|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27 - 3 - 2025 “V/v Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG – TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà La Thị Huyền;
Ông Nguyễn Văn Hào.
Thư ký phiên tòa: Ông Quang Lương Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Con Cuông – tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 176/2024/TLST – HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2024 về ly hôn tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số: 195/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H. sinh năm 1982.
Nơi cư trú: Thôn L, thị trấn T, huyện C, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Bị đơn: Chị Trần Thị T, sinh năm 1991.
Nơi cư trú: Thôn L, thị trấn T, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện (đơn xin ly hôn) ngày 29/10/2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Văn H trình bày:
- Về tình cảm: Anh Nguyễn Văn H và bị đơn chị Trần Thị T kết hôn với nhau vào ngày 10 tháng 9 năm 2012 tại UBND xã B (nay là thị trấn T), huyện C, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm các quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được 11 năm thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Nguyên nhân là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, chị T ngoại tình, không quan tâm chăm sóc chồng con. Việc mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình nội ngoại và chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần, nhưng sau mỗi lần hòa giải tình cảm vẫn không được cải thiện mà ngày càng trầm trọng, vì vậy mà từ tháng 10/2024 cho đến nay, vợ chồng anh không còn sống chung với nhau. Anh H thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với bị đơn chị Trần Thị T.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 người con chung tên là Nguyễn Trọng N sinh ngày 25/8/2013 và Nguyễn Anh Đ sinh ngày 25/10/2015 ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cả hai người con chung và không yêu cầu chị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị T không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Anh H và chị T không vay nợ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào cũng như không cho ai vay nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn chị Trần Thị T vắng mặt mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nên Toà án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, 35, 39, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Xử cho anh Nguyễn Văn H được ly hôn với chị Trần Thị T; Về con chung: Giao con chung tên là Nguyễn Trọng N sinh ngày 25/8/2013 và Nguyễn Anh Đ sinh ngày 25/10/2015 cho anh H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về tài sản và nợ chung: Anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị T không có tài sản chung và không có các khoản nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét; Về án phí: Anh Nguyễn Văn H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, bị đơn Trần Thị T hiện cư trú tại Thôn L, thị trấn T, huyện C, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thông báo, triệu tập theo thủ tục tố tụng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt các quyết định của Tòa án; Bị đơn không chấp hành các quyết định của Tòa án, gây khó khăn cho công tác điều tra, thu thập chứng cứ. Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt, niêm yết cho đương sự hợp lệ, nhiều lần. Nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ giao nộp chứng cứ. Tòa án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét thấy anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị T đăng ký kết hôn vào ngày 10 tháng 9 năm 2012 tại UBND xã B (nay là UBND thị trấn T), huyện C, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm các quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy hôn nhân giữa anh H và chị T là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được 11 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Theo anh H, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, chị T ngoại tình không quan tâm chăm sóc chồng con. Tại phiên tòa chị T vắng mặt không có ý kiến trình bày nhưng qua xác minh tại địa phương cho thấy giữa vợ chồng anh H và chị T thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn không thể hàn gắn được, chị T đã ngoại tình với người đàn ông khác và chị đã đi khỏi địa phương. Gia đình và chính quyền địa phương đã hòa giải cho vợ chồng anh chị nhiều lần nhưng không thành, vì vậy mà hiện nay hai vợ chồng đã không còn sống chung với nhau nữa. Như vậy, anh H và chị T đã vi phạm quy định về tình nghĩa vợ chồng, không sống chung với nhau mà không có lý do chính đáng. Xét thấy, giữa anh H và chị T mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014, xử cho anh H được ly hôn với chị T.
[3] Về con chung: Trong quá trình chung sống anh H và chị T có 02 người con chung tên là Nguyễn Trọng N sinh ngày 25/8/2013 và Nguyễn Anh Đ sinh ngày 25/10/2015. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh H yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung và không yêu cầu chị T cấp dưỡng tiền nuôi con. Xét thấy khi cha, mẹ ly hôn, việc giao con chưa thành niên cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cũng phải nhằm đảm bảo cho con sự phát triển tốt nhất cả về vật chất lẫn tinh thần. Như vậy nguyện vọng của anh H là chính đáng, thể hiện tinh thần và trách nhiệm của cha mẹ dành cho con. Xem xét về điều kiện nuôi con thấy rằng anh H có đủ điều kiện để chăm sóc và giáo dục con. Mặt khác qua quá trình giải giải quyết vụ án thấy rằng chị T hiện nay không có mặt tại địa phương và nguyện vọng của hai người con là muốn ở với anh H. Vì vậy để đảm bảo sự ổn định tâm lý, tránh xáo trộn cuộc sống của các con nên việc giao con cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Nguyễn Trọng N và Nguyễn Anh Đ trưởng thành, chị T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
[4] Về tài sản chung và các khoản nợ: Do các đương sự đã không có tài sản chung, không có các khoản nợ và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Anh Nguyễn Văn H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào các Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn H.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Nguyễn Văn H được ly hôn với chị Trần Thị T.
-
Về con chung: Giao con chung Nguyễn Trọng N sinh ngày 25/8/2013 và Nguyễn Anh Đ sinh ngày 25/10/2015 cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung do anh H không yêu cầu. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.
Chị Trần Thị T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Nếu chị Trần Thị T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
Anh Nguyễn Văn H cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị Trần Thị T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí: Anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000803 ngày 10 tháng 12 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An; anh Nguyễn Văn H đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án; Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo đến Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hà Văn Hải |
5
Bản án số 46/2025/HNGĐ-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG – TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 46/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG – TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Nguyễn Văn Hiếu - Bị đơn Trần Thị Thủy
