trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

TỈNH HÒA BÌNH

Bản án số: 46/2025/HS-ST

Ngày 27-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Minh Thêu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Đạt

Bà Nguyễn Thị Mai Linh - Bí thư Đoàn TN phường Thái Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tuấn Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Tuấn S (tên gọi khác: không), sinh ngày 20 tháng 9 năm 2007 tại Hòa Bình.

HKTT: xóm Mon, xã Thịnh Minh, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Kim S1 (đã chết), con bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1989; Chưa có vợ con. Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/12/2024 đến ngày 28/12/2024, hiện được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

+ Đại diện hợp pháp của bị cáo: Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1989 (mẹ đẻ); trú tại: xóm M, xã T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

+ Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Hương G – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm TGPL Nhà nước tỉnh H. Có mặt.

- Bị hại:

  • + Anh Đinh Văn T, sinh năm 1995
  • + Ông Đinh Văn T1, sinh năm 1967
  • + Bà Đinh Thị N, sinh năm 1970
  • + Chị Đinh Thị Thu Q, sinh năm 2000

Đều trú tại: xóm M, xã H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

(Ông T2, bà N, chị Q ủy quyền cho anh T tham gia phiên tòa). Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Đại diện Đoàn Thanh niên xã T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.:

+ Anh Nguyễn Kiên C - Bí thư Đoàn thanh niên xã T. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tuấn S, sinh năm 2007; trú tại: xóm M, xã T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình được thuê làm phụ trách âm thanh, loa đài cho các đám cưới. Ngày 19/12/2024, Nguyễn Tuấn S được thuê phụ trách loa đài cho đám cưới của gia đình anh Đinh Văn T, sinh năm 1995, trú tại xóm M, xã H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 19/12/2024, sau khi khách đến dự bữa cơm thân mật cùng gia đình anh T, Nguyễn Tuấn S ngồi điều chỉnh âm thanh cho khách hát. Tại đây, S quan sát thấy thùng đựng phong bì ở đám cưới không có người trông coi, quản lý nên đi ra bê vào cất dưới gầm bàn thờ ở phòng khách của gia đình rồi ra ngoài tiếp tục làm việc. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, S đi qua thì thấy thùng phong bì ở dưới bàn thờ, quan sát trong nhà không có ai, Nguyễn Tuấn S nảy ý định trộm cắp tiền trong thùng đựng phong bì tiền mừng cưới. S bê chiếc thùng từ trong nhà ra vườn phía sau nhà anh T. S dùng hai tay cạy cửa sau của thùng làm bung cửa rồi dùng tay phải móc phong bì từ trong thùng ra và xé phong bì lấy tiền. Tổng cộng Nguyễn Tuấn S đã lấy và xé 54 chiếc phong bì, lấy được 11.500.000 đồng. Sau khi thấy lấy được một số tiền lớn thì S cất tiền vào túi quần sau bên phải và bê chiếc thùng đựng phong bì để cạnh gốc cây bưởi trong vườn rồi đi ra rạp đám cưới tiếp tục chỉnh nhạc.

Ngày trong đêm 19/12/2024, anh Đinh Văn T phát hiện mất trộm tài sản nên đã đến cơ quan công an trình báo. Nhận thức được hành vi của là vi phạm pháp luật, ngày 20/12/2024 Nguyễn Tuấn S đến cơ quan công an đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đồng thời giao nộp lại số tiền đã trộm cắp.

Ngày 20/12/2024 quá trình kiểm tra, làm việc tại hiện trường, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H phát hiện bên cạnh số lượng phong bì đã bị Nguyễn Tuấn S xé lấy tiền còn 09 chiếc phong bì mừng cưới còn nguyên vẹn, quá trình kiểm tra xác định tổng cộng số tiền bên trong 09 phong bì 1.600.000 đồng. Nguyễn Tuấn S khai nhận số phong bì này đã lấy ra khỏi thùng nhưng do trời tối nên S không biết còn phong bì chưa bóc.

Tại biên bản định giá tiền ngày 20/01/2025 của N1 hành Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh H kết luận: Tiền thật do Ngân hàng N2 phát hành gồm các loại tiền có mệnh giá như sau: 200.000 đồng (52 tờ); 100.000 đồng (11 tờ). Tổng cộng 11.500.000 đồng. Số tiền giả, không phải do Ngân hàng N2 phát hành: Không có.

Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ:

  • - 52 tờ tiền Ngân hàng N2 mệnh giá 200.000 đồng (trong đó có 01 tờ bị rách); 11 tờ tiền Ngân hàng N2 mệnh giá 100.000 đồng. Tổng cộng 11.500.000 đồng là tiền Nguyễn Tuấn S đã trộm cắp ngày 19/12/2024. 09 chiếc phong bì tình trạng còn nguyên vẹn, kiểm tra xác định bên trong có 1.600.000 đồng là tiền mừng cưới của gia đình anh T. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho đại diện bị hại anh Đinh Văn T.
  • - Số tiền 513.000 đồng tiền Ngân hàng N2 là tiền của Nguyễn Tuấn S tự nguyện giao nộp trong quá trình đầu thú. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo.
  • - 54 chiếc phong bì đã bị xé không còn nguyên vẹn, bên trong không chứa tiền thu giữ tại hiện trường thuộc xóm M, xã H, thành phố H.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình anh Đinh Văn T đã nhận lại toàn bộ số tiền mất trộm và không yêu cầu, đề nghị gì thêm.

Cáo trạng số 47/CT-VKSTPHB ngày 28/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình truy tố Nguyễn Tuấn S về tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị giải quyết; Về xử lý vật chứng: đề nghị giải quyết theo quy định.

Trợ giúp viên pháp lý Nguyễn Hương G bào chữa cho bị cáo nêu quan điểm: Nhất trí với cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên TGVPL đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo tuổi đời còn trẻ, ham chơi, suy nghĩ còn bồng bột, chưa chín chắn; đã bồi thường đầy đủ cho bị hại, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án cải tạo không giam giữ.

Bị cáo Nguyễn Tuấn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, ăn năn hối cải về hành vi mình đã thực hiện. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện hợp pháp của bị cáo chị Nguyễn Thị Đ nêu ý kiến: Chị biết con mình đã vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo tuổi đời còn trẻ, thiếu sự chăm sóc của bố, sự giám sát của mẹ nên đã phạm sai lầm, xin HĐXX cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt để làm lại cuộc đời.

Đại diện Đoàn thanh niên xã T phát biểu ý kiến: đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng một mức án đủ tính giáo dục răn đe đối với người chưa thành niên phạm tội. Để bị cáo có cơ hội hòa nhập cộng đồng làm lại cuộc đời.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và quá trình thẩm tra tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, của Điều tra viên công an thành phố H, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo; đại diện hợp pháp của bị cáo, đại diện bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Tuấn S khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, kết luận định giá và toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 19/12/2024 tại xóm M, xã H, thành phố H, Nguyễn Tuấn S đã lợi dụng việc phục vụ đám cưới không ai để ý, lén lút bê thùng đựng phòng bì mừng đám cưới ra sau vườn nhà, lấy trộm tổng số tiền 11.500.000 đồng là tiền mừng đám cưới của gia đình anh Đinh Văn T. Nguyễn Tuấn S thực hiện hành vi phạm tội khi vừa đủ 17 tuổi 02 tháng 29 ngày tuổi. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân thành phố H, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với số tiền 1.600.000 đồng cơ quan điều tra đã thu giữ tại hiện trường vụ án vào ngày 20/12/2024 xét thấy: Sau khi xé phong bì được một số tiền Nguyễn Văn S2 đã vào nhà và tiếp tục làm việc của mình, không có ý định quay lại tiếp tục lấy tiền trong thùng phong bì nữa. Bản thân bị cáo cũng không biết còn phong bì chưa xé. Ý thức chủ quan của bị cáo không có ý định sẽ quay lại tiếp tục lấy tiền, bởi vì trong một không gian nhỏ bị cáo hoàn toàn có thể tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, nhưng bị cáo đã không làm. Hơn nữa theo khoa học pháp lý tội trộm cắp tài sản hoàn thành đối với trộm đồ vật nhỏ gọn được coi là chiếm đoạt được khi người phạm tội giấu được tài sản vào người, hành lý. Do đó với số tiền 1.600.000 đồng trong 09 phong bì tại hiện trường vụ án là bị cáo chưa hoàn thành hành vi phạm tội, không cấu thành tội phạm. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình không truy tố bị cáo đối với số tiền này là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo:

Nguyễn Tuấn S là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt 11.500.000 đồng của gia đình anh Đinh Văn T, xâm phạm đến quan hệ sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi bị cáo thực hiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã ra đầu thú; tài sản trộm cắp đã thu hồi được và trả cho bị hại; khi phạm tội bị cáo mới đủ 17 tuổi 2 tháng 29 ngày tuổi. .đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự cần xem xét cho các bị cáo.

Xét bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng; bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, luôn chấp hành tốt các chính sách tại địa phương nơi cư trú. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương giáo dục, công an địa phương giám sát cũng cải tạo được bị cáo, việc cho bị cáo được hưởng án treo không trái với quy định tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo việc cho bị cáo hưởng án treo không trái với Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước và pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người lao động tự do, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về vật chứng của vụ án: Đối với 54 chiếc phong bì đã bị xé không còn nguyên vẹn, bên trong khong chứa tiền, đựng trong một hộp giấy; Xét không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.

[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tuấn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn S phạm tội: Trộm cắp tài sản.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn S 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/3/2025.

Giao bị cáo Nguyễn Tuấn S cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình giáo dục; Công an xã T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình giám sát trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Nguyễn Tuấn S thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qui định tại điều 56 của Bộ luật hình sự.

2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

* Tịch thu, tiêu hủy: 54 (Năm mươi tư) chiếc phong bì đã bị xé không còn nguyên vẹn, bên trong không chứa tiền thuộc vụ án trộm cắp tài sản xảy ra ngày 19/12/2024 tại xóm M, xã H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình được đựng trong 01 (một) hộp giấy.

(Chi tiết vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 78/BB/2025 ngày 28/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh Hòa Bình và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Tuấn S phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo; Đại diện bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh HB;
  • - VKSND tỉnh HB;
  • - Sở tư pháp tỉnh HB;
  • - VKSND TPHB;
  • - CA TPHB;
  • - Chi cục THA TPHB;
  • - UBND xã Thịnh Minh, TPHB;
  • - CA xã Thịnh Minh, TPHB;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Thêu

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 46/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuấn S 173 CTN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger