Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HS-ST

Ngày: 10-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Đức Cảnh
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Trần Thị Hồng
Ông Phạm Anh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Hường – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Nhàn - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh Nam Định mở phiên tòa công khai sơ thẩm xét xử vụ án hình sự thụ lý số 17/2025/TLST-HS ngày 07-3-2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

Họ và tên: Trần Thị Hương G, sinh ngày 28-5-1996; giới tính: Nữ; nơi đăng ký thường trú: Số I đường T, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định. Nơi ở hiện nay: Số D đường T, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; học vấn: 12/12; con ông: Trần Trung N, sinh năm 1966; con bà: La Tuyết N1, sinh năm 1971; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; có chồng là Trần Quốc V, sinh năm 1988; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2017; con nhỏ sinh năm 13-4-2022; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12-12-2024 đến ngày 20-12-2024. Hiện được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: (Đều vắng mặt)

  • - Chị Trần Thị H, sinh năm 2003
  • Địa chỉ: Xóm A, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định.
  • - Chị Phùng Thị Ngọc A, sinh năm 1996
  • Địa chỉ: 3 đường Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định.

*Người làm chứng: (Đều vắng mặt)

  • - Anh Trần Quốc V;
  • - Chị Trần Thị N2;
  • - Chị Trần Thị T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cuối tháng 12-2023,Trần Thị Hương G không có nghề nghiệp ổn định nên đã nảy sinh ý định tìm kiếm khách trên mạng xã hội Facebook và Z có nhu cầu cần tiền để cho vay với lãi xuất cao từ 4000đ/1triệu/1ngày đến 50.000đ/1triệu/1 ngày (tương đương lãi xuất 146%/1 năm đến 1825%/1 năm). Quá trình thực hiện hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, G sử dụng số thuê bao 0888.783.333, tài khoản Zalo tên “Huong Giang Tl”. G thực hiện giao dịch cho vay tiền và thu lãi qua tài khoản ngân hàng V1 số [...], tài khoản ngân hàng T3 số 8596456789, tài khoản ngân hàng V2 số 0888783333.

Quá trình điều tra xác định Trần Thị Hương G cho 2 trường hợp trên địa bàn thành phố N vay tiền với lãi suất cao (BL 786 - 804). Cụ thể:

1. Đối với trường hợp Trần Thị H sinh năm 2003, trú tại xóm A, xã M, TP N, tỉnh Nam Định.

Đầu năm 2024, chị Trần Thị H sử dụng tài khoản Zalo được đăng ký bằng số 0941.376.988 nhắn tin vào tài khoản “Huong Giang T1” đăng ký bằng số điện thoại 0888.783.xxx hỏi vay G nhiều lần gồm 09 khoản vay khác nhau với lãi xuất từ 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày đến 15.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương ứng với 146%/1 năm đến 547,5%/1 năm). Chị H thường xuyên trả tiền lãi và tiền gốc của 9 khoản vay trên cho G vào tài khoản ngân hàng T3 số 8596456789 mang tên Trần Thị Hương G. Ngoài ra, từ tháng 11-2024, H chuyển trả tiền lãi cho 9 khoản vay trên cho G vào tài khoản ngân hàng S2 số 0835484500 mang tên Hồ Thị T2, sinh năm 1972, trú tại 5B – 2 tầng số C T, phường C, TP ., tỉnh Nam Định – là người giúp việc cho gia đình G). G nhờ tài khoản của bà T2 để nhận tiền của chị H với lý do khách trả tiền S cho G. Cụ thể các khoản vay như sau:

Lần 1:

Ngày 03-01-2024, G cho chị H vay số tiền 50.000.000đ với lãi suất 10.000.000 đồng/1 tháng của số tiền 50.000.000 đồng (tương ứng với lãi xuất 6.667 đồng/1 triệu/1 ngày = 243,3%/1 năm), trả lãi vào các ngày 09 và ngày 29 âm lịch. Do G yêu cầu nên chị H đã đến nhà G đưa 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe mô tô mang tên Trần Thị H. G lấy trước số tiền lãi 1 tháng là 10.000.000 đồng và sử dụng tài khoản ngân hàng T3 số 8596456789 mang tên Trần Thị Hương G chuyển vào tài khoản ngân hàng V3 số [...] mang tên Trần Thị H số tiền 40.000.000 đồng. Ngày 20-11-2024, H đã trả hết nợ gốc là 50.000.000 đồng cho G. Khoản vay này H trả lãi đầy đủ cho G đến ngày 03-12-2024 với tổng số tiền 110.000.000 đồng.

Theo quy định của BLDS 2015, lãi xuất do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm. Như vậy số tiền lãi thực tế mà Trần Thị Hương G đã thu ở mức lãi xuất cao nhất là 20%/năm của khoản tiền vay (tức tiền gốc) là (20% x 50.000.000 đ) : 365 ngày x 335 ngày = 9.178.082 đồng.

Số tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự trong trường hợp này là: 110.000.000 đồng – 9.178.082 đồng = 100.821.918 đồng

(Việc xác định số tiền thu lời bất chính được áp dụng theo cách tính trên đối với các trường hợp vay khác).

Lần 2:

Ngày 08-4-2024, G cho chị H vay số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất 10.000.000 đồng/1 tháng của số tiền 50.000.000 đồng (tương ứng với lãi xuất 6.667 đồng/1triệu/1ngày = 243,3%/1năm). Chị H phải trả tiền lãi vào các ngày 7 và 17 dương lịch. G cắt trước số tiền lãi 15 ngày là 5.000.000 đồng. Sau đó, G nhờ chồng là anh Trần Quốc V, sinh năm 1988, trú tại: 3 đường T, phường V, TPNam Định, tỉnh Nam Định) chuyển số tiền 45.000.000 đồng cho chị H với lý do trả tiền hàng trong hoạt động kinh doanh Spa của G. Sau đó, G sử dụng tài khoản ngân hàng T3 số 9685456789 mang tên Trần Quốc V chuyển tiền tài khoản ngân hàng M số 0941376988 mang tên Trần Thị H với số tiền 45.000.000 đồng. Đến ngày 09-8-2024, H trả G số tiền gốc 25.000.000 đồng. Khoản vay này H đã trả lãi số tiền 45.000.000 đồng.

Từ ngày 09-8-2024, H còn nợ G số tiền 25.000.00 đồng, tiếp tục trả lãi cho khoản 25.000.000 đồng còn nợ với lãi xuất 5.000.000 đồng/1tháng của số tiền 25.000.000 đồng (tương ứng với lãi xuất 6.667đ/1triệu/1ngày = 243,4%/1năm). H đã đóng lãi cho G từ ngày 09-8-2024 đến ngày 24-11-2024 với số tiền 20.000.000 đồng. Đến ngày 24-11-2024, G và H thống nhất chuyển sang hình thức trả số tiền 25.000.000 đồng trong vòng 50 ngày với lãi xuất 5.000.000 đồng/50 ngày của số tiền 25.000.000 đồng. H phải trả G 5.000.000 đồng tiền lãi sau khi trả đủ tiền gốc. Từ ngày 24-11-2024 đến ngày 11-12-2024 (17 ngày), chị H đã trả cho G số tiền gốc là 8.500.000 đồng và còn nợ tiền gốc là 16.500.000 đồng, H chưa trả lãi cho G. Tổng số tiền lãi thực tế H đã trả cho G là: 65.000.000 đồng.

Theo quy định của BLDS năm 2015, số tiền lãi được thu tối đa trong lần cho vay này là (20% x 50.000.000 đồng) : 365 ngày x 123 ngày + (20% x 25.000.000 đồng) : 365 ngày x 107 ngày = 4.835.616 đồng.

Số tiền G thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự trong khoản vay này là: 65.000.000 đồng – 4.835.616 đồng = 60.164.384 đồng

Lần 3:

Ngày 28-4-2024, G cho chị H vay số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất 10.000.000 đồng/1 tháng của số tiền 50.000.000 đồng (tương ứng với lãi xuất 6.667 đồng/1 triệu/1 ngày = 243,3%/1 năm). G lấy lãi trước 15 ngày với số tiền là 5.000.000 đồng. H bảo G chuyển tiền vay vào tài khoản ngân hàng T3 số 19032597199015 mang chị Trần Thị T. Sau đó G chuyển số tiền 45.000.000đồng vào tài khoản ngân hàng T3 số 19032597199015 của chị Trần Thị T để cho H vay. H đã trả tiền lãi cho G từ ngày 28-4-2024 đến ngày 24-11-2024 là 75.000.000 đồng. Đến ngày 24-11-2024, G và chị H thống nhất chuyển khoản vay này sang hình thức trả tiền gốc mỗi ngày là 1.000.000 đồng trong vòng 50 ngày, trả lãi 10.000.000 đồng sau khi trả hết tiền gốc. Từ ngày 24-11-2024 đến ngày 11-12-2024 (17 ngày), H đã trả cho G số tiền gốc là 17.000.000 đồng và còn nợ lại số tiền 33.000.000 đồng. H chưa trả tiền lãi cho G.

Theo quy định của BLDS năm 2015, số tiền lãi được thu tối đa trong lần cho vay này là: (20% x 50.000.000 đồng) : 365 ngày x 210 ngày = 5.753.425 đồng.

Số tiền G thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự trong khoản vay này là: 75.000.000 đồng – 5.753.425 đồng = 69.246.575 đồng.

Lần 4:

Ngày 29-5-2024, G cho chị H vay số tiền 50.000.000₫ với lãi suất 10.000.000 đồng/1 tháng của số tiền 50.000.000 đồng (tương ứng với lãi xuất 6.667 đồng/1 triệu/1 ngày = 243,3%/ 1 năm). G lấy trước lãi 15 ngày với số tiền là 5.000.000 đồng. H bảo G chuyển tiền vay vào tài khoản ngân hàng T3 số 19035137121017 mang tên Trần Thị N2. Sau đó, G sử dụng tài khoản ngân hàng T3 số 8596456789 của mình chuyển số tiền 45.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng để cho H vay. Khoản vay này H đã trả lãi đầy đủ đến ngày 11-12-2024 là 70.000.000đ. H chưa trả tiền gốc khoản vay này cho G.

Theo quy định của BLDS năm 2015, số tiền lãi được thu tối đa trong lần cho vay này là: (20% x 50.000.000 đồng) : 365 ngày x 196 ngày = 5.369.863 đồng.

Số tiền G thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự trong khoản vay này là: 70.000.000 đồng – 5.369.863 đồng = 64.630.137 đồng

Lần 5:

Ngày 17-08-2024, G cho chị H vay số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất 750.000 đồng/1 ngày của số tiền 50.000.000 đồng (tương ứng với lãi xuất 15.000 đồng/1 triệu/1 ngày = 547,5%/1 năm). G sử dụng số tài khoản 0888783333 của mình tại ngân H1 chuyển vào số tài khoản 0941376988 tại ngân hàng M của chị H số tiền 50.000.000 đồng. Chị H đã trả lãi đầy đủ khoản vay 50.000.000 đồng từ ngày 17-8-2024 đến ngày 14-11-2024 với số tiền 66.750.000 đồng.

Theo quy định của BLDS năm 2015, số tiền lãi được thu tối đa trong lần cho vay này là : (20% x 50.000.000 đồng) : 365 ngày x 89 ngày = 2.438.356 đồng

Số tiền G thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự trong khoản vay này là: 66.750.000 đồng – 2.438.356 đồng = 64.311.643 đồng

*Đến ngày 24-8-2024, G sử dụng tài khoản số 8596456789 của mình tại ngân hàng T3 chuyển đến số tài khoản của chị H số tiền 20.000.000 triệu đồng để cho chị H vay với lãi suất 15.000 đồng/1 triệu/1 ngày = 547,5%/1 năm. Chị H đã trả lãi đầy đủ khoản vay 20.000.000 đồng từ ngày 24-08-2024 đến ngày 14-11-2024 với số tiền 24.600.000 đồng.

Theo quy định của BLDS năm 2015, số tiền lãi được thu tối đa trong lần cho vay này là : (20% x 20.000.000 đồng) : 365 ngày x 82 ngày = 898.630 đồng.

Số tiền G thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự trong khoản vay này là: 24.600.000 đồng – 898.630 đồng = 23.701.370 đồng.

*Đến ngày 14-11-2024, G tính tổng khoản vay này là 70.000.000 đồng và giảm lãi xuống còn 14.000.000 đồng/1 tháng của số tiền 70.000.000 đồng (tương ứng với lãi xuất 6.667 đồng/1 triệu/1 ngày = 243,3%/1 năm). Chị H đã trả lãi cho G từ ngày 15-11-2024 đến ngày 11-12-2024 với số tiền 14.000.000 đồng.

Theo quy định của BLDS năm 2015, số tiền lãi được thu tối đa trong lần cho vay này là : (20% x 70.000.000 đồng) : 365 ngày x 27 ngày = 1.035.616 đồng.

Số tiền G thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự trong khoản vay này là: 14.000.000 đồng - 1.035.616 đồng = 12.964.383 đồng.

Như vậy: Tổng số tiền lãi chị H đã trả cho G cho tổng khoản vay trên là 105.350.000 đồng. Số tiền lãi G được thu ở mức cao nhất theo quy định từ khoản vay này là 4.372.603 đồng . Số tiền G thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự trong khoản vay này là 100.977.397 đồng. H còn nợ G 70.000.000 đồng tiền gốc.

Lần 6:

Ngày 14-11-2024, G cho chị H vay số tiền 100.000.000 đồng với lãi xuất 20.000.000 đồng/50 ngày của số tiền 100.000.000 đồng (tương ứng với lãi xuất 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày = 146%/ 1 năm). H lấy lãi trước 50 ngày với số tiền 20.000.000 đồng. Mỗi ngày chị H phải trả cho G 2.000.000 đồng tiền gốc trong vòng 50 ngày. Từ ngày 14-11-2024 đến ngày 11-12-2024 (27 ngày), chị H đã trả cho G số tiền gốc của khoản vay này là 54.000.000 đồng, còn nợ G 46.000.000 đồng.

Theo quy định của BLDS năm 2015, số tiền lãi được thu tối đa trong lần cho vay này là (20% x 100.000.000 đồng) : 365 ngày x 50 ngày = 2.739.726 đồng.

Số tiền G thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự trong khoản vay này là: 20.000.000 đồng - 2.739.726 đồng = 17.260.274 đồng .

Lần 7:

Ngày 26-11-2024, G cho chị H vay số tiền 100.000.000 đồng với lãi xuất 20.000.000 đồng/50 ngày của số tiền 100.000.000 đồng (tương ứng với lãi xuất 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày = 146%/ 1 năm). H lấy lãi trước 50 ngày với số tiền 20.000.000 đồng. Mỗi ngày chị H phải trả cho G 2.000.000 đồng tiền gốc trong vòng 50 ngày. Từ ngày 26-11-2024 đến ngày 11-12-2024 (15 ngày), chị H đã trả cho G số tiền gốc của khoản vay này là 30.000.000 đông, còn nợ 70.000.000 đồng.

Theo quy định của BLDS năm 2015, số tiền lãi được thu tối đa trong lần cho vay này là (20% x 100.000.000 đồng) : 365 ngày x 50 ngày = 2.739.726 đồng

Số tiền G thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự trong khoản vay này là: 20.000.000 đồng - 2.739.726 đồng = 17.260.274 đồng.

Lần 8:

Ngày 29-11-2024, G cho H vay số tiền 90.000.000đ với lãi suất 10.000đ/1.000.000 đồng/1 ngày = 365%/1 năm. H phải trả lãi G theo ngày là 900.000đ/ngày. Đến ngày 11/12/2024, H đã trả cho G số tiền lãi là 12.600.000 đồng. Khoản vay này H chưa trả số tiền gốc nào cho G.

Theo quy định của BLDS năm 2015, số tiền lãi được thu tối đa trong lần cho vay này là: (20% x 90.000.000 đồng) : 365 ngày x 14 ngày = 690.411 đồng.

Số tiền G thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự trong khoản vay này là: 12.600.000 đồng - 690.411 đồng = 11.909.589 đồng.

Lần 9:

Ngày 03-12-2024, G cho H vay số tiền 30.000.000đ với lãi suất 10.000 đồng/1 triệu/1 ngày. H phải trả lãi cho G theo ngày là 300.000 đồng/1 ngày. Đến ngày 11-12-2024, H đã trả cho G số tiền lãi là 3.000.000 đồng. Khoản vay này chị H chưa trả số tiền gốc nào cho G.

Theo quy định của BLDS năm 2015, số tiền lãi được thu tối đa trong lần cho vay này là: (20% x 30.000.000 đồng ) : 365 ngày x 10 ngày = 164.384 đồng

Số tiền G thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự trong khoản vay này là: 3.000.000 đồng – 164.384 đồng = 2.835.616 đồng.

Như vậy: Tổng số tiền G cho chị H vay là 590.000.000 đồngTổng số tiền gốc chị H đã trả cho G là 184.500.000 đồng, H còn nợ G số tiền: 405.500.000 đồng. Tổng số tiền lãi thực tế G đã thu được của H là: 480.950.000 đồng. Tổng số tiền G thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự trong 09 khoản vay này là: 445.106.164 đồng.

2. Đối với trường hợp chị Phùng Thị Ngọc A SN 1996 trú tại 3 Điện Biên, phường C, TP N, tỉnh Nam Định.

Ngày 30-12-2023, Trần Thị Hương G sử dụng tài khoản ngân hàng T3 số 8596456789 mang tên Trần Thị Hương G chuyển đến tài khoản ngân hàng V3 số [...] của chị Phùng Thị Ngọc A với số tiền 50.000.000 đồng để cho chị Ngọc A vay với lãi xuất 50.000 đồng/ 1 triệu/1 ngày (tương ứng với lãi xuất 1825%/1 năm). Chị Ngọc A phải trả tiền lãi theo ngày và trả tiền gốc trong 03 ngày. Chị Ngọc A đã trả cho G số tiền lãi của 03 ngày là 7.500.000 đồng. Do chị Ngọc A chưa có tiền trả số tiền gốc trong 03 ngày nên G và Ngọc A thoả thuận cho chị Ngọc A trả tiền gốc dần và không tính lãi. Đến cuối tháng 2-2024, chị Ngọc A đã trả cho G số tiền 50.000.000 đồng tiền gốc .

Theo quy định của BLDS năm 2015, số tiền lãi được thu tối đa trong lần cho vay này là: (20%/năm x 50.000.000 đồng ) : 365 ngày x 3 ngày = 82.192 đồng.

Số tiền G thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự trong khoản vay này là: 7.500.000 đồng – 82.192 đồng 7.417.808 đồng.

Tại cơ quan điều tra, G khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Cơ quan điều tra đã tiến hành sao kê toàn bộ tài khoản ngân hàng của G, kết quả phù hợp với các giao dịch nêu trên.

* Từ nội dung trên, bản Cáo trạng số 23/CT-VKSND-P3 ngày 05-3-2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định truy tố Trần Thị Hương G về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 BLHS.

* Tại phiên toà: Bị cáo Trần Thị Hương G khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đã truy tố. Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình nên sau khi thực hiện tội phạm bị cáo đã đến cơ quan công an tự thú. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét khoan hồng cho bị cáo để bị cáo được cải tạo tại địa phương vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, trong quá trình phạm tội và khi đưa ra xét xử thì bị cáo đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định luận tội: Giữ nguyên nội dung cáo trạng và quyết định đã truy tố. Sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS. Xử phạt bị cáo Trần Thị Hương G từ 24 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.

Về hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về biện pháp tư pháp: Truy thu toàn bộ số tiền gốc và số tiền lãi tiền lãi 20% năm mà bị cáo đã dùng vào việc cho vay lãi nặng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo phải có trách nhiệm hoàn trả cho chị Trần Thị H, chị Phùng Thị Ngọc A số tiền lãi vượt quá 20%/ năm.

Về vật chứng: Trả lại cho chị Trần Thị H 01 căn cước công dân và 01 giấy phép lái xe.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có cơ sở xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được cơ quan điều tra thu thập, căn cứ vào diễn biến lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà. Đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian cuối năm 2023 đến tháng 12-2024, Trần Thị Hương G thông qua hình thức chuyển khoản cho vay tiền đã có hành vi cho Trần Thị H và Phùng Thị Ngọc A vay với tổng số tiền là 640.000.000 đồng với mức lãi suất từ 146%/năm đến 1825%/năm (gấp 7,3 lần đến 91,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự là 20%) thu lợi bất chính thực tế số tiền là 452.523.972 đồng.

Do vậy, với hành vi nêu trên của Trần Thị Hương G đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” được quy định tại khoản 2 Điều 201 BLHS. Nên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định là có căn cứ.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thực hiện nhiều lần hành vi cho vay lãi suất cao (từ 146%/năm đến 1825%/năm thu lời bất chính từ 30 triệu đồng trở lên nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi thực hiện tội phạm, bị cáo Trần Thị Hương G đã tự nguyện đến Cơ quan Công an để tự thú về hành vi vi phạm pháp luật của mình. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, r khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo G đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi và bị cáo đã tự nguyện nộp lại một phần tiền bị cáo đã được hưởng từ hành vi cho vay lãi nên bị cáo G được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS

[4] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, đối chiếu với các quy định của pháp luật thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính. Bị cáo là người có đủ năng lực nhận biết hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã lợi dụng lúc người dân cần tiền cho cuộc sống để đưa ra mức lãi suất rất cao nhằm tư lợi cá nhân cho mình. Tuy nhiên, xét nhân thân của bị cáo thì đây là lần đầu bị cáo phạm tội, đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; sau khi phạm tội, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã đến cơ quan công an tự thú về hành vi của mình (BL 756, 757). Xét thấy, đây là loại tội phạm liên quan đến kinh tế, bản thân bị cáo cũng đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên cũng tự nguyện nộp lại một phần số tiền chiếm hưởng bất chính. Do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Đối chiếu với các tiêu chuẩn điều kiện theo hướng dẫn của Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thấy có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương, cũng đủ sức răn đe giáo dục đối với bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo vừa cải tạo vừa ổn định cuộc sống gia đình và chăm sóc con nhỏ cũng như làm lại cuộc đời như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định là thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không việc làm ổn định và đang nuôi con nhỏ nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về biện pháp tư pháp: Trần Thị Hương G đã cho chị Trần Thị H vay tổng số tiền 590.000.000 đồng, chị H đã trả cho G 184.500.000 đồng; chị H còn nợ G 405.500.000 đồng nên khi truy thu số tiền G đã dùng vào việc cho vay lãi nặng cần truy thu số tiền gốc chưa trả của chị H. Cụ thể truy thu của G số tiền 184.500.000 đồng và truy thu của chị Trần Thị H số tiền 405.500.000 đồng. Trần Thị Hương G đã cho chị Phùng Thị Ngọc A vay 50.000.000 đồng, chị Ngọc A đã trả hết gốc cho G nên cần truy thu của G số tiền bị cáo đã dùng để cho chị Ngọc A vay lãi nặng là 50.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

Đối với số tiền lãi tương ứng với lãi suất 20% mà Trần Thị Hương G đã được hưởng từ chị Trần Thị H và chị Phùng Thị Ngọc A là 35.926.028 đây là tiền chiếm hưởng bất chính nên cần truy thu để sung quỹ nhà nước.

Bị cáo Trần Thị Hương G được đối trừ đi số tiền 50.000.000 đồng bị cáo đã nộp theo Biên lai số 0002601 ngày 09-4-2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nam Định

[7] Trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền lãi vượt quá 20% Trần Thị Hương G đã thu từ chị Trần Thị H và chị Phùng Thị Ngọc A cần buộc G phải trả lại cho chị H và chị Ngọc A cụ thể như sau:

  • - Trả lại cho chị Trần Thị H số tiền 445.106.164 đồng
  • - Trả lại cho chị Phùng Thị Ngọc A số tiền 7.417.808 đồng

[8] Về vật chứng: Trả lại cho chị Trần Thị H 01 căn cước công dân và 01 giấy phép lái xe mang tên Trần Thị H. Chị Trần Thị H có nghĩa vụ đến Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định để làm thủ tục nhận lại các giấy tờ này. Tiếp tục lưu giữ 01 giấy biên nhận vay tiền và cám kết trả nợ đề ngày 20/11/2024 người ký nhận Trần Thị H trong hồ sơ vụ án.

[9] Về tình tiết liên quan: Đối với Trần Quốc V SN1988 trú tại 3 đường T, phường V, TP N, tỉnh Nam Định là chồng của G và bà Hồ Thị Tuyết S1 1972, trú tại 5 B – 2 tầng số C T, phường C, TP N, tỉnh Nam Định là người giúp việc cho gia đình G, được G dùng nhờ số tài khoản để chuyển số tiền cho vay đến số tài khoản cho Trần Thị H, tuy nhiên anh V, bà T2 không biết được việc G cho chị H vay tiền với lãi xuất cao nên cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

[10] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Thị Hương G phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
  2. Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 BLHS. Xử phạt Trần Thị Hương G 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 12-12-2024 đến ngày 20-12-2024)

Giao bị cáo Trần Thị Hương G cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo, cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án Hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung với bị cáo.
  1. Biện pháp tư pháp:
    • - Tuyên truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền gốc Trần Thị Hương G sử dụng để cho vay là 234.500.000 đồng và khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 35.926.028 đồng, tổng là 270.426.028 đồng. Đối trừ đi số tiền bị cáo đã nộp 50.000.000 đồng theo Biên lai số 0002601 ngày 09-4-2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nam Định. Bị cáo còn phải tiếp tục nộp số tiền là 220.426.028 đồng (Hai trăm hai mươi triệu bốn trăm hai mươi sáu nghìn không trăm hai mươi tám đồng)
    • - Truy thu sung quỹ Nhà nước của chị Trần Thị H số tiền: 405.500.000 đồng (Bốn trăm linh năm triệu năm trăm nghìn đồng)
  1. Trách nhiệm dân sự:
    • - Buộc bị cáo Trần Thị Hương G phải trả lại cho chị Trần Thị H số tiền 445.106.164 đồng (bốn trăm bốn mươi lăm triệu một trăm linh sáu nghìn một trăm sáu mươi tư đồng); trả lại cho chị Phùng Thị Ngọc A số tiền 7.417.808 đồng (bảy triệu bốn trăm mười bảy nghìn tám trăm linh tám đồng)

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với các khoản tiền người phải thi hành án phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Về vật chứng: Trả lại cho chị Trần Thị H 01 căn cước công dân và 01 giấy phép lái xe mang tên Trần Thị H. Chị Trần Thị H có nghĩa vụ đến Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định để làm thủ tục nhận lại các giấy tờ này. Tiếp tục lưu giữ 01 giấy biên nhận vay tiền và cam kết trả nợ đề ngày 20-11-2024 người ký nhận Trần Thị H trong hồ sơ vụ án
  1. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và các điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Trần Thị Hương G phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 22.101.000 đồng (Hai mươi hai triệu một trăm linh một nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần liên quan đến mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao;
  • - CA; VKS tỉnh Nam Định;
  • - Cục THADS tỉnh Nam Định;
  • - Trại tạm giam; Bị cáo.
  • - UBND P. Cửa Bắc, TP.Nam Định;
  • - Cơ quan THA hình sự Công an tỉnh Nam Định;
  • - Lưu hồ sơ; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đức Cảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HS-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 46/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Hương G cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger