Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/DS-ST

Ngày: 27/3/2025

“V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Vũ Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trương Phước Công;
  2. Bà Đào Thị Thu Vân.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Huỳnh Tiểu Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1261/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 98/2025/QĐHPT ngày 07 tháng 03 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thanh T, sinh năm 1986; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
  2. Bị đơn: Bà Lê Thị Thanh T1, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1977; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Tòa nguyên đơn bà Lê Thị Thanh T trình bày: Do chỗ quen biết với vợ chồng bà T1 (N), ông H1 có tham gia hụi do bà N làm chủ, số tiền bà T1 (N) hưởng hoa hồng từ các hụi viên khác hốt. Đến kỳ mở hụi, hụi viên nào mở giá hụi cao nhất thì được hốt hụi. Chủ hụi có trách nhiệm thu tiền các hụi viên khác giao cho người hốt được và hưởng hoa hồng. Bà tham gia 09 dây hụi do bà T1 (N) làm chủ như sau:

Dây hụi thứ nhất: Hụi 5.000.000đ/tháng khui ngày 08/12/2022 (al) hụi có 22 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị P do chồng bà tên P nên bà T1 mới ghi chị P nằm số thứ tự số 06). Hụi khui đến lần thứ 13 thì bà T1 tự ý ngưng không khui hụi tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được 12 lần, số tiền hụi bà được hưởng là 12 x 5 = 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng). Hụi hiện nay đã mãn.

Dây hụi thứ hai: Hụi 5.000.000đ/tháng khui ngày 04/10/2022 (al) hụi có 23 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị P do chồng bà tên P nên bà T1 mới ghi chị P nằm số thứ tự số 17) hụi khui đến lần thứ 15 thì bà T1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được 14 lần, số tiền hụi bà được hưởng là 14 x 5 = 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng). Hụi hiện nay đã mãn.

Dây hụi thứ ba: Hụi 5.000.000đ/tháng khui ngày 15/4/2023 (al) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị P nằm số thứ tự số 20 do chồng bà tên P nên bà T1 mới ghi chị P) hụi khui đến lần thứ 8 thì bà T1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được 07 lần, số tiền hụi bà được hưởng là 07 x 5 = 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu) Hụi hiện nay chưa mãn.

Dây hụi thứ tư: Hụi 3.000.000đ/tháng khui ngày 01/02/2023 (al) hụi có 22 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị P nằm số thứ tự số 12 do chồng bà tên P nên bà T1 mới ghi chị P) hụi khui đến lần thứ 12 thì bà T1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được 11 lần, số tiền hụi bà được hưởng là 11 x 3 = 33.000.000 đồng (ba mươi ba triệu đồng) Hụi hiện nay chưa mãn.

Dây hụi thứ năm: Hụi 3.000.000đ/tháng khui ngày 04/5/2023 (al) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị P nằm số thứ tự số 19 do chồng bà tên P nên bà T1 mới ghi chị P) hụi khui đến lần thứ 7 thì bà T1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được 06 lần, số tiền hụi bà được hưởng là 6 x 3 = 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng) Hụi hiện nay chưa mãn.

Dây hụi thứ sáu: Hụi 3.000.000đ/tháng khui ngày 18/7/2023 (al) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà T tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Vợ P nằm số thứ tự số 10 do chồng bà tên P nên bà T1 mới ghi Vợ P) hụi khui đến lần thứ 5 thì bà T1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được 04 lần, số tiền hụi bà được hưởng 4 x 3 = 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng) Hụi hiện nay chưa mãn.

Dây hụi thứ bảy: Hụi 3.000.000đ/tháng khui ngày 24/10/2022 (al) hụi có 23 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị P nằm số thứ tự số 20 do chồng bà tên P nên bà T1 mới ghi chị P) hụi khui đến lần thứ 15 thì bà T1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được 14 lần, số tiền hụi bà được hưởng là 14 x 3 = 42.000.000 đồng (bốn mươi hai triệu đồng) Hụi hiện nay đã mãn.

Dây hụi thứ tám: Hụi 1.000.000đ/ ½ tháng khui một lần ngày 10/8/2023 (al) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 02 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị P nằm số thứ tự số 04,05 do chồng bà tên P nên bà T1 mới ghi chị P) hụi khui đến lần thứ 07 thì bà T1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được 06 lần, số tiền hụi bà được hưởng là 12 x 1 = 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng) Hụi hiện nay đã mãn.

Dây hụi thứ chín: Hụi 2.000.000đ/ tháng khui một lần ngày 26/6/2022 (al) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà T tham gia 02 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị T nằm số thứ tự số 03,04) dây hụi này bà T đã hốt hết 02 phần nhưng sau đó có chầu hụi chết và còn lại 06 lần hụi bà chưa chầu cho bà T1 nên dây hụi này bà thiếu số tiền hụi chưa chầu bà T1 là 24.000.000 đồng. Hụi hiện nay đã mãn.

Ngoài ra bà còn tham gia chơi hụi ngày mỗi ngày 50.000 đồng bà tham gia 30 phần nhưng bà không có hốt (do chỗ làm ăn quen biết với nhau nên không có làm giấy tờ).

Sau đó vào ngày 02/02/2024 bà có thưa ra ban ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang, tại buổi hòa giải bà T1, ông H1 thừa nhận vừa tiền hụi tháng và hụi ngày mà bà T1, ông H1 nợ bà tổng cộng số tiền là 335.000.000 đồng (ba trăm ba mươi lăm triệu đồng).

Do chổ làm ăn tin tưởng nên bà T1, ông H1 có giao cho bà giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do chồng bà T1 là ông H1 đứng tên, sau đó 02/02/2024 tại ban Ấ, xã L, huyện C thì bà đã trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà T1 là ông H1 đứng tên, nhưng bà T1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà, bà có lại đòi nhiều lần nhưng vợ chồng bà T1 vẫn hứa trả nhưng vẫn không thực hiện.

Việc bà tham gia chơi hụi thì ông H1 vẫn biết, ông H1 cũng có đến nhà bà để góp tiền hụi.

Nay bà yêu cầu Tòa án buộc bà Lê Thị Thanh T1 (N), ông Nguyễn Văn H1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền hụi tháng, hụi ngày sau khi khấu trừ số tiền hụi chết mà bà còn nợ bà T1 là 24.000.000 đồng, bà T1, ông H1 thừa nhận ngày 02/02/2024 tại ban Á, xã L, huyện C, tỉnh An Giang tổng cộng số tiền là 335.000.000 đồng (ba trăm ba mươi lăm triệu đồng), không yêu cầu tính lãi.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 07.3.2025 bị đơn ông Nguyễn Văn H1 trình bày:

Ông và bà T1 hiện nay vẫn còn là vợ chồng, việc bà T1 là vợ ông làm chủ hụi do bà T tham gia thì ông cũng biết, có những lần bà T đến nhà ông khui hụi thì đôi khi ông có ở nhà và cũng có khi đi làm. Đối với khoản tiền hụi mà bà T kiện vợ chồng ông thì ông cũng biết nhưng do vợ tôi là bà T1 (N) đang bị các hụi viên khác hốt hụi không chầu hụi chết nên không có khả năng trả tiền lại cho các hụi viên đang còn tham gia, khi nào các hụi viên đã hốt xong trả tiền hụi chết lại cho vợ chồng ông thì vợ chồng ông đồng ý trả lại số tiền hụi cho bà T, hiện tại thì vợ chồng ông không có khả năng trả.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện là: Giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu gia đình (bản sao); danh sách hụi viên (bản photo).

- Bà Lê Thị Thanh T1, ông Nguyễn Văn H1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn bà Lê Thị Thanh T đã cung cấp các tài liệu chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; không còn tài liệu, chứng cứ nào khác.

- Bị đơn bà Lê Thị Thanh T1, ông Nguyễn Văn H1 vắng mặt không có ý kiến.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Ý kiến giải quyết vụ án:

Bà Lê Thị Thanh T là hụi viên do quen biết nên có tham chơi hụi do bà Lê Thị Thanh T1 (Kim N) và ông Nguyễn Văn H1 làm chủ hụi, bà T tham gia 09 dây hụi, gồm:

Dây hụi thứ nhất: Hụi 5.000.000đ/tháng khui ngày 08/12/2022 (âl) hụi có 22 hụi viên, dây hụi này bà T tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị P do chồng bà T tên P nên bà T1 mới ghi chị P nằm số thứ tự số 06). Hụi khui đến lần thứ 13 thì bà T1 tự ý ngưng không khui hụi tiếp tục. Do đó dây hụi này bà T chầu được 12 lần x 5 = 60.000.000 đồng. Hụi hiện nay đã mãn.

Dây hụi thứ hai: Hụi 5.000.000đ/tháng khui ngày 04/10/2022 (âl) hụi có 23 hụi viên, dây hụi này tôi tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị P do chồng bà T tên P nên bà T1 mới ghi chị P nằm số thứ tự số 17) hụi khui đến lần thứ 15 thì bà T1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà T chầu được 14 lần, số tiền chầu hụi sống là 14 x 5 = 70.000.000 đồng. Hụi hiện nay đã mãn.

Dây hụi thứ ba: Hụi 5.000.000đ/tháng khui ngày 15/4/2023 (âl) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà T tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị P nằm số thứ tự số 20 do chồng bà T tên P nên bà T1 mới ghi chị P) hụi khui đến lần thứ 8 thì bà T1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà T chầu được 07 lần, số tiền chầu hụi sống là 07 x 5 = 35.000.000 đồng. Hụi hiện nay chưa mãn.

Dây hụi thứ tư: Hụi 3.000.000đ/tháng khui ngày 01/02/2023 (âl) hụi có 22 hụi viên, dây hụi này bà T tham gia 01 phần (trong dây hụi này hủ hụi ghi tên Chị P nằm số thứ tự số 12 do chồng bà T tên P nên bà T1 mới ghi chị P) hụi khui đến lần thứ 12 thì bà T1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà T chầu được 11 lần, số tiền chầu hụi sống là 11 x 5 = 33.000.000 đồng. Hụi hiện nay chưa mãn.

Dây hụi thứ năm: Hụi 3.000.000đ/tháng khui ngày 04/5/2023 (âl) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà T tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị P nằm số thứ tự số 19 do chồng bà T tên P nên bà T1 mới ghi chị P) hụi khui đến lần thứ 7 thì bà T1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà T chầu được 06 lần, số tiền chầu hụi sống là 6 x 3 = 18.000.000 đồng. Hụi hiện nay chưa mãn.

Dây hụi thứ sáu: Hụi 3.000.000đ/tháng khui ngày 18/7/2023 (âl) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà T tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Vợ P nằm số thứ tự số 10 do chồng bà T tên P nên bà T1 mới ghi Vợ P) hụi khui đến lần thứ 5 thì bà T1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà T chầu được 04 lần, số tiền chầu hụi sống là 4 x 3 = 12.000.000 đồng. Hụi hiện nay chưa mãn.

Dây hụi thứ bảy: Hụi 3.000.000đ/tháng khui ngày 24/10/2022 (âl) hụi có 23 hụi viên, dây hụi này bà T tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị P nằm số thứ tự số 20 do chồng bà T tên P nên bà T1 mới ghi chị P) hụi khui đến lần thứ 15 thì bà T1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà T chầu được 14 lần, số tiền chầu hụi sống là 14 x 3 = 42.000.000 đồng. Hụi hiện nay đã mãn.

Dây hụi thứ tám: Hụi 1.000.000đ/ ½ tháng khui một lần ngày 10/8/2023 (âl) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà T tham gia 02 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị P nằm số thứ tự số 04,05 do chồng bà T tên P nên bà T1 mới ghi chị P) hụi khui đến lần thứ 07 thì bà T1 tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà T chầu được 06 lần, số tiền chầu hụi sống là 12 x 1 = 12.000.000 đồng. Hụi hiện nay đã mãn.

Dây hụi thứ chín: Hụi 2.000.000đ/ tháng khui một lần ngày 26/6/2022 (al) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà T tham gia 02 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Chị T nằm số thứ tự số 03,04) dây hụi này bà T đã hốt hết 02 phần nhưng sau đó có chầu hụi chết và còn lại 06 lần hụi bà T chưa chầu cho bà T1 nên dây hụi này bà T thiếu số tiền hụi chưa chầu bà T1 là 24.000.000 đồng. Hụi hiện nay đã mãn.

Ngoài ra bà còn tham gia chơi hụi ngày mỗi 50.000 đồng bà tham gia 30 phần nhưng bà không hốt (do chổ làm ăn quen biết với nhau nên không có làm giấy tờ).

Sau đó vào ngày 02/02/2024 bà T có thưa ra ban ấp L, xã L, huyện C thì tại buổi hòa giải bà T1, ông H1 thừa nhận vừa tiền hụi tháng và hụi ngày mà bà T1, ông H1 nợ bà T tổng cộng số tiền là 335.000.000 đồng.

Do chổ làm ăn tin tưởng nên bà T1 có giao cho bà T giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà T1, ông H1 đứng tên. Tại buổi hòa giải ngày 02/02/2024 bà T đã trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T1. Sau đó bà T1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà T.

Việc bà tham gia chơi hụi thì ông H1 vẫn biết, ông H1 cũng có đến nhà bà để góp tiền hụi.

Nay bà T yêu cầu Tòa án buộc bà Lê Thị Thanh T1, ông Nguyễn Văn H1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền hụi trong 09 dây hụi là 335.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Phía bà T1 nhận được Thông báo thụ lý của Tòa án biết được yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện này. Riêng ông H1 cho biết do vợ ông là bà T1 (N) đang bị các hụi viên khác hốt hụi không chầu hụi chết nên không có khả năng trả tiền lại cho các hụi viên đang còn tham gia, khi nào các hụi viên đã hốt xong trả tiền hụi chết lại cho vợ chồng ông H1, thì đồng ý trả lại số tiền hụi cho bà T, hiện tại thì vợ chồng ông H1 không có khả năng trả.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét thấy, căn cứ bà T khởi kiện là các sổ hụi và biên bản xác minh ngày 10/12/2024 đối với bà Nguyễn Thị V, Trần Thị T2, Huỳnh Văn L và Dương Thị T3 xác định bà Lê Thị Thanh T có tham gia các dây hụi trên do bà T1 (Kim N) và ông H1 làm chủ hụi nên có cơ sở xác định việc giao dịch hụi giữa bà T và bà T1 (K), ông H1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận do bà T1 (Kim N) và ông H1 không giao tiền hụi cho bà T, là vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi nên bà T khởi kiện yêu cầu bà T1 (Kim N) và ông H1 trả nợ 335.000.000 đồng là có căn cứ phù hợp Điều 471 Bộ luật Dân sự.

Về lãi suất, do bà T không yêu cầu nên không đề cập xem xét đến.

Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự:

  • - Công nhận hợp đồng hụi giữa bà Lê Thị Thanh T và bà Lê Thị Thanh T1 (Kim N) và ông Nguyễn Văn H1.
  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thanh T.
  • - Buộc bà Lê Thị Thanh T1 (K) và ông Nguyễn Văn H1 trả bà Lê Thị Thanh T nợ hụi là 335.000.000 đồng.

* Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Lê Thị Thanh Thúy H kiện yêu cầu bà Lê Thị Thanh T1, ông Nguyễn Văn H1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền nợ hụi 335.000.000 đồng. Bà T1, ông H1 có nơi cư trú tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Trước khi phiên tòa bị đơn bà Lê Thị Thanh T1, ông Nguyễn Văn H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt bà T1, ông H1. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T1, ông H1 theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

* Về nội dung:

[3] Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng:

Qua lời khai và lời trình bày của bà Lê Thị Thanh T tại các biên bản hòa giải, các tài liệu chứng cứ cung cấp và qua quá trình bà giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xác định giữa bà T với bà T1 có ký kết hợp đồng góp hụi giữa hai bên phù hợp với quy định của pháp luật. Nên được pháp luật công nhận và bảo vệ, không trái đạo đức xã hội, do bà T1 tự ý ngưng không khui hụi tiếp tục nhưng bà T1 không trả số tiền hụi khi bà T có yêu cầu là vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định tại Điều 282, Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015 để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Trong số các tài liệu, chứng cứ do bà T cung cấp có các danh sách hụi thể hiện tên bà T trong từng dây hụi được bà T1 ghi nằm các số thứ tự theo từng dây hụi.

Lời khai của những người làm chứng tham gia chung với bà T thì cũng xác định bà T có tham gia chơi hụi trong các dây hụi mà bà T1 làm chủ và hiện nay bà T1 còn thiếu lại bà T số tiền hụi là 335.000.000 đồng (ba trăm ba mươi lăm triệu đồng). Mặc khác tại buổi hòa giải ngày 02/02/2024 thì ông H1, bà T1 vẫn thừa nhận có thiếu tiền hụi tháng và hụi ngày tổng cộng là 335.000.000 đồng (ba trăm ba mươi lăm triệu đồng).

Như vậy, lời khai của bà T phù hợp với danh sách hụi và lời khai của những người tham gia chơi hụi cùng bà T và biên bản hòa giải tại Văn phòng Ấ1, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Do đó có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T.

[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nghĩa vụ trả nợ của bị đơn:

Bà T yêu cầu bà T1, ông H1 cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền hụi 335.000.000 đồng (ba trăm ba mươi lăm triệu đồng)

Xem xét yêu cầu nghĩa vụ trả nợ của bà T1, ông H1 nhận thấy, giữa bà T với bà T1 cùng xác lập hợp đồng góp hụi với nhau, nhưng bà T1 tự ý không hụi tiếp tục và cũng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà T khi bà T có yêu cầu.

Xem xét yêu cầu liên đới thấy rằng, mặc dù, bà T1 là người trực tiếp giao dịch với các hụi viên, tuy ông H1 không trực tiếp giao dịch hụi nhưng trong quá trình làm việc thì ông H1 vẫn thừa nhận có thiếu số tiền hụi của bà T, tuy nhiên hiện nay các hụi viên trong các dây hụi khác đã hốt nhưng không chầu lại cho vợ chồng ông nên vợ chồng ông không có khả năng trả lại tiền cho các hụi viên còn sống, hiện nay ông H1 và bà T1 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, nên hôn nhân ông bà hợp pháp, vì vậy bà T yêu cầu bà T1, ông H1 cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền hụi 335.000.000 đồng (ba trăm ba mươi lăm triệu đồng) là có căn cứ.

Từ những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của bà T tại phiên Tòa vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của T là phù hợp với quy định pháp luật tại các Điều 466, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5] Về lãi suất: Trong quá trình giải quyết vụ án bà T không yêu cầu tính lãi suất. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Lê Thị Thanh T1, ông Nguyễn Văn Hăn H1 phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Bà Lê Thị Thanh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều:

Điều 282, 466, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Điều 26, 35, 39, 144, 146, 147, 227, 228, 235, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thanh T.
  2. Buộc bà Lê Thị Thanh T1 (K), ông Nguyễn Văn H1 có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị Thanh T số tiền hụi là 335.000.000 đồng (ba trăm ba mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  2. Bà Lê Thị Thanh T1 (K), ông Nguyễn Văn H1 phải chịu 16.750.000 đồng (mười sáu triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Bà Lê Thị Thanh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà lại cho bà T số tiền tạm ứng án phí 8.375.000 (tám triệu ba trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) mà bà đã nộp theo biên lai thu số 0023430 ngày 18 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

  3. Đương sự có mặt tham gia phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND H. Chợ Mới;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Chi cục THADS H. Chợ Mới;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Châu Vũ Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/DS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 46/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger