng chỉ về hàn cắt kim loại, chưa được huấn luyện cấp chứng chỉ về an toàn cháy, nổ nhưng khi M giao công việc Như vẫn thực hiện hàn các mảnh kim loại trên bề mặt vỏ gỗ bên trái mạn đuôi tàu TH-91166-TS trong khi không có phương án phòng, chống cháy đối với khu vực hàn điện, không áp dụng các biện pháp phòng chống cháy đối với khu vực và vị trí hàn điện có chất dễ cháy (vỏ tàu bằng gỗ) dẫn đến làm cháy lớp vỏ gỗ mạn bên trái đuôi tàu TH-91166-TS, rồi cháy lan sang tàu TH-90135-TS gây thiệt hại về tài sản là 3.096.500.000 đồng.

Nguyễn Văn M với tư cách là Giám đốc, là người sử dụng lao động, kiêm Đội trưởng Đội phòng cháy, chữa cháy cơ sở của Hợp tác xã M1 không thừa nhận bản thân đã giao cho Nguyễn Bá N hàn hồ quang điện tại khu vực mạn bên trái đuôi tàu TH-91166-TS của ông Cao Văn B, mà khai nại do Như đã tự ý hàn.

[2.2] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn M:

* Đối với nội dung bị cáo kháng cáo kêu oan, cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của bị cáo Nguyễn Bá N để kết tội bị cáo.

Trên cơ sở kết quả điều tra và kết quả thẩm vấn tại phiên tòa xác định: Bản thân ông Cao Văn B trực tiếp thuê Nguyễn Văn M hàn các miếng kim loại vào góc phía sau bên trái mạn đuôi tàu TH-91166-TS của ông B, (ông Ba K quen biết, không trực tiếp thuê Nguyễn Bá N), sau đó M giao việc này cho Nguyễn Bá N thực hiện. Khi giao cho N hàn cắt kim loại, M biết rõ Như không có chứng chỉ hàn cắt kim loại, chưa được huấn luyện cấp chứng chỉ về an toàn cháy, nổ, không đủ điều kiện để thực hiện công việc hàn hồ quang điện nhưng M vẫn giao cho N hàn điện tại tàu TH-91166-TS của ông Cao Văn B. Đồng thời, M cũng không có phương án phòng, chống cháy đối với khu vực hàn điện, không áp dụng các biện pháp phòng, chống cháy đối với khu vực và vị trí hàn điện, dẫn đến hậu quả làm cháy hai tàu TH- 91166-TS và TH-90135-TS, gây thiệt hại về tài sản là 3.096.500.000 đồng.

Trong quá trình xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá toàn bộ các tài liệu chứng cứ của vụ án, lời khai của các bị cáo, lời khai người làm chứng, lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác trước khi kết tội đối với bị cáo là đảm bảo tính khách quan và tính có căn cứ của pháp luật.

* Đối với yêu cầu của bị cáo về việc thực nghiệm điều tra lại hiện trường vụ cháy, giám định lại nguyên nhân cháy, định giá lại tài sản thiệt hại.

Quá trình điều tra, bị cáo đã có yêu cầu đề nghị Cơ quan điều tra thực nghiệm điều tra lại hiện trường vụ cháy, giám định lại nguyên nhân cháy, định giá lại tài sản thiệt hại. Yêu cầu trên đã được Cơ quan CSĐT Công an thị xã N trả lời tại Thông báo số 2939/TB-ĐTTH ngày 30/9/2024 “Thông báo về việc không chấp nhận kiến nghị thực nghiệm điều tra lại hiện trường vụ cháy, giám định lại nguyên nhân cháy, định giá lại tài sản thiệt hại”, do xác định kết quả khám nghiệm hiện trường, giám định nguyên nhân cháy, việc định giá tài sản thiệt hại đã được thực hiện theo đúng trình tự, quy định của pháp luật, đảm bảo khách quan, phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên bị cáo vẫn không thống nhất với Thông báo trên và tiếp tục kháng cáo nội dung trên đến Tòa án cấp phúc thẩm. Xét thấy:

- Đối với đề nghị “Thực nghiệm điều tra tại hiện trường vụ cháy”: Ngay sau khi vụ cháy xảy ra, Cơ quan CSĐT Công an huyện T (nay là thị xã N) đã kịp thời phối hợp với VKSND thực hiện việc khám nghiệm hiện trường vụ cháy. Quá trình khám nghiệm đảm bảo đúng trình tự, quy định của pháp luật, đảm bảo khách quan, thu thập đầy đủ các dấu vết thể hiện trên hiện trường. Do việc khám nghiệm hiện trường đảm bảo khách quan đúng quy định, tài liệu chứng cứ thu thập khi khám nghiệm hiện trường đã được kiểm tra xác minh đầy đủ. Do đó Cơ quan điều tra không bắt buộc phải thực nghiệm điều tra dựng lại hiện trường vụ án (theo quy định tại Điều 204 BLTTHS).

- Đối với đề nghị “Giám định lại nguyên nhân cháy”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 211 BLTTHS “Việc giám định lại được thực hiện khi có nghi ngờ kết luận giám định lần đầu không chính xác”. Bị cáo cho rằng nội dung kết luận giám định số 1707/C09-P2 ngày 26/4/2019 của V1 Bộ C1 là không có căn cứ và không phù hợp với thực tế nên đề nghị giám định lại nguyên nhân cháy.

Tuy nhiên: căn cứ vào kết quả khám nghiệm hiện trường, các dấu vết cháy tồn tại khách quan tại hiện trường vụ cháy như: Dấu vết muội đen, dấu vết than hóa, dấu vết cong vênh, biến dạng, dấu vết nóng chảy kim loại và chiều hướng cháy, chiều hướng than hoá... Vì vậy việc xác định điểm xuất phát cháy nằm ở khu vực mạn bên trái đuôi tàu mang số hiệu TH-91166-TS là khách quan, phù hợp với tài liệu chứng cứ khác thu thập được.

Việc xác định nguyên nhân vụ cháy dựa vào quá trình giám định các dấu vết, vật chứng được phát hiện, thu thập tại hiện trường vụ cháy và tại điểm xuất phát cháy. Qua khám nghiệm hiện trường thu thập tại khu vực phía dưới chân giàn giáo (sát với vị trí đuôi tàu TH-91166-TS) các hạt kim loại hình cầu màu xám là sản phẩm do quá trình hàn cắt kim loại bằng hồ quang điện tạo ra và trong

các mẫu sản phẩm cháy qua giám định đều không tìm thấy dấu vết của nhiên liệu cũng như các dung môi dễ cháy. Vì vậy việc xác định nguyên nhân cháy là do sơ xuất bất cẩn của con người trong quá trình hàn cắt kim loại bằng hồ quang điện là khách quan, phù hợp với tài liệu chứng cứ khác thu thập được. Do đó Cơ quan điều tra không trưng cầu giám định lại là có cơ sở.

- Đối với đề nghị “Định giá lại tài sản thiệt hại”. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự UBND tỉnh T định giá thiệt hại đối với tàu TH-90135-TS và tàu TH-91166-TS. Quá trình định giá, Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự UBND tỉnh T đã căn cứ vào các tài liệu hồ sơ do Cơ quan điều tra cung cấp, hiện trạng thực tế của tài sản được yêu cầu định giá, và Chứng thư thẩm định giá số 21 ngày 20/4/2020 của Công ty Cổ phần Đ để đưa ra kết luận định giá thiệt hại đối với tàu TH-90135-TS và tàu TH-91166-TS.

- Về việc không có chứng thư định giá lưu trong hồ sơ vụ án: Nghị định 30/2018/NĐ-CP ngày 07/3/2018 quy định chi tiết về thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản, trình tự thủ tục định giá trong tố tụng hình sự quy định: có 02 loại tài liệu cơ quan định giá phải gửi cho cơ quan tiến hành tố tụng ra văn bản yêu cầu định giá là Biên bản phiên họp ĐGTS (khoản 4 Điều 19) và Kết luận định giá tài sản (khoản 3 Điều 30). Do đó Chứng thư thẩm định giá số 21 ngày 20/4/2020 của Công ty Cổ phần Đ chỉ là tài liệu để Hội đồng định giá nghiên cứu, tham khảo trước khi kết luận, không phải là tài liệu pháp lý bắt buộc phải có trong hồ sơ vụ án. Tuy nhiên Hội đồng xét xử đã có sự kiểm tra xem xét tính khách quan của chứng thư thẩm định giá nêu trên.

Căn cứ vào Kết luận định giá tài sản, biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự tỉnh Thanh Hóa, xét thấy Hội đồng định giá tài sản đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục định giá và nội dung kết luận định giá tài sản khách quan, phù hợp, không có căn cứ đề nghi ngờ về kết luận định giá tài sản. Do đó Cơ quan điều tra không yêu cầu định giá lại tài sản là có cơ sở.

- Đối với việc Tòa án Tòa cấp sơ thẩm không chấp nhận đề nghị của bị cáo đưa ông Dương Minh T8 là người trông coi tàu của anh Lê Văn B1 vào tham gia tố tụng tại phiên tòa:

Tại giai đoạn điều tra cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập lấy lời khai của ông Dương Minh T8 với tư cách là người làm chứng. Lời khai của ông T8 thể hiện tối ngày 27/3/2019 khi ông T8 đang ngủ trên tàu của anh B1 (tàu TH-90135-TS) thì thấy nóng và khói nên tỉnh ngủ, khi dậy ông thấy bên tàu ông B bốc cháy và sau đó ông đi báo cho anh B1 (chủ tàu) biết việc tàu bị cháy. Ông không biết nguyên nhân cháy tàu. Mặt khác kết quả điều tra xác định nguyên nhân tàu của anh Binh bị cháy là do quá trình hàn cắt kim loại bằng hồ quang điện làm cháy lớp vỏ gỗ mạn bên trái đuôi tàu TH-91166-TS (tàu của ông B), rồi cháy lan sang tàu TH-90135-TS (tàu của anh B1). Như vậy các chứng cứ xác định tội phạm về nguyên nhân cháy là từ tàu Th-91166 (tàu của ông B). Do đó việc không triệu tập người trông coi tàu của anh B1 tham gia tố tụng tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.

Do đó các nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn M không có cơ sở chấp nhận.

Với hành vi trên, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã cân nhắc đầy đủ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo để xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 313 BLHS và quyết định mức hình phạt 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù đối với bị cáo Nguyễn Văn M là có căn cứ và đúng pháp luật, không oan sai. Do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn M, không có cơ sở chấp nhận ý kiến đề nghị của luật sư bào chữa cho bị cáo M.

[2.3] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Bá N:

- Bị cáo Nguyễn Bá N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất mức độ thực hiện tội phạm của bị cáo, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 313 BLHS và quyết định mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm tình tiết mới: có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình (có xác nhận của chính quyền địa phương), tham gia ủng hộ quỹ vì người nghèo, quỹ phòng chống thiên tai, quỹ hỗ trợ nhà ở cho người nghèo (có thư cảm ơn của UBMTTQ); bị cáo có bố đẻ được tặng Huân chương Kháng chiến Hạng Nhì.

Tuy nhiên trong quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá, cân nhắc để áp dụng mức hình phạt 07 năm 6 tháng đối với bị cáo là phù hợp, vì vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

[2.4]. Xét nội dung kháng cáo của bị đơn dân sự:

Bà Hoàng Thị Thùy D (người đại diện theo pháp luật của bị đơn dân sự) có kháng cáo nội dung về tư cách tham gia tố tụng của người đại diện theo pháp luật của bị đơn dân sự. Bà D cho rằng vào thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vụ án ngày 16/12/2024 thì Hợp tác xã M1 (bị đơn dân sự) đã thay đổi người đại diện theo pháp luật là bà Hoàng Thị Thùy D, tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà D vào tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo pháp luật của bị đơn dân sự.

Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vụ án, Hợp tác xã M1 được xác định tư cách tham gia tố tụng là bị đơn dân sự là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật và không làm mất đi quyền và nghĩa vụ của bị đơn dân sự. Tại thời điểm này, tài liệu thu thập trong hồ sơ vụ án và kết quả thẩm vấn tại phiên tòa sơ thẩm thể hiện Nguyễn Văn M là người đại diện theo pháp luật của bị đơn dân sự. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xác định Nguyễn Văn M là người đại diện theo pháp luật của bị đơn dân sự là đúng quy định của

pháp luật. Sau phiên tòa sơ thẩm, Hợp tác xã M1 nộp đơn kháng cáo, đồng thời cung cấp Giấy chứng nhận đăng ký Hợp tác xã số 2801973861. Đăng ký thay đổi lần thứ 6 ngày 31/10/2024 xác định bà Hoàng Thị Thùy D là người đại diện theo pháp luật của Hợp tác xã M1 (biên bản giao nhận ngày 19 tháng 12 năm 2014). Do đó tại phiên tòa phúc thẩm, HĐXX phúc thẩm xác định bà Hoàng Thị Thùy D là người đại diện theo pháp luật của Hợp tác xã M1 (Nội dung trên không làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của bị đơn dân sự).

+ Hợp tác xã M1 không đồng ý bồi thường cho ông Cao Văn B số tiền 1.596.000.000₫:

Căn cứ vào kết quả điều tra và kết quả thẩm vấn tại phiên tòa sơ thẩm xác định: Ông Cao Văn B là người trực tiếp thuê Nguyễn Văn M hàn các miếng kim loại vào góc phía sau bên trái mạn đuôi tàu TH-91166-TS của ông B (ông Ba K quen biết, không trực tiếp thuê Nguyễn Bá N). Sau đó, M giao việc này cho Nguyễn Bá N thực hiện. Khi giao cho N hàn cắt kim loại, M biết rõ Như không có chứng chỉ hàn cắt kim loại, chưa được huấn luyện cấp chứng chỉ về an toàn cháy, nổ, không đủ điều kiện để thực hiện công việc hàn hồ quang điện nhưng M vẫn giao cho N hàn điện tại tàu TH- 91166-TS của ông Cao Văn B. Đồng thời, M cũng không có phương án phòng, chống cháy đối với khu vực hàn điện, không áp dụng các biện pháp phòng, chống cháy đối với khu vực và vị trí hàn điện, dẫn đến hậu quả làm cháy hai tàu TH-91166-TS và TH-90135-TS, gây thiệt hại về tài sản là 3.096.500.000 đồng. Do đó, bị cáo Nguyễn Văn M và Lê Bá N2 đã có hành vi vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy, gây thiệt hại cho tài sản của ông Cao Văn B, anh Lê Văn B1 là 3.096.500.000 đồng, trong đó anh Lê Văn Binh B2 thiệt hại 1.500.500.000 đồng, ông Cao Văn B bị thiệt hại 1.596.000.000 đồng. Nguyễn Bá N là công nhân thực hiện nhiệm vụ do Nguyễn Văn M - Giám đốc Hợp tác xã M1 giao. Do đó, khi có thiệt hại thì Hợp tác xã M1 phải bồi thường theo quy định tại Điều 597 BLDS. Vì vậy, trong vụ án này trách nhiệm bồi thường dân sự thuộc về Hợp tác xã M1. Nếu sau đó HTX M1 có yêu cầu Nguyễn Bá N phải hoàn trả số tiền đã bồi thường thì khởi kiện dân sự bằng một vụ án dân sự khác.

+ HTX M1 không đồng ý bồi hoàn cho Tổng công ty B3 số tiền là 1.500.500₫.

Xét thấy, trước khi tàu TH-90135-TS của anh Lê Văn Binh B2 cháy, anh B1 đã mua bảo hiểm thân tàu cá số THỌ.KV3.TC.18.HD09 (thời hạn từ 18/4/2018 đến ngày 17/4/2019) với Công ty B3 thuộc Tổng Công ty B3. Sau khi vụ án xảy ra, giữa Tổng Công ty B3 và chủ tàu TH-90135-TS đã xảy ra tranh chấp hợp đồng bảo hiểm. Bản án số 427/2023/DS-PT ngày 31/8/2023 của TAND Thành phố Hà Nội đã buộc Tổng Công ty B3 bồi thường cho anh Lê Văn B1 số tiền 2.000.000.000 đồng. Ngày 20/10/2023, Tổng Công ty B3 đã thực hiện việc bồi thường đối với anh Lê Văn B1 số tiền 2.000.000.000 đồng. Sau đó, anh B1 đã chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn cho Tổng công ty B3 (theo quy định tại Điều 54 Luật kinh doanh bảo hiểm). Ngày 26/9/2024, Tổng Công ty B3 có văn bản số

5348/BHBV-KSTT- PC yêu cầu ông Nguyễn Văn M, Hợp tác xã M1 và những cá nhân, tổ chức khác (nếu có) bồi hoàn toàn bộ số tiền 2 tỷ đồng Bảo hiểm B3 đã chi trả, bồi thường cho anh Lê Văn B1.

Xét thấy, mức bồi thường 2 tỷ đồng cho thân vỏ tàu TH-90135-TS của anh Lê Văn B1 và Tổng Công ty B3 là thỏa thuận tự nguyện giữa hai bên. Trong khi thiệt hại của tàu TH-90135-TS được Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự tỉnh Thanh Hóa định giá 1.500.500.000 đồng. Do đó, HTX M1 chỉ có trách nhiệm bồi thường lại cho Tổng Công ty B3 1.500.500.000 đồng theo đúng giá trị tài sản bị thiệt hại sau khi định giá.

Ông Cao Văn B có yêu cầu bồi thường về dân sự đối với với thiệt hại của tàu TH-91166-TS với số tiền 1.596.000.000 đồng. Trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn M đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho ông Cao Văn B số tiền là 20.000.000 đồng; Nguyễn Bá N đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho ông Cao Văn B số tiền là 30.000.000 đồng. Số tiền còn lại 1.546.000.000 đồng, Hợp tác xã M1 phải có trách nhiệm bồi thường lại cho ông Cao Văn B.

+ Đối với các lý do kháng cáo của bị đơn dân sự như: Hợp đồng lao động giữa Hợp tác xã M1 và bị cáo Nguyễn Bá N không có công việc hàn điện. Chiều ngày 27/3/2019 ông Nguyễn Văn M - Giám đốc Hợp tác xã M1 không giao cho Nguyễn Bá N hàn điện trên tàu của ông Cao Văn B. Giá trị tài sản bị thiệt hại theo kết luận định giá là quá cao, không đúng với giá trị thực tế và quy định về tính khấu hao giá trị tài sản. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại do việc định giá tài sản bị thiệt hại không đúng quy định của pháp luật: Đã được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét đánh giá tại phần xem xét kháng cáo kêu oan, đề nghị hủy bản án sơ thẩm của bị cáo Nguyễn Văn M.

Giải quyết về trách nhiệm dân sự của Bản án sơ thẩm là có cơ sở và đúng quy định pháp luật vì vậy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn dân sự.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

[4] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Bá N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận.

Đối kháng cáo của bị đơn dân sự: Tòa án cấp sơ thẩm có sai sót trong việc không thực hiện thủ tục thông báo cho bị đơn dân sự thực hiện nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm phần kháng cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 22, điểm b khoản 1 Điều 17 Nghị Quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án. Bị đơn dân sự phải chịu án phí phúc thẩm vì kháng cáo không được chấp nhận theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 23, khoản 1 Điều 29 NQ 326/UBTVQH quy định về án phí lệ phí

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. 1. Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị Quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn M và bị cáo Nguyễn Bá N.

    Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Khoản 3 Điều 22, Điểm e khoản 2 Điều 23; Khoản 1 Điều 29 Nghị Quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn dân sự về bồi thường thiệt hại.

    Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 169/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của Tòa án Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa

  2. 2. Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 313, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự (đối với bị cáo Nguyễn Văn M)

    Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 313, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự (đối với bị cáo Nguyễn Bá N)

    Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn M, Nguyễn Bá N phạm tội: “ Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy”

    Xử phạt: Nguyễn Văn M 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/9/2024.

    Xử phạt: Nguyễn Bá N 07 ( bảy) năm 06 ( sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/9/2024.

  3. 3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 589, 597 Bộ luật dân sự, Điều 54 Luật kinh doanh bảo hiểm.

    Buộc Hợp tác xã M1 phải có trách nhiệm bồi thường cho ông Cao Văn B số tiền thiệt hại 1.546.000.000đ (một tỷ năm trăm bốn mươi sáu triệu đồng), bồi thường cho Tổng Công ty B3 1.500.500.000đ (một tỷ năm trăm triệu năm trăm nghìn đồng).

  4. 4. Án phí phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn M, bị cáo Nguyễn Bá N mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm. Bị đơn dân sự (Hợp tác xã M1) phải nộp 300.000đ án phí DSPT.
  5. 5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp Thanh Hóa;
  • - VKS, TA, THAHS TX Nghi Sơn;
  • - THADS TX Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu HS vụ án.
  • - TAND, VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (P7);
  • - CA tỉnh Thanh Hóa;

TM. HÔI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HSPT ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy

  • Số bản án: 46/2025/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn M và nguyễn Bá N trong quá trình thực hiện hàn tàu đã để xảy ra cháy tàu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger