Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HSST

Ngày: 24/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Liên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Thị Hạnh

2. Ông Phạm Bá Xuân

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Võ Yến Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2025/TL - HSST ngày 05 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Minh H, sinh năm: 2002; Giới tính: Nam; ĐKHKTT và nơi ở: Xóm C, xã N, huyện T, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Con ông Bùi Văn H1 và bà Bùi Thị T; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ ngày 14/12/2024. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 1 – C, số giam F. (Có mặt).

  • *Bị hại: Anh Bùi Đức T1, sinh năm 2000; ĐKHKTT: xóm G, xã G, huyện T, tỉnh Hòa Bình; Nơi ở: số E ngõ F T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị H2, sinh năm 1990 và anh Vũ Văn Q, sinh năm 1989; Cùng ĐKHKTT: Thôn L, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc và nơi ở: C T, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
  • *Người bào chữa cho bị cáo: Bà Bùi Thị Hải L – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Minh H và anh Bùi Đức T1 (sinh năm 2000, ĐKHKTT: xóm G, xã G, huyện T, tỉnh Hòa Bình; Nơi ở: số E ngõ F T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội) có quan hệ bạn bè. Khoảng tháng 11/2023, Bùi Minh H xuống làm thuê ở một số cửa hàng ăn uống tại Hà Nội. Chiều ngày 20/8/2024, Bùi Minh H nhắn tin hỏi mượn của T1 chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter BKS: 28E1- 20359 màu đỏ đen để đi chơi, hẹn tối sẽ trả xe, anh T1 đồng ý. Khoảng 17h30 phút cùng ngày, anh T1 giao xe cho H mượn tại khu vực Trung tâm thương mại L1, phường C, quận B, thành phố Hà Nội (không giao giấy tờ xe). Sau khi nhận xe, H điều khiển xe đi chơi đến khoảng 20h cùng ngày thì về phòng trọ tại ngõ D Â, quận T, thành phố Hà Nội để nghỉ. Do đang không có tiền tiêu xài cá nhân và để trả nợ nên H nảy sinh ý định cầm cố xe máy đã mượn của T1 để lấy tiền.

Khoảng 21h cùng ngày, H điều khiển chiếc xe máy Yamaha Exciter BKS: 28E1- 20359 màu đỏ đen đến cửa hàng kinh doanh xe máy số C T, phường C, quận B, thành phố Hà Nội của anh Vũ Văn Q (sinh năm 1989; ĐKHKTT: thôn L, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc) để hỏi cầm cố xe lấy tiền. Theo lời khai của H, tại cửa hàng, H gặp chị Phạm Thị H2 là vợ của anh Vũ Văn Q. Chị H2 hỏi nguồn gốc xe, H trả lời là xe của người quen đã đồng ý cho H sử dụng nên chị H2 tin tưởng. Chị H2 đồng ý nhận xe làm tin và cho H vay 5.000.000 đồng, chưa hẹn ngày trả tiền, chị H2 chuyển khoản từ tài khoản Ngân hàng mang tên VU VAN QUAN (số tài khoản 683588889999 mở tại Ngân hàng T2) đến tài khoản Ngân hàng của Bùi Minh H (số tài khoản 838601012002 mở tại Ngân hàng M) số tiền 5.000.000 đồng.

Ngày hôm sau, H quay lại cửa hàng và xin vay thêm 7.000.000 đồng, chị H2 đồng ý và yêu cầu H viết giấy bán xe. Tại cửa hàng, H viết cho chị H2 01 giấy bán xe, nội dung bán xe với giá 15.000.000 đồng, H đã nhận 12.000.000 đồng, H hẹn đem giấy tờ xe đến sẽ lấy nốt số tiền còn lại và H đặt 01 căn cước công dân mang tên Bùi Minh H để làm tin. Toàn bộ số tiền trên, H đã tiêu xài hết.

Quá thời hạn phải trả xe, anh Bùi Đức T1 liên tục đòi xe nhưng H khất vài lần không trả và H có nói với anh T1 là H đã cầm cố xe tại cửa hàng số C T, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Ngày 08/12/2024, anh T1 trình báo sự việc đến Công an phường C, quận B, thành phố Hà Nội.

Ngày 13/12/2024, Công an phường C triệu tập được Bùi Minh H. Tại cơ quan Công an, Bùi Minh H khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

Cơ quan Công an thu giữ của Bùi Minh H: 01 điện thoại Samsung M20 màu đen, số IMEI: 354556102060830, số sim 0378133352.

Kiểm tra điện thoại, Cơ quan điều tra thu được lịch sử giao dịch thể hiện H nhận được số tiền 5.000.000 đồng ngày 20/8/2024 phù hợp lời khai của chị Phạm Thị H2.

Cơ quan điều tra đã dẫn giải Hạc chỉ ra được địa điểm đã cầm cố xe của anh Bùi Đức T1 tại cửa hàng số C T, phường C, quận B, thành phố Hà Nội nhưng không thu hồi được chiếc xe máy của anh Bùi Đức T1 do anh Q, chị H2 đã bán xe cho một người không rõ lai lịch (chỉ nhớ tên người này là D) với giá 8.000.000 đồng (không giữ giấy tờ mua bán xe).

Bản kết luận định giá số 106 ngày 18/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận B kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Exciter 150 biển kiểm soát 28E1 – 20359 chưa thu giữ được, đã qua sử dụng, trị giá là 20.000.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã ra Thông báo truy tìm vật chứng số 5593 ngày 26/12/2024.

Quá trình điều tra, anh Vũ Văn Q và chị Phạm Thị H2 phủ nhận lời khai của H về việc cầm cố xe, khai H đến cửa hàng để bán xe. Chị H2 giao nộp 01 giấy bán xe do Bùi Minh H viết. Bản kết luận giám định số 653 ngày 16/1/2025 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Chữ viết, chữ ký đứng tên Bùi Minh H trên mẫu cần giám định với chữ ký, chữ viết đứng tên Bùi Minh H trên các mẫu so sánh là chữ do cùng một người viết và ký ra.

Bà Bùi Thị T (mẹ đẻ của Bùi Minh H) đã thay mặt H bồi thường cho anh Bùi Đức T1 số tiền 40.000.000 đồng, không yêu cầu H phải trả lại số tiền trên. Anh T1 không còn yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo H.

Quá trình điều tra, Bùi Minh H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của H phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tài liệu thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Đối với Vũ Văn Q, Phạm Thị H2: anh Q, chị H2 có giấy phép đăng ký kinh doanh hợp lệ, không biết nguồn gốc xe do H phạm tội mà có, Cơ quan điều tra không xử lý về hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Đối với hành vi mua bán xe máy không có giấy tờ chính chủ, không lưu giữ thông tin người mua xe làm ảnh hưởng đến quá trình thu hồi tài sản, Công an quận B ra quyết định số 21, 22 ngày 18/2/2025 xử phạt vi phạm hành chính đối với Vũ Văn Q và Phạm Thị H2.

Cáo trạng số: 31/CT - VKS ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố Bùi Minh H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ Luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Minh H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về hành vi phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xét nhân thân bị cáo Bùi Minh H không có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đề nghị về hình phạt:

  • Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; Điều 38; Điều 47; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 ; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: Bị cáo Bùi Minh H mức án từ 10 tháng tù đến 15 tháng tù.
  • Về dân sự: Bị hại đã nhận bồi thường số tiền 40.000.000 đồng và không có yêu cầu bồi thường dân sự.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
  • Về xử lý vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Samsung M20 màu đen, số Imei: 354556102060830, lắp sim 0378133352.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Bùi Thị Hải L – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo là người dân tộc thiểu số, thiếu hiểu biết; Phạm tội khi tuổi đời còn trẻ, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân tốt. Gia đình bị cáo là người có công với Cách mạng. Mẹ bị cáo đã thay bị cáo bồi thường thiệt hại (khắc phục hậu quả). Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 14/12/2024 đến nay nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo ngoài xã hội, để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời. Bị cáo là người dân tộc thiểu số nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức án treo vì bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở để kết luận: Ngày 20/8/2024, tại khu vực chân tòa nhà T thương mại L, phường C, quận B, thành phố Hà Nội, Bùi Minh H đã mượn tài sản của anh Bùi Đức T1 là 01 xe máy Exciter 150 biển kiểm soát 28E1 – 20359 trị giá 20.000.000 đồng để sử dụng, hẹn ngày hôm sau sẽ trả xe nên anh T1 tin tưởng cho H mượn. Do cần tiền tiêu xài và trả nợ, tối ngày 20/8/2024, Bùi Minh H điều khiển xe đến cửa hàng xe máy số C T, phường C, quận B, thành phố Hà Nội, viết giấy bán xe và giao xe cho chị Phạm Thị H2, số tiền nhận được tổng cộng là 12.000.000.đồng, H đã tiêu xài cá nhân hết. Giá trị tài sản mà H chiếm đoạt là 20.000.000 đồng. Chiếc xe máy bị chiếm đoạt hiện chưa thu hồi được. Bà Bùi Thị T (mẹ đẻ của Bùi Minh H) đã thay mặt bị cáo H bồi thường cho người bị hại.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bản kết luận giám định cùng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Bùi Minh H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cần áp dụng cho bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; mẹ bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả thay bị cáo bồi thường số tiền 40.000.000 đồng cho người bị hại. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo là người dân tộc thiểu số; Gia đình bị cáo là người có công với Cách mạng. Khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 .

Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo cũng như cân nhắc đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có địa chỉ nơi cư trú rõ ràng. Có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát và giáo dục cũng đủ để bị cáo có thời gian tu dưỡng rèn luyện bản thân, cải tạo ổn định cuộc sống cũng như để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Tài liệu có trong hồ sơ cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tiền bồi thường và không yêu cầu Tòa án giải quyết về dân sự nên Tòa án không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Exciter 150 biển kiểm soát 28E1- 20359 hiện chưa thu hồi được. Cơ quan điều tra đã ra Thông báo truy tìm vật chứng số 5593 ngày 26/12/2024. Anh Bùi Đức T1 đã nhận bồi thường thiệt hại của bị cáo Bùi Minh H, anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết về dân sự.

Đối với 01 điện thoại Samsung M20 màu đen, số IMEI: 354556102060830, số sim 0378133352 thu giữ của bị cáo cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước. Vật chứng trên đang lưu giữ theo biên bản giao vật chứng số 95 ngày 25/02/2025 tại Chi Cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, Hà Nội.

[8]. Bị cáo là người dân tộc thiểu số nên bị cáo không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH

Xử:

  1. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; Điều 47; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
  2. Tuyên bố bị cáo Bùi Minh H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".

    Xử phạt: Bị cáo Bùi Minh H 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 24/03/2025).

    Giao bị cáo Bùi Minh H cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Hòa Bình đế giám sát và giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Hòa Bình trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trong trường hợp người bị phạt tù được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

  3. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Samsung M20 màu đen, số IMEI: 354556102060830, số sim 0378133352. Vật chứng trên đang lưu giữ theo biên bản giao vật chứng số 95 ngày 25/02/2025 tại Chi Cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, Hà Nội.

    Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Exciter 150 biển kiểm soát 28E1- 20359 hiện chưa thu hồi được. Cơ quan điều tra đã ra Thông báo truy tìm vật chứng số 5593 ngày 26/12/2024. Anh Bùi Đức T1 đã nhận bồi thường thiệt hại của bị cáo Bùi Minh H, anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết về dân sự.

  4. Về án phí: Bị cáo không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình;
  • - Trại tạm giam số 1 Công an TP Hà Nội;
  • - Công an quận Ba Đình;
  • - Chi cục THA dân sự quận Ba Đình;
  • - UBND xã Nhân Mỹ, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình
  • - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Đinh Ngọc Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HSST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 46/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Minh H, sinh năm: 2002; Giới tính: Nam; ĐKHKTT và nơi ở: Xóm C, xã N, huyện T, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Con ông Bùi Văn H1 và bà Bùi Thị T; Tiền án, tiền sự: Không.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger