Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HS-PT

Ngày 24-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Minh Thu

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Kiên

Bà Ngô Thị Thuỳ Linh

- Thư ký phiên toà: Ông Lương Khánh Sơn – Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 32/2025/TLPT-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo do có kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn M, Hà Minh N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2025/HS-ST ngày 17/01/2025 Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 29 tháng 12 năm 2008 tại Hải Dương (tính đến thời điểm phạm tội được 15 năm 07 tháng 07 ngày tuổi); nơi cư trú: Thôn N, xã P (nay là xã L), huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc T1 và bà Phạm Thị Thanh T2; chưa có vợ, con; tiền án: Không, tiền sự: Ngày 25-7-2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Hải Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2367/QĐ-XPHC bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo công cụ, đồ vật, phương tiện khác có khả năng sát thương; bị tạm giữ từ ngày 11-8-2024 đến ngày 20-8-2024 chuyển tạm giam; có mặt.
  2. Nguyễn Văn D, sinh ngày 14 tháng 10 năm 2009 tại Gia Lai (tính đến thời điểm phạm tội được 14 năm 09 tháng 22 ngày tuổi); nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Phùng Thị T3; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 11-8-2024 đến ngày 20-8-2024 chuyển tạm giam; có mặt.
  3. Nguyễn Văn M, sinh ngày 03 tháng 12 năm 2008 tại Hải Dương (tính đến thời điểm phạm tội được 15 năm 10 tháng 02 ngày tuổi); nơi cư trú: Thôn T, xã C (nay là xã L), huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D1 và bà Phạm Thị M1; chưa có vợ, con; tiền án: Không, tiền sự: Ngày 25-7-2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Hải Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2368/QĐ-XPHC bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo công cụ, đồ vật, phương tiện khác có khả năng sát thương; bị tạm giữ từ ngày 11-8-2024 đến ngày 20-8-2024 chuyển tạm giam; có mặt.
  4. Hà Minh N, sinh ngày 24 tháng 9 năm 2008 tại Hải Dương (tính đến thời điểm phạm tội được 15 năm 10 tháng 12 ngày tuổi); nơi cư trú: Thôn V, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Minh Á và bà Phùng Thị H; chưa có vợ, con; tiền án: Không, tiền sự: Ngày 25-7-2024, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Hải Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2370/QĐ-XPHC bằng hình thức Cảnh cáo về hành vi Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo công cụ, đồ vật, phương tiện khác có khả năng sát thương; được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 07-10-2024 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Anh Bùi Tuấn H1, sinh ngày 14-8-2007; nơi cư trú: Thôn N, xã V (nay là xã V), huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Bùi Văn T4, sinh năm 1979 và chị Trần Thanh T5, sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn N, xã V (nay là xã V), huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn M: Bà Trần Thị T6 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H và bà Phạm Thị H2 - Luật sư Công ty L3, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. Đều có mặt

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn D: Bà Trần Thị T6 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H. Có mặt

- Người bào chữa cho bị cáo Hà Minh N: Bà Nguyễn Thị H3 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H. Có mặt

2

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Ngọc T: Anh Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1982 và chị Phạm Thị Thanh T2, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn N, xã P (nay là xã L), huyện T, tỉnh Hải Dương (là bố mẹ đẻ của bị cáo). Anh T1 có mặt, chị T2 vắng mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn D: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1986 và chị Phùng Thị T3, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương. Anh C có mặt, chị T3 vắng mặt

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn M: Anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 1983 và chị Phạm Thị M1, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn T, xã C (nay là xã L), huyện T, tỉnh Hải Dương (là bố mẹ đẻ của bị cáo). Đều có mặt

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Hà Minh N: Anh Hà Minh Á, sinh năm 1984 và chị Phùng Thị H, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn V, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương (là bố mẹ đẻ của bị cáo). Anh Ánh vắng mặt, chị H có mặt.

- Đại diện Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương (nơi bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn M sinh hoạt): Ông Hà Hữu L - chức vụ: Bí thư; vắng mặt.

- Đại diện Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương (nơi bị cáo Nguyễn Văn D, Hà Minh N sinh hoạt): Ông Bùi Duy T7 - chức vụ: Bí thư; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 24 giờ ngày 05-8-2024, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn D, Hà Minh N đi bộ qua khu nhà trọ của Nguyễn Hữu K tại Xí nghiệp C1, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương thì phát hiện thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đen xám, mang biển kiểm soát 81V1-197.33 của anh K để ở sân nhà trọ không có trong coi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt để làm phương tiện đi lại. D đi vào trong kiểm tra rồi đi ra nói với T, M, N “bên trong nhà trọ đóng cửa rồi, xe máy thì khoá cổ” rồi bảo M, N đi vào trong sân nhà trọ để trực tiếp lấy chiếc xe còn T ở ngoài cảnh giới. D, M, N kéo và đẩy chiếc xe trên ra cổng rồi D dùng chân đạp, đẩy tay lái xe để phá khoá cổ. T, M, N, D cùng dắt chiếc xe đến khu vực bờ đê xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương thì T đấu dây điện trên xe để nổ máy còn M, N tháo biển kiểm soát để trong cốp xe để tránh bị phát hiện rồi cùng nhau đi lang thang trên các tuyến đường.

Đến khoảng 01 giờ ngày 06-8-2024, T rủ N, M, D đến huyện V với mục đích tìm kiếm ai điều khiển xe mô tô đi một mình thì sẽ thực hiện việc cướp xe để bán lấy tiền ăn tiêu và được N, M, D đồng ý. D mang theo 01 thanh kiếm bằng kim loại dài 88cm, mũi nhọn, một cạnh sắc (nhặt được trước đó) cài ở bô xe mô tô vừa trộm cắp được ở trên rồi điều khiển xe chở phía sau lần lượt là M, N, T. Cả nhóm đi trên đường nhưng không gặp ai nên ngủ tại hiên một Nhà văn hoá ở xã T, huyện V. Đến khoảng 06 giờ ngày 06-8-2024, D điều khiển xe tiếp tục chở cả nhóm đi trên địa bàn huyện V để tìm cơ hội cướp tài sản. Đến khoảng 19 giờ 40 phút cùng ngày, khi D, M, N, T đang trên đường đi về hướng xã T, huyện V thì gặp cháu Bùi Tuấn H1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh biển kiểm soát 15K1-345.65 chở anh Bùi Tuấn N1. Do thấy nhóm của T nhìn nên cháu H1 điều khiển xe đuổi theo. Khi đi được khoảng 20 mét thì gặp cháu Nguyễn Bảo A nên cháu H1 bảo cháu Bảo A lên xe đi cùng. Lúc này anh N1 lên điều khiển xe chở phía sau lần lượt là cháu H1, cháu Bảo A để tiếp tục đuổi theo nhóm của T. Khi đi đến thôn Đ, xã Đ, huyện V, anh Tuấn N1 điều khiển ép xe nhóm của T vào lề đường rồi cả hai nhóm dừng xe lại. T, M và Hà Minh N xuống xe đứng trên đường, D vẫn ngồi trên xe nổ máy đợi sẵn. Anh Tuấn N2 đi lại gần và hỏi nhóm của T: “chúng mày nhìn gì thế”. Sau đó, T rút thanh kiếm cài ở bô xe máy cầm trên tay trái rồi chỉ vào nhóm cháu H1 đe doạ: “chúng mày thích làm sao”, còn Minh N và M đứng cạnh T với mục đích giúp sức khi chiếm đoạt tài sản. Thấy T cầm kiếm chỉ về phía mình, cháu H1, anh Tuấn N2 cùng cháu Bảo A để lại xe và bỏ chạy. T cầm kiếm đuổi theo cháu H1 và dùng kiếm chỉ vào mặt cháu H1 chửi và dùng chân đạp vào bụng cháu H1 làm cháu H1 lùi lại và nói “anh tha cho em”. Cùng lúc này, M nhìn thấy xe mô tô của cháu H1 vẫn cắm chìa khóa nên đã tiến lại gần chiếc xe, ngồi lên và nổ máy rồi gọi bảo T đi khỏi hiện trường. T cầm theo thanh kiếm chạy đến ngồi lên xe mô tô do M điều khiển còn Minh N ngồi lên xe do D điều khiển cùng bỏ chạy đến xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương. Nhóm của T đi đến khu vực đê thuộc xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương (gần trường Trung học cơ sở N3) thì dừng lại. T mở cốp chiếc xe mô tô biển kiểm soát 15K1-345.65 kiểm tra thấy bên trong có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen và số tiền 20.000 đồng gồm 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng. N cầm số tiền 20.000 đồng đi đổ xăng còn chiếc điện thoại di động để lại trong cốp xe. Sau đó nhóm của T đi đến xã Q, huyện T thì dừng lại để T và D tháo biển kiểm soát chiếc xe mô tô biển kiểm soát 15K1-345.65 cất giấu vào trong cốp xe để tránh bị phát hiện rồi cả nhóm ngủ tại ghế đá gần đó.

Đến khoảng 08 giờ ngày 07-8-2024, nhóm của T mang chiếc điện thoại di động Iphone 7 plus màu đen chiếm đoạt được mang đi bán tại cửa hàng mua bán điện thoại của chị Nguyễn Thị G. T và D là người trực tiếp mang chiếc điện thoại vào bán cho chị G với giá 900.000 đồng còn N và M đứng đợi ở ngoài đường. Sau đó nhóm của T đi đến quán điện tử ở huyện G, tỉnh Hải Dương chơi và gặp bạn là Nguyễn Anh T8 (tên gọi khác là Q). Tại đây, T nói với T8 là muốn bán 01 chiếc xe không giấy tờ lấy được ở huyện V để lấy tiền tiêu, T8 đồng ý tìm chỗ bán và rủ bạn là Nguyễn Xuân T9 đi cùng nhưng không nói cho T9 biết về nguồn gốc xe. T, T8, T9 mang chiếc xe Honda Wave màu xanh đến xã Q, huyện G, tỉnh Hải Dương để bán cho Nguyễn Đình B với giá 4.300.000 đồng. Khi giao xe, B đưa trước cho T8 số tiền 2.300.000 đồng còn lại 2.000.000 đồng hẹn đến tối cùng ngày sẽ chuyển khoản trả. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, B đã xin tiền của mẹ là chị Đoàn Thị Hồng T10 và nhờ chị T10 chuyển khoản số tiền 2.000.000 đồng đến số tài khoản của Nguyễn Anh T8. Sau khi nhận đủ tiền, T8 đã đưa toàn bộ số tiền bán xe cho T. Sau đó T sử dụng 1.000.000 đồng để thuê phòng trọ, số tiền còn lại cùng M, D, N chi tiêu hết.

Ngày 11-8-2024, T, D, M, N đến Công an huyện V đầu thú khai nhận hành vi phạm tội và giao nộp biển kiểm soát 15K1-345.65; biển kiểm soát 81V1-197.33; 01 thanh kiếm dài 88cm cùng 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu đen xám. Anh Nguyễn Hữu B1 giao nộp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh. Chị Nguyễn Thị G giao nộp 01 chiếc điện thoại di dộng Iphone 7 plus màu đen. Anh Nguyễn Hữu K, sinh năm 2003 ở thôn S, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình giao nộp 01 giấy đăng ký xe biển kiểm soát 81V1-197.33 mang tên Nguyễn Hữu T11. Chị Trần Thanh T5, sinh năm 1978 ở thôn N, xã V, huyện V (là mẹ của cháu Bùi Tuấn H1) giao nộp 01 giấy đăng ký xe biển kiểm soát 15K1-345.65 mang tên Trần Khánh L1.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐGTS ngày 09-8-2024; số 48/KL-HĐĐGTS ngày 11-9-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện V đã kết luận về giá trị chiếc xe mô tô và chiếc điện thoại bị chiếm đoạt như sau:

  • “- 01 xe mô tô nhãn hiệu: Honda, loại Wave, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát: 15K1-345.65 (đã qua sử dụng), tại thời điểm ngày 06-8-2024 có giá trị là: 10.000.000 đồng.
  • - 01 điện thoại màn hình cảm ứng nhãn hiệu: Iphone 7 plus, Ram: 3GB, Rom: 128GB màu đen đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 06-8-2024 có giá trị là 1.900.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản cần định giá là: 11.900.000 đồng.

  • - 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu: Honda, loại Wave RSX F1 màu đen xám, biển kiểm soát: 81V1-197.33 (đã qua sử dụng), tại thời điểm ngày 05-8-2024 có giá trị là: 13.500.000 đồng”.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2025/HS-ST ngày 17/01/2025 Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng đã quyết định:

- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 58, 90, 91, 101 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên.

5

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn M, Hà Minh N đồng phạm tội Cướp tài sản.

Xử phạt:

  • - Bị cáo Nguyễn Ngọc T 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11-8-2024.
  • - Bị cáo Nguyễn Văn D 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11-8-2024.
  • - Bị cáo Nguyễn Văn M 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11-8-2024.
  • - Bị cáo Hà Minh N 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Căn cứ khoản 4 Điều 123 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Hà Minh N cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn M, Hà Minh N kháng cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, các bị cáo T, D, M, N khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của các bị cáo kháng cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị cáo T cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới thể hiện gia đình bị cáo T có 02 ông (anh trai của ông nội) là liệt sỹ, bị cáo D và bị cáo N có đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại, bị cáo M có ông nội, ông ngoại được tặng Huân chương kháng chiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Tại phiên toà hôm nay mặc dù người đại diện hợp pháp cho các bị cáo đã cung cấp thêm 1 số tài liệu chứng cứ mới thể hiện gia đình bị cáo T, M có công cách cách mạng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo D, N nhưng xét thấy tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và mức hình phạt Toà án cấp sơ thẩm áp dụng cho các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của những người đại diện hợp pháp của các bị cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2025/HS-ST ngày 17/01/2025 Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn D, Hà Minh N.

6

- Về án phí: Người đại diện hợp pháp cho bị cáo T, D, M, N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn M,Nguyễn Văn D: Thống nhất về tội danh, tình tiết định khung hình phạt của Toà án cấp sơ thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T, M, D và tại giai đoạn phúc thẩm gia đình bị cáo T cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thể hiện có 02 ông (anh trai của ông nội) là liệt sỹ, bị cáo M có ông nội, ông ngoại được tặng Huân chương kháng chiến, bị cáo D có đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại.

Người bào chữa cho bị cáo Hà Minh N: Thống nhất về tội danh, tình tiết định khung hình phạt của Toà án cấp sơ thẩm và cũng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm gia đình bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thể hiện bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Các bị cáo nói lời sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tội danh và điều luật áp dụng: Căn cứ lời khai của các bị cáo và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định hành vi phạm tội của các bị cáo, cụ thể như sau: Khoảng 19 giờ 40 ngày 06-8-2024, tại thôn Đ, xã Đ, huyện V, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn D, Hà Minh N đã sử dụng vũ khí là 01 thanh kiếm bằng kim loại dài 88cm, mũi nhọn, một cạnh sắc đe doạ dùng vũ lực và dùng chân đá vào bụng cháu Bùi Tuấn H1 để chiếm đoạt tài sản gồm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus có giá trị là 1.900.000 đồng; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh biển kiểm soát 15K1-345.65 có giá trị là 10.000.000 đồng và số tiền 20.000 đồng của cháu H1. Tổng giá trị tài sản mà các bị cáo T, M, D, N chiếm đoạt của bị hại là 11.920.000 đồng. Mặc dù các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn D, Hà Minh N đều là người chưa thành niên (trong độ tuổi từ 14-16 tuổi) nhưng các bị cáo đã phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý, theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự. Do đó Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội Cướp tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

7

[2] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn D, Hà Minh N không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội các bị cáo đã đầu thú; bị cáo Hà Minh N có ông ngoại được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng nhì; các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn M được bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về vai trò của các bị cáo: Đây là trường hợp đồng phạm giản đơn, các bị cáo quen biết nhau từ trước, trước khi phạm tội không có sự phân công nhiệm vụ, không có sự bàn bạc. Bị cáo T vừa là người khởi xướng việc cướp tài sản, vừa là người thực hành, đã trực tiếp dùng kiếm đe dọa, dùng chân tay đánh bị hại để cướp tài sản nên phải chịu trách nhiệm chính và cao nhất. Bị cáo D là người mang theo vũ khí là thanh kiếm và nổ máy xe đợi sẵn để cảnh giới và chở mọi người tẩu thoát khi bị phát hiện; bị cáo M đi cùng, sẵn sàng tham gia hỗ trợ T và là người trực tiếp chiếm đoạt chiếc xe của bị hại nên bị cáo D và bị cáo M có vai trò ngang nhau và phải chịu trách nhiệm thấp hơn bị cáo T. Bị cáo Nghĩa là người đi cùng có hành vi giúp sức uy hiếp bị hại, có vai trò thứ yếu hơn nên phải chịu trách nhiệm thấp nhất trong vụ án.

[5] Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm những người đại diện hợp pháp của các bị cáo cung cấp thêm 1 số tài liệu chứng cứ mới thể hiện: Bị cáo Nguyễn Ngọc T có 02 anh trai ông nội là liệt sỹ, bị cáo Nguyễn Văn M có ông nội, ông ngoại được tặng thưởng huân chương chiến công hạng 3, bị cáo Hà Minh N có đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự.

[6] Tuy nhiên, căn cứ tính chất mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và vai trò của các bị cáo trong đồng phạm. Xét thấy mức hình phạt Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với các bị cáo là có căn cứ, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo và phù hợp với quy định pháp luật.

[7] Vì vậy không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn D, Hà Minh N; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[8] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Ngọc T là ông Nguyễn Ngọc T1, người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn M là ông Nguyễn Văn D1, người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn D là ông Nguyễn Văn C; người đại diện hợp pháp của bị cáo Hà Minh Nghĩa L2 bà Phùng Thị H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

8

[9] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn M, Hà Minh N; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2025/HS-ST ngày 17/01/2025 Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn D, Hà Minh N.

- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 58, 90, 91, 101 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên.

Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn M, Hà Minh N đồng phạm tội Cướp tài sản.

Xử phạt:

  • + Bị cáo Nguyễn Ngọc T 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11-8-2024.
  • + Bị cáo Nguyễn Văn D 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11-8-2024.
  • + Bị cáo Nguyễn Văn M 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11-8-2024.
  • + Bị cáo Hà Minh N 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Căn cứ khoản 4 Điều 123 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Hà Minh N cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Nên ông Nguyễn Ngọc T1, ông Nguyễn Văn D1, ông Nguyễn Văn C, bà Phùng Thị H mỗi người phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

9

- Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2025/HS-ST ngày 17/01/2025 Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TPΗΡ;
  • - VKSND huyện Vĩnh Bảo;
  • - PV 06 Công an TPHP;
  • - Cơ quan CSĐT huyện Vĩnh Bảo;
  • - Cơ quan THAHS huyện Vĩnh Bảo;
  • - TAND huyện Vĩnh Bảo;
  • - Sở Tư pháp TP;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, HНСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Thu

10

THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Quang Kiên Ngô Thị Thuỳ Linh

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Thu

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HS-PT ngày 24/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về cướp tài sản

  • Số bản án: 46/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger