Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HSPT

Ngày: 02/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hà.

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Quyết.

Bà Nguyễn Thị Hương Giang.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 02/4/2025 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 10/TLPT-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn C, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 246/2024/HSST ngày 02/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn C, sinh năm 1976; Nơi ĐKTT: thôn P, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn phổ thông: lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân C1, sinh năm 1936 và con bà Dương Thị D, sinh năm 1943; Vợ: Nguyễn Thị Y, sinh năm 1977; con: có 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2000; Gia đình có 07 chị em, bị cáo là con thứ năm. Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/3/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt tại phiên tòa).

- Bị cáo không có kháng cáo:

  1. Họ và tên: Trần Thế Đ, sinh năm 1989; (có mặt).
    Nơi thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang;
  2. Họ và tên: Nguyễn Gia T, sinh năm 1993; (có mặt).
    Nơi thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang;
  3. Họ và tên: Hoàng Văn V, sinh năm 1985; (có mặt).
    Nơi thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang;
  4. Họ và tên: Lô Văn T1, sinh năm 1988; (có mặt).
    Nơi thường trú: Thôn G, xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn;

-Người bào chữa cho bị cáo C: Luật sư Phạm Tiến Q – Luật sư Công ty L2 – Đoàn luật sư tỉnh B. (có mặt).

Địa chỉ: Số F, đường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

* Bị hại: Ông Nguyễn Thế T2, sinh năm 1952. (có mặt).

Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Vũ Công T3, sinh năm 1968. (vắng mặt).
    Địa chỉ: Số nhà C, ngõ F, tổ A, đường T, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  2. Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1972 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Số nhà C, ngõ F, tổ A, đường T, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  3. Anh Vũ Ngọc H, sinh năm 1983 (có mặt).
    Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
  4. Anh Lê Thanh V1, sinh năm 1981. (có mặt).
    Địa chỉ: P, tầng A, Chung cư Q, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  5. Anh Trần Văn N, sinh năm 1972. (vắng mặt).
    Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  6. Anh Lò Văn K, sinh năm 1980. (vắng mặt).
    Địa chỉ: Thôn G, xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
  7. Chị Lô Kim T5, sinh năm 1993 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
  8. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1999 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
  9. Chị Khương Thị V2, sinh năm 1995 (vắng mặt).
    Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
  10. Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1977 (có mặt)
    Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  11. Ông Thân Đức C2, sinh năm 1957. (vắng mặt).
    Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  12. Anh Dương Hữu H2, sinh năm 1987. (vắng mặt).
    Địa chỉ: Khối phố H, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.
  13. Anh Phùng Văn Đ1, sinh năm 1975. (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn B, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  14. Anh Mạc Văn M, sinh năm 1989. (vắng mặt).
    Địa chỉ: Công an phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 8/2022 Trần Thế Đ, sinh năm 1989, trú tại thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang có ý định mua cây gỗ keo để kinh doanh. Qua bạn bè giới thiệu, Đ biết Nguyễn Văn C, sinh năm 1976, trú tại thôn P, xã Đ, thành phố B có thể cung cấp thông tin để mua cây gỗ. Cương được ông Vũ Công T3, sinh năm 1968 (tên thường gọi là Đức xanh), trú tại số nhà C, ngõ F, tổ A, đường T, phường N thành phố B nhờ trông coi giúp một khoảnh rừng sản xuất tại thôn P, xã Đ, thành phố B. Sau khi Đ đến gặp C đặt vấn đề mua cây gỗ và được C đưa đi xem khoảnh rừng của ông T3 thì Đ đồng ý mua. C đưa Đ đi gặp ông T3 ký hợp đồng mua bán gỗ. Sau đó, Đ thuê người thu hoạch gỗ đến tháng 10/2022 thì xong.

Sau khi thu hoạch gỗ xong, ông Vũ Công T3 muốn tiếp tục trồng rừng nên thuê Trần Thế Đ dọn thảm thực bì tại khoảnh rừng trên với giá 10.000.000 đồng. Đ bàn với Hoàng Văn V, sinh năm 1985; Vũ Ngọc H, sinh năm 1983, trú tại thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Lô Văn T1, sinh năm 1988, trú tại thôn G, xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn và Nguyễn Văn C nhận cùng tiến hành dọn, đốt thảm thực bì tại khu rừng của ông T3 thì tất cả mọi người đồng ý tham gia; tiền công mỗi người trong 01 ngày làm việc là 500.000 đồng. Đến ngày 20/10/2022, mọi người bắt đầu tiến hành cùng nhau dọn dẹp rừng để đốt.

Ngày 23/10/2022, Đ, V, C, T1 và H đến khoảnh rừng của ông T3 dọn và làm đường băng cản lửa rồi đốt thảm thực bì. Khi cả nhóm đang đốt thì tổ công tác của Hạt kiểm thành phố B - L do ông Lê Thanh V1, sinh năm 1981 là cán bộ Hạt kiểm lâm được phân công quản lý địa bàn xã Đ đến lập biên bản vi phạm hành chính và yêu cầu không được đốt vì không thực hiện đúng quy định về sử dụng lửa khi đốt thực bì. Ngày 24/10/2022, Hạt kiểm lâm thành phố B - L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.250.000 đồng đối với bà Nguyễn Thị T4 là vợ ông T3 về hành vi không thực hiện đúng quy định pháp luật về sử dụng lửa khi đốt thực bì để chuẩn bị đất trồng rừng.

Buổi tối ngày 30/10/2022, Đ điện thoại cho ông T3 hỏi xem đã báo cáo cơ quan chức năng chưa để tiếp tục xuống dọn đốt thì ông T3 nói cứ xuống để ông T3 sẽ điện thoại hỏi kiểm lâm. Khi gọi điện cho ông T3 thì Đ đang chơi tại nhà V và có Thăng ở đó. Đ bảo Vụ đến ngày 01/11/2022 xuống dọn thực bì tại khu vực rừng Đ, thành phố B. Vụ đồng ý và rủ T cùng đi thì T đồng ý. Sau đó, Đ gọi điện cho T1 và H hẹn đến buổi sáng ngày 01/11/2022 cùng đến thôn P, xã Đ, thành phố B để dọn thực bì thì T1 và H đồng ý.

Buổi sáng ngày 01/11/2022, Đ điều khiển xe ô tô chở T, T1, Vụ, H mang theo dao phát, cuốc đi từ nhà Đ đến khu vực rừng ở thôn P, xã Đ, thành phố B. Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày thì đến nơi. Mọi người đi bộ lên đồi. Đ gọi điện thoại cho ông T3 thông báo đã đưa người xuống đốt dọn thực bì thì ông T3 nói hôm nay có gió to nên để điện cho kiểm lâm để hỏi. Ông T3 điện thoại cho ông Lê Thanh V1 là cán bộ Hạt kiểm lâm thành phố B - L phụ trách địa bàn xã Đ hỏi thì ông V1 nói để báo cáo lãnh đạo và xuống kiểm tra xong mới được đốt. Sau đó, Đ điện thoại cho C thông báo đã đưa người xuống dọn thực bì để C cùng tham gia dọn đốt đồng thời nhờ mua nước mang ra cho mọi người. Khoảng 15 phút sau, C mang nước ra thì Đ bảo C gọi cho ông T3 hỏi xem cơ quan kiểm lâm đã cho đốt hay chưa. C gọi điện thoại cho ông T3 thì ông T3 bảo C chủ động gọi điện cho ông Lê Thanh V1 để hỏi, nếu kiểm lâm cho đốt thì mới được đốt. C mượn điện thoại di động của H gọi cho ông V1 hỏi có được đốt thực bì hay không thì ông V1 trả lời phải báo cáo xin ý kiến lãnh đạo nên C bảo mọi người ngồi chờ.

Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, mọi người chờ lâu nên nói với C: “chín giờ rồi xem điện cuộc nữa được đốt thì đốt không thì đi về”. Cương bỏ điện thoại ra sử dụng ứng dụng Zalo mở loa ngoài gọi cho ông V1. Lúc này, V, T1, T, H ngồi bên cạnh chờ. Sau khi gọi điện thoại xong, C quay ra nói với mọi người là “Đốt đi”.

Sau khi C bảo đốt thì mọi người đứng dậy để chuẩn bị đốt thảm thực bì. Thời điểm C gọi điện thoại cho ông V1 thì Đ đi xuống phía dưới xem cây gỗ ở khu rừng khác để mua. Đ đi được khoảng 20m thì có người gọi bảo được đốt rồi. Đ quay lại chỗ mọi người đang đứng hỏi C “được đốt chưa” thì C nói “được rồi đốt đi”. Nghe C nói như vậy, Đ lấy bật lửa ở túi quần ra châm lửa đốt đầu tiên. Tiếp đó, T1, V và T cùng châm lửa đốt, mỗi người đứng cách nhau khoảng 2m. Lúc mọi người châm lửa đốt thì H đang dùng dao để chặt cây ở phía dưới và không tham gia đốt.

C cầm chai nước đứng ở dưới và không đốt. Mọi người đốt được khoảng 15 phút thì gió to nên lửa cháy lan sang khoảnh rừng bên cạnh của ông Nguyễn Thế T2, sinh năm 1952, trú tại thôn P, xã Đ, thành phố B (thuộc rừng sản xuất trồng các loại cây keo, thông, bạch đàn, vải). Mọi người dùng cây dập lửa nhưng không dập tắt được. C gọi điện cho ông V1 thông báo về việc đã xảy ra cháy rừng để báo cho lực lượng chức năng đến dập lửa. Nhận được tin báo, Công an thành phố B đã phối hợp với các đơn vị chức năng tổ chức lực lượng, phương tiện tiến hành chữa cháy và dập tắt được vụ cháy.

Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 03/11/2022: Hiện trường xảy ra vụ việc tại khu rừng thuộc thôn P, xã Đ, thành phố B. Phía Bắc là rừng của ông Nguyễn Văn T6, Nguyễn Văn S. Phía Nam là rừng của ông Nguyễn Thế T2. Phía Đ2 là hồ núi D1. Phía Tây là đỉnh núi D1.

Tại khu vực rừng thuộc địa phận thôn P, xã Đ, thành phố B, tại vị trí có tọa độ E00417515, N02347792 phát hiện dấu vết than hóa triệt để thành tàn trắng (vị trí số 1) được xác định là vị trí tác động nhiệt.

Tại vị trí có tọa độ E00417512, N02347792 cách vị trí số 1 là 3,1 m về phía Tây, phát hiện dấu vết than hóa triệt để thành tàn trắng (vị trí số 2) được xác định là vị trí tác động nhiệt.

Tại vị trí có tọa độ E00417510, N02347795 cách vị trí số 2 là 4 m về phía Tây, phát hiện dấu vết than hóa triệt để thành tàn trắng (vị trí số 3) được xác định là vị trí tác động nhiệt.

Tại vị trí có tọa độ E00417505, N02347792 cách vị trí số 3 là 3,4 m về phía Tây, phát hiện dấu vết than hóa triệt để thành tàn trắng (vị trí số 4) được xác định là vị trí tác động nhiệt.

Tại vị trí có tọa độ E00417501, N02347791 cách vị trí số 4 là 3,5 m về phía Tây, phát hiện dấu vết than hóa triệt để thành tàn trắng (vị trí số E) được xác định là vị trí tác động nhiệt.

Các vị trí 1, 2, 3, 4, 5 thuộc địa phận rừng của ông Vũ Công T3. Từ các vị trí này về phía Bắc là rừng của ông T3 phát hiện các sản phẩm than hóa, tác động nhiệt theo hướng từ N1 đến B, từ Đông sang T; phía Nam rừng của ông T3 là rừng của ông Nguyễn Thế T2. Giữa hai khoảnh rừng phát hiện có diện đất, trên có ít thảm thực vật khô, không phát hiện sản phẩm than hóa.

Tại vị trí có tọa độ E00417499, N02347789 cách vị trí số 5 là 3,12 m phát hiện dấu vết than hóa (vị trí số 6) xác định là vị trí tác động nhiệt về phía rừng nhà ông T2. Tiến hành đo đường băng cản lửa tại vị trí này thấy khoảng cách từ vị trí than hóa gần nhất phía rừng nhà ông T3 đến vị trí gần nhất phía rừng nhà ông T2 là 1,6m. Từ vị trí số 6 phát hiện các sản phẩm than hóa, tác động nhiệt theo chiều từ Bắc đến N, từ vị trí số 6 ra xung quanh.

Tiến hành đo đạc diện rừng than hóa của ông Nguyễn Thế T2 thấy các điểm có tọa độ cụ thể: Điểm phía Bắc có tọa độ E00417480; N02347782. Điểm phía T có tọa độ E00417367; N02347809. Điểm phía Tây có tọa độ E00417062; N02347560. Điểm phía Nam có tọa độ E00417072; N02347523. Điểm phía Đông Nam có tọa độ E00417141; N02347364. Điểm phía Đông có tọa độ E00417401; N02347485. Điểm phía Tây Nam có tọa độ E00417456; N02347474. Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra có thu mẫu sản phẩm cháy tại vị trí 1, 2,3,4,5 và niêm phong.

Ngày 01/11/2022, Công an thành phố B tạm giữ của Trần Thế Đ 01 chiếc bật lửa (loại bật lửa điện) có màu trắng, bên trên có dán hình quả táo màu xanh, hình chiếc điện thoại và dòng chữ PINGUOS; tạm giữ của Lô Văn T1 01 bật lửa bằng nhựa màu đỏ và tạm giữ của Hoàng Văn V 01 bật lửa bằng nhựa màu trắng. Đây là những chiếc bật lửa mà Đ, T1, V dùng đốt thảm thực bì. Đối với chiếc bật lửa mà Nguyễn Gia T sử dụng đốt do bị rơi mất nên không thu giữ được.

Ngày 27/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B cùng Hạt Kiểm lâm thành phố B - L, UBND xã Đ, ông Nguyễn Thế T2 và những người liên quan tiến hành kiểm kê, xác định thiệt hại tại khu trồng rừng của ông T2 ở thôn P, xã Đ xác định:

  1. Diện tích rừng bị cháy: 7,6 ha, loại rừng sản xuất
  2. Số cây Keo bị thiệt hại gồm:
    • + 2006 cây keo có đường kính D1.3 < 5cm
    • + 1565 cây keo có đường kính D1.3 từ 5 -10cm
    • + 424 cây keo có đường kính D1.3 từ trên 10 - 13cm
    • + 861 cây keo có đường kính D1.3 từ trên 13 -20cm
    • + 188 cây keo có đường kính D1.3 từ trên 20 -50cm
  3. Số cây T7 bị thiệt hại gồm:
    • + 119 cây thông có đường kính D1.3 < 5cm
    • + 114 cây thông có đường kính D1.3 từ 5 -10cm
    • + 105 cây thông có đường kính D1.3 từ trên 10 - 13cm
    • + 69 cây thông có đường kính D1.3 từ trên 13 - 20cm
    • + 474 cây thông có đường kính D1.3 từ trên 20 -50cm
  4. Số cây Bạch đàn bị thiệt hại gồm:
    • + 02 cây bạch đàn có đường kính D1.3 < 5cm
    • + 300 cây bạch đàn có đường kính D1.3 từ 5 -10cm
    • + 04 cây bạch đàn có đường kính D1.3 từ trên 10 - 13cm
    • + 04 cây bạch đàn có đường kính D1.3 từ trên 20 -50cm
  5. Số C bị thiệt hại gồm:
    33 cây vải có đường kính tán 1,2m.

Cơ quan điều tra đã yêu cầu định giá tài sản đối với thiệt hại của vụ cháy rừng. Kết luận định giá tài sản số 24/KL-HĐĐG ngày 14/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B kết luận:

  • - 2006 cây keo có đường kính D1.3 < 5cm có chiều cao 1m-2m, có trị giá tại thời điểm ngày 01/11/2022 là 24.000 đồng/1 cây x 2006 cây = 48.144.000 đồng.
  • - 1565 cây keo có đường kính D1.3 từ 5 - 10cm, có trị giá tại thời điểm ngày 01/11/2022 là 109.000 đồng/1 cây x 1565 cây = 170.585.000 đồng.
  • - 424 cây keo có đường kính D1.3 từ trên 10 - 13cm, có trị giá tại thời điểm ngày 01/11/2022 là 118.000 đồng/1 cây x 424 cây = 50.032.000 đồng.
  • - 861 cây keo có đường kính D1.3 từ trên 13 -20cm, có trị giá tại thời điểm ngày 01/11/2022 là 154.000 đồng/1 cây x 861 cây = 132.594.000 đồng.
  • - 188 cây keo có đường kính D1.3 từ trên 20 -50cm, có trị giá tại thời điểm ngày 01/11/2022 là 392.024 đồng/1 cây x 188 cây = 73.701.000 đồng.
  • - 119 cây thông có đường kính D1.3 < 5cm, có chiều cao 1m – 2m, trị giá tại thời điểm ngày 01/11/2022 là 24.000 đồng/1 cây x 119 cây = 2.856.000 đồng.
  • - 114 cây thông có đường kính D1.3 từ 5-10cm, có trị giá tại thời điểm ngày 01/11/2022 là 109.000đồng/1 cây x 114 cây = 12.426.000 đồng.
  • - 105 cây thông có đường kính D1.3 từ trên 10 - 13cm, có trị giá tại thời điểm ngày 01/11/2022 là 118.000đồng/1 cây x 105 cây = 12.390.000 đồng.
  • - 69 cây thông có đường kính D1.3 từ trên 13 - 20cm, có trị giá tại thời điểm ngày 01/11/2022 là 154.000 đồng/1 cây x 69 cây = 10.626.000 đồng.
  • - 474 cây thông có đường kính D1.3 từ trên 20 - 50cm, có trị giá tại thời điểm ngày 01/11/2022 là 392.024 đồng/1 cây x 474 cây = 185.819.000 đồng.
  • - 02 cây bạch đàn có đường kính D1.3 < 5cm, có chiều cao 1m – 2m, có trị giá tại thời điểm ngày 01/11/2022 là 24.000đồng/1 cây x 2 cây = 48.000 đồng.
  • - 300 cây bạch đàn có đường kính D1.3 từ 5 -10cm, có trị giá tại thời điểm ngày 01/11/2022 là 109.000đồng/1 cây x 300 cây = 32.700.000 đồng.
  • - 04 cây bạch đàn có đường kính D1.3 từ trên 10 - 13cm, có trị giá tại thời điểm ngày 01/11/2022 là 118.000đồng/1 cây x 4 cây = 472.000 đồng.
  • - 04 cây bạch đàn có đường kính D1.3 từ trên 20 -50cm, có trị giá tại thời điểm ngày 01/11/2022 là 392.024đồng/1 cây x 4 cây = 1.568.000 đồng.
  • - 33 cây vải có đường kính tán 1,2m, có trị giá tại thời điểm ngày 01/11/2022 là 396.000 đồng/1 cây x 33 cây = 13.068.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 747.029.000 đồng.

Quá trình điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra làm rõ sau một thời gian thì có một số cây tại khu rừng bị cháy của ông Nguyễn Thế T2 vẫn còn sống và tiếp tục sinh trưởng, cụ thể như sau:

Ông Nguyễn Thế T2 và ông Dương Ngô L là người trông coi rừng cho ông T2 quan sát bản ảnh khám nghiệm hiện trường do Công an thành phố B lập ngày 03/11/2022 xác định: Toàn bộ những phần cháy đen trụi bám than tro là những khu vực cây nhỏ có chiều cao từ 01m đến 10m và hình ảnh có những cây bị táp lá, xám đen ở gốc có mức độ khác nhau được kiểm đếm ban đầu xác định thiệt hại 100%. Khoảng 6 tháng sau thì những cây có kích thước lớn như cây thông và cây keo vẫn sinh trưởng và phục hồi lại. Tháng 6/2023, ông T2 và anh L đã bán số cây trong khu rừng bị cháy cho anh Phùng Văn Đ1, sinh năm 1975, trú tại thôn B, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang được 240.000.000 đồng (khoảng 900 cây keo có đường kích khoảng 13 đến 25 cm chỉ bị ảnh hưởng xám lá, đen gốc vẫn phục hồi và sinh trưởng; số cây thông có đường kính từ 20 đến 25 cm thì có khoảng 200 cây vẫn sinh trưởng). Ngoài ra, ông T2 và ông L đã bớt lại khoảng 290 cây thông có đường kính từ 13 đến 25 cm hiện nay vẫn còn sống tại khu rừng này. Toàn bộ số cây Bạch đàn được trồng sườn đường băng cản lửa chỉ bị táp lá, hiện nay vẫn còn sống và phát triển bình thường.

Ngày 22/07/2024, Cơ quan điều tra đã phối hợp Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, chính quyền địa phương, người bị hại và người liên quan kiểm tra thực tế toàn bộ khu rừng của ông Nguyễn Thế T2 để kiểm đếm những cây hiện còn sống và phát triển sau khi vụ cháy xảy ra. Kết quả xác định: Tổng số cây bạch đàn còn sống có kích thước khác nhau là 493 cây và tổng số cây thông còn sống có kích thước từ 20 - 21cm là 283 cây.

Anh Phùng Văn Đ1 khai: Khoảng tháng 6/2023, anh Đ1 đã gặp ông L để thỏa thuận mua cây trong khu vực rừng bị cháy của ông T2 có diện tích khoảng 6 hét ta, bao gồm cả cây sống và cây chết, tổng số tiền là 240.000.000 đồng. Anh Đ1 xác nhận những cây có chiều cao từ 01m đến 10 m bị cháy trụi hoàn toàn không có giá trị. Nhưng có khoảng 800 cây keo và 220 cây thông có đường kính từ 20 đến 22cm đã phục hồi và sinh trưởng vì những cây này đều to và cao chỉ bị cháy xám dưới gốc mức độ khác nhau.

Kết quả điều tra bổ sung xác định toàn bộ số cây bạch đàn của khu rừng không bị chết và đã phục hồi hoàn toàn; các cây thông có đường kính trên 13cm trở lên và cây keo có đường kính từ trên 13cm trở lên đều không bị chết và phục hồi lại. Do vậy, xác định số cây bị chết do bị cháy vào ngày 01/11/2022 gồm:

  • - 2.006 cây keo có đường kính D1.3 < 5cm, cây có chiều cao ≥ 1m – 2m.
  • - 1.565 cây keo có đường kính D1.3 từ 5 -10cm.
  • - 424 cây keo có đường kính D1.3 từ trên 10 - 13cm.
  • - 119 cây thông có đường kính D1.3 < 5cm, cây có chiều cao ≥ 1m – 2m.
  • - 114 cây thông có đường kính D1.3 từ 5 -10cm.
  • - 105 cây thông có đường kính D1.3 từ trên 10 - 13cm.
  • - 33 cây vải thiều có đường kính tán lá 1,2m.

Ngày 10/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra yêu cầu định giá tài sản sau khi trừ đi số cây đã phục hồi lại.

Kết luận định giá tài sản số 237/KL-HĐ ngày 13/09/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố B kết luận:

  • - 2.006 cây keo có đường kính D1,3 < 5cm, cây có chiều cao ≥ 1m – 2m; có giá trị tại thời điểm 01/11/2022 là 50.150.000 đồng.
  • - 1.565 cây keo có đường kính D1,3 từ 5 -10cm; có giá trị tại thời điểm 01/11/2022 là 184.670.000 đồng.
  • - 424 cây keo có đường kính D1,3 từ trên 10 - 13cm; có giá trị tại thời điểm 01/11/2022 là 52.152.000 đồng.
  • - 119 cây thông có đường kính D1,3 < 5cm, cây có chiều cao ≥ 1m – 2m; có giá trị tại thời điểm 01/11/2022 là 3.213.000 đồng.
  • - 114 cây thông có đường kính D1,3 từ 5-10cm; có giá trị tại thời điểm 01/11/2022 là 13.452.000 đồng.
  • - 105 cây thông có đường kính D1,3 từ trên 10 - 13cm; có giá trị tại thời điểm 01/11/2022 là 12.915.000 đồng.
  • - 33 cây vải thiều có đường kính tán lá 1,2m; có giá trị tại thời điểm 01/11/2022 là 13.068.000 đồng.

Tổng giá trị thiệt hại: 329.620.000 đồng (Ba trăm hai mươi chín triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trưng cầu giám định sản phẩm cháy; điểm xuất phát cháy và nguyên nhân cháy rừng.

Kết luận giám định số 8158/KL-KTHS ngày 09/12/2022 của V5 Bộ C3 kết luận: Trên các mẫu vật gửi giám định đều không tìm thấy dấu vết của xăng dầu hay dung môi dễ cháy.

Kết luận giám định số 196/KL-KTHS ngày 06/2/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

  • - Điểm xuất phát cháy tại khu vực vị trí phát hiện sản phẩm than hóa, tàn trắng ký hiệu vị trí số (1, 2, 3, 4, 5, 6). Sau đó lan tỏa ra xung quanh là phù hợp.
  • - Nguyên nhân xảy ra cháy: Do tác động của con người.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã đề nghị Chi cục Kiểm lâm B giải thích loại rừng bị cháy và dự báo cháy rừng ở khu vực thành phố B vào ngày 01/11/2022. Chi cục B có văn bản số 55/KL-QLBVR ngày 08/02/2023 trả lời: Khu rừng bị cháy thuộc diện tích quy hoạch rừng sản xuất; ngày 01/11/2022 cấp dự báo cháy rừng ở khu vực thành phố B thuộc cấp III (cấp cao).

Ngày 01/11/2022, Công an thành phố B kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung A73 lắp sim số 0976.401.182 của ông Lê Thanh V1 xác định buổi sáng ngày 01/11/2022 có các cuộc gọi liên lạc với Nguyễn Văn C bằng điện thoại và 3 cuộc gọi Zalo do C gọi đến; cuộc gọi đi đến số điện thoại của ông Trần Văn N; cuộc gọi đến từ số 0838.224.626 do C mượn điện thoại của H gọi.

Ngày 22/8/2023, Cơ quan điều tra đã cho các bị cáo Trần Thế Đ, Nguyễn Gia T, Hoàng Văn V, Lô Văn T1, Nguyễn Văn C và anh Vũ Ngọc H thực nghiệm điều tra tại hiện trường theo lời khai các bị cáo. Kết quả:

Thực nghiệm theo lời khai của các bị cáo Đ, T, V, T1 và anh Vũ Ngọc H xác định: Thăng đứng ở vị trí tọa độ E00417515, N02347792; Vụ đứng cách 3,1m; T1 đứng cách 3m; Đ đứng cách 4m về hướng Tây. Bốn người gồm T, V, T1, Đ cầm bật lửa trên tay phải ngồi xuống và châm lửa đốt. Tại vị trí C gọi xong điện thoại thì mọi người xung quanh đều nghe thấy tiếng C nói “đốt đi”.

Thực nghiệm theo lời khai của bị cáo Nguyễn Văn C. Kết quả C nhìn thấy Đ, T, V, T1 và anh Vũ Ngọc H đều cầm bật lửa và châm lửa đốt.

Thực nghiệm theo lời khai của Trần Thế Đ: Tại vị trí Đ đứng cách Cương 05m và hỏi được đốt chưa và C trả lời được đốt rồi thì Đ, C, T1 đều nghe rõ nội dung trao đổi.

Ngày 04/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã cho các bị cáo Trần Thế Đ, Lô Văn T1, Hoàng Văn V, Nguyễn Gia T xác định vị trí các bị cáo châm lửa đốt thảm thực bì dẫn đến vụ cháy rừng, kết quả:

Các bị cáo xác định vị trí đốt của từng người từ dưới lên trên (hướng từ Đông sang T) lần lượt là bị cáo T đốt ở vị trí số 1, có tọa độ là E00417515, N02347792; bị cáo Vụ đốt ở vị trí số 2, có tọa độ là E00417512, N02347792; bị cáo T1 đốt ở vị trí số 3, có tọa độ là E00417510, N02347795; bị cáo Đức đốt ở vị trí số 4 có tọa độ là E00417505, N02347792.

Vị trí số 5 có tọa độ là E00417501, N02347791. Theo các bị cáo khai đây là vị trí là tầng thực bì trên cùng là vị trí đốt thực bì vào ngày 23/10/2023 sau đó bị cơ quan chức năng yêu cầu dừng lại.

Trong quá trình điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn C trên bản tự khai đề ngày 01/11/2022 và trên Biên bản ghi lời khai đề ngày 01/11/2022.

Kết luận giám định số 2100/KL-KTHS ngày 30/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2-trừ chữ viết có nội dung “1-11-2022” và chữ ký, chữ viết mang tên Hà Văn L1 tại mục ngày, tháng, năm-Cán bộ tiếp nhận”); chữ ký, chữ viết có nội dung “C-Nguyễn Văn C dưới mục “Người khai” và chữ ký có nội dung “Cương” tại cuối các trang giấy trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A3, A4) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn C trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M7) là do cùng một người ký, viết ra.

Tại bản cáo trạng số 218/CT - VKS ngày 16/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố các bị cáo Trần Thế Đ, Nguyễn Gia T, Lô Văn T1, Hoàng Văn V và Nguyễn Văn C ra trước Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang để xét xử các bị cáo về tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 313 Bộ luật Hình sự;

Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 246/2024/HSST ngày 02/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 313; điểm b khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn C 02 (hai) năm 3 (ba) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 01/3/2023.

Ngoài ra, bản án còn tuyên hình phạt 4 bị cáo khác là Trần Thế Đ, Nguyễn Gia T, Hoàng Văn V, Lô Văn T1, trả tự do các bị cáo trên tại phiên toà; về xử lý vật chứng; án phí; quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 09/12/2024, bị cáo Nguyễn Văn C kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét toàn bộ vụ án, tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù là oan sai, vụ án còn nhiều tình tiết mà Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét, chưa đảm bảo quyền lợi cho bị cáo.

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn C thay đổi nội dung kháng cáo và trình bày: bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật nên bị cáo không kháng cáo kêu oan nữa, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo đã nhận thức, năn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tác động tới gia đình hỗ trợ, bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Xuân C1 được tặng thưởng huân chương, là thương binh loại A nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại là ông Nguyễn Thế T2 trình bày: tại phiên toà phúc thẩm bị cáo C đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối hận vì gây ra thiệt hại cho gia đình ông nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về gia đình và xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Án sơ thẩm xử bị cáo là đúng người đúng tội và không oan. Cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù là có căn cứ. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn C. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 246/2024/HSST ngày 02/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 313; điểm b khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn C 02 (hai) năm 01 (một) tháng 01 (một) ngày tù về tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 01/3/2023. Do thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam nên đề nghị trả tự do cho bị cáo tại phiên toà nếu bị cáo không bị tạm giam về tội khác.

Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

* Người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm tranh luận: đề nghị huỷ bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang để điều tra lại vì những tài liệu có trong hồ sơ có những mâu thuẫn nhưng chưa được làm rõ. Theo nguyên tắc suy đoán vô tội. Đề nghị làm rõ những kiến nghị của luật sư đối với khiếu nại điều tra viên chưa giải quyết được. Việc trả lời những khiếu nại của Luật sư là rất chiếu lệ và không có căn cứ. Toà cấp sơ thẩm có dấu hiệu sai trái khi nhận định trong bản án về hành vi của bị cáo, việc toà cấp sơ thẩm cho rằng anh C khai báo không thành khẩn là không đúng.

Việc bỏ lọt tội phạm đối với ông Nguyễn Thanh V3, những cuộc gọi trong điện thoại là phù hợp với những lời khai của các bị cáo C, Đ, T, Vụ. Toà sơ thẩm không đánh giá được tính hợp pháp và tính có căn cứ của các dữ liệu điện tử. Hội đồng định giá vi phạm quy định tại Điều 98 Bộ luật tố tụng hình sự, khi thực hiện kiểm đếm sai tài sản dẫn đến thay đổi giá trị thiệt hại, đề nghị phải khởi tố đối với Điều tra viên, Kiểm sát viên. Chưa làm rõ hành vi gợi ý nhận hối lộ của Điều tra viên Mạc Văn M.

Đề nghị huỷ bản án sơ thẩm vì: Toà cấp sơ thẩm không áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm; bản án sơ thẩm không phù hợp với diễn biến phiên toà và diễn biến hành vi của bị cáo; toàn bộ hồ sơ vụ án khi thay đổi Điều tra viên vẫn dùng các tài liệu chứng cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 258 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên huỷ bản án sơ thẩm. Trả tự do cho bị cáo tại phiên toà.

Bị cáo C tranh luận: Bị cáo nhất trí với Đại diện viện kiểm sát về tội danh và hình phạt. Không nhất trí với bài bào chữa của Luật sư. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát đối đáp, giữ nguyên quan điểm đề nghị.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Văn C: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo được làm trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên xác định là đơn kháng cáo hợp pháp, được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi của bị cáo:

[3] Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, phiên tòa xét xử sơ thẩm, các bị cáo Trần Thế Đ, Nguyễn Gia T, Hoàng Văn V, Lô Văn T1 đều đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, phù hợp với các tài liệu, chứng có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên toà sơ thẩm bị cáo C không thừa nhận hành vi phạm tội.

[4] Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn C đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và khai nhận bị cáo có hành vi “vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy”. Bị cáo thừa nhận sau khi điện thoại cho anh V3 cán bộ kiểm lâm thì bị cáo bảo mọi người “đốt đi”. Bị cáo xác nhận án sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và không oan. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[5] Căn cứ lời khai của bị cáo C tại phiên toà phúc thẩm, lời khai của các bị cáo khác, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định; các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Tháng 10/2022, Trần Thế Đ được ông Vũ Công T3 thuê dọn thảm thực bì tại khoảnh rừng ở thôn P, xã Đ, thành phố B. Đ bàn với Hoàng Văn V, Lô Văn T1, Nguyễn Văn C, Vũ Ngọc H cùng nhau dọn, đốt thảm thực bì. Ngày 23/10/2022, Đ, V, C, T1 và H đến khu rừng của ông T3 đốt thảm thực bì thì bị ông Lê Thanh V1 cán bộ Hạt kiểm lâm thành phố B – L lập biên bản vi phạm hành chính và yêu cầu không được đốt do vi phạm quy định về sử dụng lửa khi đốt thực bì.

[6] Buổi sáng ngày 01/11/2022, Đ, C, V, T1, H và Nguyễn Gia T tiếp tục đến khoảnh rừng của ông T3 để dọn đốt thực bì. C gọi điện thoại cho ông T3 thì ông T3 bảo C chủ động gọi cho ông Lê Thanh V1 để hỏi, nếu kiểm lâm cho đốt thì mới được đốt. Cương điện thoại cho ông V1 hỏi thì ông V1 trả lời phải báo cáo xin ý kiến lãnh đạo. Do vậy, C bảo mọi người ngồi chờ. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, C tiếp tục gọi điện cho ông V1 hỏi. Sau khi gọi điện thoại xong, C bảo mọi người “Đốt đi”. Đ hỏi lại thì C nói “được rồi đốt đi”. Sau khi C bảo đốt thì Đ, T1, V và T lấy bật lửa trực tiếp đốt thực bì. Do không thực hiện đầy đủ các quy định về phòng cháy, chữa cháy nên làm lửa cháy lan sang khoảnh rừng bên cạnh (loại rừng sản xuất trồng cây keo, thông, bạch đàn, vải) của ông Nguyễn Thế T2 gây thiệt hại trị giá là 329.620.000 đồng.

[7] Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy” theo điểm d khoản 1 Điều 313 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và không oan.

[8] Về vai trò của bị cáo: Mục đích của các bị cáo là đi đến đốt thảm thực bì thuê cho nhà ông T3, bị cáo C là người có trách nhiệm gọi điện, liên hệ với kiêm lâm để được đốt hay không. Khi bị cáo C liên hệ với kiểm lâm xong là người bảo Đ, T1, Vụ, T được đốt thảm thực bì khu rừng nhà ông T3. Cả 5 bị cáo đều thừa nhận không chuẩn bị công tác phòng cháy, chữa cháy dẫn đến lửa cháy to, cháy lan sang khu rừng là ông T2. Các bị cáo Đ, T1, T, V đều thừa nhận nếu bị cáo C không bảo đốt thì sẽ không đốt, cho nên bị cáo C có vai trò cao hơn các bị cáo khác.

[9] Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo: tại phiên toà bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo nhận thức được hành vi của mình, không kêu oan nữa mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

[10] Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[11] Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[12] Về tình tiết giảm nhẹ hình phạt: bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên bị cáo không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại điểm điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo cùng các bị cáo khác đã bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả, bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng huân huy chương nên bị cáo được hưởng các quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Toà cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ nêu trên đối với bị cáo C là có căn cứ.

[13] Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố đẻ bị cáo là thương binh thương binh hạng 3. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thẩm cần áp dụng cho bị cáo tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử Giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt như đề nghị của Đại diện viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Việc bố đẻ bị cáo có Huân chương đã được Toà cấp sơ thẩm áp dụng nên tại cấp phúc thẩm không áp dụng tình tiết này.

[14] Do bị cáo đang bị tạm giam, thời hạn tù bằng thời hạn bị cáo đã bị tạm giam nên căn cứ khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự, trả tự do cho bị cáo tại phiên toà nếu bị cáo không bị tạm giam về tội khác.

[15] Đối với việc người bào chữa cho bị cáo cho rằng cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng tố tụng và đề nghị huỷ bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, không có căn cứ xác định án sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của Luật sư.

[16] Đối với đề nghị của Luật sư cho rằng bỏ lọt hành vi của Nguyễn Văn V4: các bị cáo C, T1, T, V không có mâu thuẫn gì với anh Lê Thanh V1 - Cán bộ kiểm lâm. Ngay từ lời khai ban đầu tại Công an xã Đ vào ngày xảy ra cháy rừng 01/11/2022 và tại Cơ quan Điều tra đều thể hiện các bị cáo có nghe thấy anh V1 nói "thôi được rồi, đốt đi" do anh C có bật điện thoại để loa ngoài. Tuy nhiên, quá trình điều tra không xác định được người nói “thôi được rồi, đốt đi” ở đầu dây bên kia có phải do anh V1 nói không, anh V1 không thừa nhận việc nói với C như vậy qua điện thoại.

Ngày 30/5/2024, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã trả hồ sơ Điều tra bổ sung, có yêu cầu Điều tra làm rõ hành vi của anh Lê Thanh V1, sinh năm 1982, địa chỉ: P, tầng A, chung cư Q, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang để xem xét trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, tuy nhiên đến nay Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm chưa đủ cơ sở để xử lý anh V1 về hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, Toà cấp sơ thẩm kiến nghị là có căn cứ. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiếp tục kiến nghị Cơ quan Cảnh sát Điều tra, Viện kiểm sát xem xét đối với hành vi của anh Lê Thanh V1.

[17] Đối với việc luật sư kiến nghị chuyển Cơ quan điều tra Viện kiểm sát Tối cao xem xét về hành vi của Điều tra viên Mạc Văn M về hành vi làm sai lệch hồ sơ, nhiều lần, cũng đã gửi đơn cho cơ điều tra Viện kiểm sát tối cao và đã được chuyển đơn về Công an tỉnh B đã giải quyết trả lời khiếu nại, cáo theo thẩm quyền, đều được trả lời quá trình điều tra đảm bảo đúng quy định pháp luật. Do vậy, không có căn cứ để chuyển hồ sơ lên Cơ quan điều tra Viện kiểm sát Tối cao theo đề nghị của luật sư.

[18]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[19]. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn C, sửa bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

[20]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn C. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 246/2024/HSST ngày 02/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

  • - Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 313; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
  • Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn C 02 (hai) năm 01 (một) tháng 01 (một) ngày tù về tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 01/3/2023.

2. Căn cứ khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự. Trả tự do cho bị cáo tại phiên toà, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội khác.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ- Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - TAND thành phố Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS thành phố Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Bị cáo; Người bào chữa; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HSPT ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy

  • Số bản án: 46/2025/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: gày 02/4/2025 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 10/TLPT-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn C, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 246/2024/HSST ngày 02/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger