Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 46/HS-ST

Ngày: 01/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Luyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Tống Thị Kim Điền;
  2. Ông Huỳnh Công Nhân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chính Việt Phương - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thiện – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 4 năm 2025 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2025/HSST ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 03 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2025/HSST-QĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thành L, giới tính: N, sinh năm 2000 tại Tỉnh Quảng Ngãi; Nơi đăng ký thường trú: ấp P, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; Nơi cư trú: ấp P, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngã; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Quản lý nhà hàng; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Thành N1 và bà Vương Thị Kiều L1; Chưa có vợ, con; Tền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành L: Bà Huỳnh Ngọc H, sinh năm 1956 – Là luật sư Văn phòng Luật sư Huỳnh Ngọc H thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; Địa chỉ: Số A L, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn xin vắng mặt).

2. Họ và tên: Ngô Thị Thúy H1, giới tính: Nữ, sinh năm 2005 tại Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi đăng ký thường trú: Số F Đ, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Bịa - Vũng Tàu; Nơi cư trú: P, nhà số F H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Ngô Sỹ T và bà Nguyễn Thị Như H2; Chưa có chồng, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Ngô Thị Thúy H1: Ông Trần Viết H3, sinh năm 1990 – Là luật sư Công ty L4 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; Địa chỉ: Số A - A N, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt)

3. Họ và tên: Hà Thị Thu N2, giới tính: Nữ, sinh năm 2003 tại Tỉnh Đắk Nông; Nơi đăng ký thường trú Thôn C, xã Đ, huyện C, tỉnh Đắk Nông; Nơi cư trú: P, nhà số F H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Hà Văn C và bà Lang Thị M; Chưa có chồng, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thùy L2, sinh năm 2003; Địa chỉ: Thôn N, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; Chỗ ở: Chung cư G, N, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Thị Thúy H1 và Hà Thị Thu N2 cùng ở thuê tại P, nhà số F H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh của bà Nguyễn Thị Thùy L2. H1 là người đứng tên trên hợp đồng thuê phòng, N2 là người hàng tháng phụ trách trả tiền thuê cho chủ nhà theo hình thức chuyển khoản, tiền thuê phòng 5.000.000 đồng/tháng sẽ được chia đều cho H1 và N2. Nguyễn Thành L quen biết Hà Thị Thu N2, thông qua N2 thì L biết H1. L thường đến phòng trọ của H1 và Ngọc C1.

Khoảng 01 giờ 45 phút ngày 07/6/2024, tại phòng trọ nêu trên, Nguyễn Thành L bàn bạc với Hà Thị Thu N2 và Ngô Thị Thúy H1 mua ma túy về để cùng sử dụng tại phòng trọ. Cả ba người thống nhất đồng ý. L dùng tài khoản Zalo tên “Nguyễn Thành L” truy cập vào ứng dụng Zalo tìm người bán ma túy. Lưu tìm được tài khoản Z tên “Diin” bán ma túy (không rõ nhân thân lai lịch) và đặt mua 01 gói ma túy Ketamine với giá tiền là 1.300.000 đồng. Tiền mua ma túy do L bỏ ra mua, H1 và N2 không góp tiền.

Đến khoảng 02 giờ 00 phút ngày 07/6/2024, tài khoản Zalo tên “Diin” gọi điện cho L xuống trước nhà trọ gặp người thanh niên mặc trang phục xe ôm công nghệ để lấy ma túy. L cùng N2 xuống nhận ma túy (vì nhà trọ sử dụng hệ thống khóa cửa vân tay, chỉ những người thuê trọ mới có mã vân tay để mở khóa). N2 mở cổng nhà trọ cho L bước ra trước nhà để nhận ma túy được cất giấu trong hộp giấy và trả tiền mặt cho người giao. L cùng N2 đem ma túy lên phòng trọ. L lấy tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn, lấy đĩa sứ màu trắng trên kệ bếp, thẻ nhựa ngân hàng màu xanh của L và bắt đầu dùng hộp quẹt nấu ma túy. Sau khi nấu xong, L, H1 và N2 luân phiên cùng nhau sử dụng ma túy, bằng cách dùng ống hút được cuộn tròn bằng tờ tiền 10.000 đồng để hít. Đến 16 giờ 30 phút ngày 07/6/2024, L, H1, N2 bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Q phối hợp cùng Công an phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Thu giữ trên ngăn kệ gỗ trong Phòng 504: 01 đĩa sứ màu trắng có dính chất bột, 01 thẻ nhựa màu xanh có dính chất bột, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn có dính chất bột, 01 loa màu đỏ có chữ JBL và 01 đèn màu đen.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với Nguyễn Thành L, Ngô Thị Thúy H1 và Hà Thị Thu N2 đều dương tính với chất ma túy trong cơ thể.

Cơ quan cảnh sát điều tra ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 522/LKX - ĐCSMT ngày 08/6/2024 đối với chổ ở của H1 tại P, nhà số F H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả không thu giữ đồ vật gì.

Kết luận giám định số 6996/KL-KTHS ngày 14/6/2024 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận:

Bột được ký hiệu m1 (bột dính trên đĩa sứ màu trắng) cần giám định không xác định được khối lượng, tìm thấy Ketamine ở dạng vết; bột được ký hiệu m2 (bột dính trên thẻ nhựa màu xanh) cần giám định không xác định được khối lượng, tìm thấy Ketamine ở dạng vết; bột được ký hiệu m3 (bột dính trên 01 tờ tiền mệnh giá 10000 VNĐ) được cuộn tròn cần giám định không xác định được khối lượng, tìm thấy Ketamine ở dạng vết.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Nguyễn Thành L, Ngô Thị Thúy H1 và Hà Thị Thu N2 khai nhận hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như nêu trên. Ngoài ra, L, H1 và N2 còn khai nhận trước đó đã cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại P, nhà số F H, phường T, Quận G được 03 lần, cụ thể như sau:

  • - Vào ngày 21/5/2024, Nguyễn Thành L liên lạc đối tượng Phạm Hồng T1 đặt mua 01 gói ma túy Ketamine với giá 1.000.000 đồng. L bỏ ra số tiền 400.000 đồng, H1 và N2 mỗi người góp tiền mặt cho L số tiền là 300.000 đồng.
  • - Vào ngày 28/5/2024, L tiếp tục liên lạc cho Phạm Hồng T1 mua 01 gói ma túy Ketamine, 01 viên thuốc lắc với giá 2.350.000 đồng. Tiền mua ma túy do L bỏ ra, H1 và N2 không góp tiền.
  • - Vào ngày 04/6/2024, L tiếp tục liên lạc cho Phạm Hồng T1 mua 01 gói ma túy Ketamine với giá 2.000.000 đồng. Tiền mua ma túy do L bỏ ra, H1 và N2 không góp tiền.

Trong các lần mua ma túy của Phạm Hồng T1, L sử dụng tài khoản Zalo tên “Nguyễn Thành L” liên lạc tài khoản Zalo của T1 tên “Nam” để hỏi mua ma túy. Sau khi thống nhất số lượng và giá cả, T1 đặt xe ôm công nghệ đến giao ma túy cho L, tại trước nhà trọ số F H, phường T, Quận G. Trong các lần T1 giao ma túy thì vào ngày 21/5/2024 người nhận ma túy là H1, các lần còn lại N2 mở cửa nhà trọ cho L, L là người nhận ma túy. L sử dụng tài khoản số 1020960340 ngân hàng V tên Nguyễn Thành Lưu chuyển K cho tài khoản số 12566317 ngân hàng A tên Phạm Hồng T1 để trả tiền mua ma túy. Các lần mua ma túy của T1 nêu trên, L, H1 và N2 cùng nhau sử dụng chung tại P, nhà số F H, phường T, Quận G với cách thức sử dụng tương tự với lần bị bắt ngày 07/6/2024 là: sau khi nhận ma túy mang lên phòng, thì L sẽ là người lấy tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn, lấy đĩa sứ màu trắng trên kệ bếp, thẻ nhựa ngân hàng màu xanh của L và bắt đầu dùng hộp quẹt nấu ma túy. Sau khi nấu xong, L, H1 và N2 luân phiên cùng nhau sử dụng ma túy, bằng cách dùng ống hút được cuộn tròn bằng tờ tiền 10.000 đồng để hít.

Vật chứng vụ án:

  • + 01 (Một) đĩa sứ màu trắng có dính chất bột, 01 (một) thẻ nhựa màu xanh có dính chất bột, 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn có dính chất bột, được bỏ vào gói niêm phong; bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thành L và hình dấu Công an phường T, Quận G.
  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu đen, số thuê bao: 0967986076, số IMEI: 352794273644452 (thu giữ của Nguyễn Thành L).
  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu vàng, số thuê bao: 0344918958, số IMEI: 352855112767448 (thu giữ của Hà Thị Thu N2).
  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03, màu xanh, số thuê bao 1: 0389708717, số IMEI 1: 354076274325432, số IMEI 2: 354860824325434 (thu giữ của Ngô Thị Thúy H1).

Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKSQ7 ngày 16/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố các bị cáo Nguyễn Thành L, Ngô Thị Thúy H1 và Hà Thị Thu N2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm a, b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” và “đối với 02 người trở lên”.

Tại phiên tòa: các bị cáo L, H1 và N2 khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên xử các bị cáo Nguyễn Thành L, Ngô Thị Thúy H1 và Hà Thị Thu N2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điểm b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

  • - Áp dụng Điểm a, b Khoản 2 Điều 255; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L từ 08 (T2) năm đến 09 (Chín) năm tù; Xử phạt bị cáo Ngô Thị Thúy H1 từ 07 (B) năm 06 (Sáu) tháng đến 08 (T2) năm 06 (Sáu) tháng tù; Xử phạt bị cáo Hà Thị Thu N2 từ 07 (B) năm 06 (Sáu) tháng đến 08 (T2) năm 06 (S) tháng tù.
  • Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đề nghị bổ sung cáo trạng về vật chứng thu giữ có thêm 01 loa màu đỏ có chữ JBL và 01 đèn màu đen thu giữ của Nguyễn Thành L. Đề nghị Hồi đồng xét xử xử lý vật chứng:

  • - 01 (Một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên giám định viên Nguyễn Xuân S1 và cán bộ điều tra Đặng Hữu H4 là mẫu vật còn lại sau giám định, không có giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu đen, số thuê bao: 0967986076, số IMEI 1 : 3527942736444452, số IMEI 2: 352794273510307, bị bể mặt ình sau, đã qua sử dụng; 01 Loa màu đỏ có chữ JBL và 01 đèn màu đen thu giữ của Nguyễn Thành L. Liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.
  • - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, số IMEI 1: 352855112767448, số IMEI 2 : 352855112882031, màu vàng, số thuê bao: 0344818958 (đã qua sử dụng) thu giữ của Hà Thị Thu N2, không liên quan đến hành vi phạm tội đề nghị trả lại cho bị cáo N2.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh, số IMEI 1: 354076274325432, số IMEI 2: 35486082325434, số thuê bao: 0389708717, đã qua sử dụng, thu giữ của Ngô Thị Thúy H1, không liên quan đến hành vi phạm tội đề nghị trả lại cho bị cáo H1.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành L – Luật sư Huỳnh Ngọc H có đơn xin vắng mặt vì lý do sức khỏa và gửi bản luận cứ có nội dung:

Thống nhất với tội danh và điều khoản truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo Nguyễn Thành L.

Tuy nhiên, kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình đối với bị cáo nên có sự khoan hồng về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xem xét về hoàn cảnh của bị cáo L: từ quê nhà Quảng Ngãi vào thành phố Hồ Chí Minh đi làm thuê kiếm sống, không có sự hỗ trợ, dìu dắt của gia đình giữa sự phức tạp của xã hội bị cáo không đủ nhận thức, không hiểu biết về tính phức tạp của một thành phố đông dân cư, có nhiều cạm bẫy tiêu cực, nên bị cáo đã rơi vào con đường hút sách, nghiện ngập không lối thoát. Cũng may mắn cho bị cáo là hành vi phạm tội của bị cáo được cơ quan có thẩm quyền ngăn chặn kịp thời. Nếu không bị cáo còn sa và con đường phạm tội ngày càng nặng hơn. Quá tình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năng hối cải, lần đầu phạm tội, chưa có tiền án tiền sự, gia đình bị cáo có thành tích xuất sắc trong lao động sản xuất. Ông bà nội bị cáo được Nhà nước tặng danh hiệu gia đình vẻ vang đã có một con thoát ly tham gia kháng chiến. Bị cáo thuộc gia đình chính sách.

Kính đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo L với mức án khởi điểm của khung hình phạt là 07 (B) năm tù.

Người bào chữa cho bị cáo Ngô Thị Thúy H1 – Luật sư Trần Viết H3 trình bày:

Thống nhất với với tội danh, điều luật, tình tiết giảm nhẹ và hình phạt của đề nghị đại diện Viện Kiểm sát áp dụng cho bị cáo H1 nên không tranh luận gì thêm. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc khi nghị án về mức hình phạt cho bị cáo. Vì bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu. Gia đình có công với cách mạng có nhiều thành tích được khen thưởng. Bản thân ba của bị cáo là cựu sĩ quan hải quân phục vụ tại ngũ từ năm 1985 đến năm 2000 được đơn vị nhiều năm khen tặng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hiện tại sau khi xuất ngũ đang tiếp tục phục vụ hỗ trợ xây dựng tại đảo T. Nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm s Khoản 1 Điều 51, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và theo hướng dẫn tại Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của TANDTC giải đáp một số vướng mắc trong quá trình xét xử quy định những trường hợp cụ thể được áp dụng Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 hiện chưa được Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn cụ thể để khoan hồng cho bị cáo H1 được giảm nhẹ đáng kể mức hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người lầm đường lạc lối, tuổi đời của bị cáo còn khá trẻ, việc giảm nhẹ đáng kể mức hình phạt cho bị cáo cũng là một cơ hội cho bị cáo cố gắng cải tạo thật tốt để sớm có thể tái hòa nhập cộng đồng quay trở về nhà phụng dưỡng cha mẹ tuổi đã cao.

Đại diện Viện kiểm sát Quận G đối đáp tranh luận lại với ý kiến của các luật sư bào chữa:

Các Luật sư đều thống nhất về tội danh, điều khoản truy tố. Về các tính tiết giảm nhẹ mà các luật sư đưa ra cũng đều được Viện kiểm sát đề cập trong phần luận tội để đưa ra mức hình phạt tương xứng với từng bị cáo. Nên đại diện Viện kiểm sát không tranh luận gì thêm.

Người bào chữa cho bị cáo H1 và các bị cáo không tranh luận gì thêm.

Các bị cáo khai nhận hành vi của mình phù hợp với nội dung vụ án được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận và đã thể hiện sự ăn năn hối cải.

Bị cáo L nói lời sau cùng: Thời đi học bị cáo đã được học tập về phòng chống tác hại của ma túy, biết được tác hại của ma túy nhưng chỉ vì một phút nông nổi không kiềm chế được sự tò mò dẫn đến bị xử lý. Bị cáo rất ăn năn, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ để bị cáo lấy động lực cải tạo tốt làm lại cuộc đời, về với gia đình.

Bị cáo H1 nói lời sau cùng: Trong quá trình tạm giam, bị cáo thấy hành vi là sai trái, ảnh hưởng đến bản thân bị cáo, gia đình và xã hội xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ để bị cáo sớm trở về với gia đình, làm người tốt cho xã hội.

Bị cáo N2 nói lời sau cùng: Trong thời gian tạm giam vừa qua, bị cáo ý thức được hành vi của bị cáo là sai trái. Vì một phút nông nổi bị cáo tìm đến ma túy. Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ để bị cáo về với gia đình.

- Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

- Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa và của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của nhân chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: tại P, nhà số F H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, các bị cáo Nguyễn Thành L, Ngô Thị Thúy H1 và Hà Thị Thu N2 thống nhất cùng nhau sử dụng ma túy, chuẩn bị dụng cụ, H1 và N2 cung cấp địa điểm để cùng nhau 04 lần sử dụng ma tuý vào các ngày 21/5/2024, 28/5/2024, 04/6/2024 và 07/6/2024; các bị cáo thống nhất cùng nhau hùn tiền mua ma túy sử dụng trái phép vào ngày 21/5/2024 và ba lần còn lại vào các ngày 28/5/2024, 04/6/2024 và 07/6/2024 bị cáo L là người liên hệ mua ma túy, cung cấp ma túy cho bị cáo H1, N2 và bị cáo L cùng sử dụng trái phép thì bị lực lượng Công an bắt quả tang vào ngày 07/6/2024. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “phạm tội từ hai lần trở lên”, “đối với 02 người trở lên”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm a, b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Về hình phạt bổ sung: Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo Nguyễn Thành L, Ngô Thị Thúy H1 và Hà Thị Thu N2 là phù hợp, do đó không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[4] Vụ án thuộc trường hợp đồng phạm, trong đó: Bị cáo L là người khởi xướng việc mua ma túy về cùng nhau sử dụng, là người trực tiếp liên hệ mua ma túy, rủ rê N2 và H1 cùng sử dụng ma túy, phân công số tiền mỗi người góp mua ma túy vào ngày 21/5/2024, cung cấp ma túy vào các ngày 28/5/2024, 04/6/2024 và 07/6/2024 và chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy; Bị cáo N2, H1 cung cấp địa điểm, dụng cụ, tiếp nhận ý chí và đồng ý với L cùng nhau hùn tiền để mua ma túy sử dụng trái phép vào ngày 21/5/2024 và cung cấp địa điểm, dụng cụ, tiếp nhận ý chí và đồng ý với L cùng nhau 03 lần sử dụng trái phép ma túy do L cung cấp vào các ngày 28/5/2024, 04/6/2024 và 07/6/2024.

Các bị cáo là người trưởng thành, có nhân thân chưa bị kết án, nhận thức rõ được tác hại của ma túy, nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội nên cần phải xử lý các bị cáo bằng mức án nghiêm mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thành L, Ngô Thị Thúy H1 và Hà Thị Thu N2 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Do đó, cần cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Các bị cáo Nguyễn Thành L, Ngô Thị Thúy H1 và Hà Thị Thu N2 lần đầu phạm tội. Đối với bị cáo Nguyễn Thành L: qua hồ sơ vụ án và qua quá trình thẩm tra tại phiên tòa thể hiện bị cáo: có ông cố ngoại là ông Nguyễn T3, có bà cố ngoại là bà Cao Thị Đ được nhà nước tặng Bảng gia đình vẻ vang trong thời kỳ chống Mỹ Cữu Nước ngày 09/7/1981; có ba ruột là ông Nguyễn Thành N1 đã đóng góp với “sự phát triển Nông Nghiệp và nông thôn Việt Nam” được tặng kỷ niệm chương ngày 25/11/2014. Đối với bị cáo Ngô Thị Thúy H1 có ông nội là ông Ngô Sĩ B1 có thành tích xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được danh dự nhận huy chương kháng chiến hạng nhì, Giấy chứng nhận dân công hỏa tuyến; có chú là ông Ngô Sĩ B2 có thành tích xuất sắc người đã có thành tích xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và phục vụ trong lực lượng quân đội, được danh dự nhận huy chương chiến sĩ giải phóng hàng ba, Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhì, Bệnh binh 61% 47 năm tuổi Đảng; Có chú là ông Ngô Sĩ T4, người có thành tích xuất sắc người đã có thành tích xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được danh dự nhận huy chương kháng chiến hạng ba, Huân chương chiến sĩ Giải phóng hạng ba; Có cô ruột là bà Ngô Thị T5 có thành tích tham gia dân công chiến dịch Thượng Lào được nhà nước tặng thưởng huân chương; Có ba ruột là ông Ngô Sỹ T, là cựu sĩ quan hải quân phục vụ tại ngũ từ năm 1985 đến năm 2000 được đơn vị nhiều năm khen tặng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hiện tại sau khi xuất ngũ đang tiếp tục phục vụ hỗ trợ xây dựng tại đảo T. Đối với bị cáo Hà Thị Thu N2 xuất thân từ thành phần cơ bản, là người dân tộc, bị cáo phải vào Thành phố Hồ Chí Minh đi tìm việc khi tuổi đời mới 17 tuổi, còn quá nhỏ, tự lo cho bản thân, xa gia đình mặc dù đang ở độ tuổi đáng lẽ ra phải được đào tạo học nghề, học đại học để sau này có nghề nghiệp, tương lai vững chắc. Do đó, cần cho các bị cáo Nguyễn Thành L, Ngô Thị Thúy H1 và Hà Thị Thu N2 hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Vì vậy, lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 và các luật sư bào chữa tại phiên toà về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ là Đ1 s Khoản 1 Điều 51, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[6] Do bị cáo L có 02 tình tiết định tội, định khung quy định tại Điểm a, b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như phân tích tại mục [2], chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như phân tích tại mục [5] và căn cứ vào tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng bị cáo như nêu trên thì vai trò của bị cáo L trong vụ án đáng kể hơn các bị cáo còn lại là H1 và N2 như phân tích tại mục [4]. Do đó, khi quyết định hình phạt cần phải có sự phân hóa về trách nhiệm hình sự, mức hình phạt để phù hợp đối với từng bị cáo. Vì vậy, đối với lời đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo L xử phạt bị cáo với mức án khởi điểm của khung hình phạt là 07 (B) năm tù là chưa tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nên không có cơ sở chấp nhận.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 (Một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên giám định viên Nguyễn Xuân S1 và cán bộ điều tra Đặng Hữu H4 là mẫu vật còn lại sau giám định, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu đen, số thuê bao: 0967986076, số IMEI 1 : 3527942736444452, số IMEI 2 : 352794273510307, bị bể mặt hình sau, đã qua sử dụng; 01 Loa màu đỏ có chữ JBL và 01 đèn màu đen thu giữ của Nguyễn Thành L. Liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.
  • - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, số IMEI 1: 352855112767448, số IMEI 2 : 352855112882031, màu vàng, số thuê bao: 0344818958 (đã qua sử dụng) thu giữ của Hà Thị Thu N2, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo N2.
  • - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh, số IMEI 1: 354076274325432, số IMEI 2: 35486082325434, số thuê bao: 0389708717, đã qua sử dụng, thu giữ của Ngô Thị Thúy H1, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo H1.

[8] Đối với bà Nguyễn Thị Thùy L2 là chủ sở hữu phòng trọ cho các bị cáo thuê. Việc N2 và H1 thuê căn hộ để tổ chức trái phép chất ma túy bà L2 không biết. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q không xem xét xử lý là có căn cứ.

[9] Đối với Phạm Hồng T1, là người đã 03 lần bán ma túy cho Nguyễn Thành L. Hành vi của Phạm Hồng T1 cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Phạm Hồng T1 về tội Mua bán trái phép chất ma túy và xử lý trong vụ án khác, nên không xử lý trong vụ án này.

Đối với người thanh niên có tài khoản Zalo tên “Diin” đã bán ma túy cho Nguyễn Thành L vào ngày 07/6/2024, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiếp tục điều tra, xác minh, đủ căn cứ xử lý sau.

[10] Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điểm a, b Khoản 2 Điều 255; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Thành L 08 (T2) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày 07/6/2024.

- Căn cứ Điểm a, b Khoản 2 Điều 255; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt:

Bị cáo Ngô Thị Thúy H1 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày 07/6/2024.

- Căn cứ Điểm a, b Khoản 2 Điều 255; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt:

Bị cáo Hà Thị Thu N2 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày 07/6/2024.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021:

  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên giám định viên Nguyễn Xuân S1 và cán bộ điều tra Đặng Hữu H4 là mẫu vật còn lại sau giám định.
  • + Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (Một) loa màu đỏ có chữ JBL; 01 (Một) đèn màu đen và 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu đen, số thuê bao: 0967986076, số IMEI 1: 3527942736444452, số IMEI 2 : 352794273510307, bị bể mặt hình sau, đã qua sử dụng.
  • + Trả lại cho bị cáo Hà Thị Thu N2 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, số IMEI 1 : 352855112767448, số IMEI 2 : 352855112882031, màu vàng, số thuê bao: 0344818958 (đã qua sử dụng).
  • + Trả lại cho bị cáo Ngô Thị Thúy H1 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh, số IMEI 1: 354076274325432, số IMEI 2: 35486082325434, số thuê bao: 0389708717, đã qua sử dụng.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 036 ngày 09/01/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo Nguyễn Thành L, Ngô Thị Thúy H1, Hà Thị Thu N2 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

- Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

 

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Hà Thị L3

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/HS-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 46/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhânj
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger