|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2025/HS-PT
Ngày: 19-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Võ Trinh.
Ông Nguyễn Tuấn Anh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Trần Thị Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 31/2025/TLPT-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo Ngô Thanh H và Hà Văn D. Do có kháng cáo của các bị cáo Ngô Thanh H và Hà Văn D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 68/2024/HS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự.
Bị cáo có kháng cáo:
- Ngô Thanh H, sinh ngày 01/01/1978, tại tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Khóm N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Văn H1 (chết) và con bà Nguyễn Thị L; Có vợ và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/01/2011, Ủy ban nhân dân thành phố L, ra Quyết định đưa người nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh, thời hạn chấp hành 24 tháng, chấp hành xong ngày 18/01/2013; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Hà Văn D (tên gọi khác: C), sinh ngày 30/8/1998, tại tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Khóm N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn S (chết) và con bà Hà Thị Kim H2 (chết); Có vợ và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án còn có bị hại Trần Thanh P không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 27 tháng 10 năm 2024, Hà Văn D điều khiển phương tiện vỏ lãi chở Ngô Thanh H đến thủy phận sông tiền thuộc ấp C, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, để đánh bắt (chày) cá. Đến khoảng 05 giờ 15 phút ngày 28 tháng 10 năm 2024, H phát hiện xà lan của Trần Thanh P neo đậu, không đóng cửa canbin, H nảy sinh ý định lấy trộm tài sản và rủ D tìm tài sản lấy trộm, D đồng ý. Lúc này H lên xà lan phát hiện những thùng nhựa màu cam, nhãn hiệu “CATER PLUS dầu nhờn”, H lấy trộm chuyền xuống cho D dưới vỏ lãi, lấy được 05 – 06 thùng, D lên xà lan chuyền những thùng dầu nhờn xuống cho H (D và H đổi vị trí), cả 02 lấy trộm tổng 28 thùng dầu nhờn. Đến khoảng 05 giờ 30 phút, Trịnh Hoàng T (người làm thuê trên xà lan) phát hiện truy hô, H và D điều khiển vỏ lãi bỏ chạy. Lúc ngày, anh P gọi điện cho Trạm Cảnh sát giao thông đường thủy T báo tin. Đến khoảng 06 giờ 30 phút, lực lượng Công an phát hiện D và H ném các thùng dầu nhờn xuống sông. Ngày 29 tháng 10 năm 2024, H và D đến Cơ quan Công an đầu thú về hành vi lấy trộm tài sản của anh P. Lực lượng Công an phối hợp quần chúng nhân dân trục vớt được 26 thùng dầu nhờn. Xét thấy có dấu hiệu tội phạm nên Trạm Cảnh sát giao thông đường thủy Tân Châu chuyển toàn bộ hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện H điều tra theo thẩm quyền.
Kết luận định giá tài sản số 48/KLHĐĐGTS-TTHS, ngày 31/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận: 28 thùng nhựa màu cam được đóng kín, nhãn hiệu “CATER PLUS dầu nhờn”, thể tích thực mỗi thùng 18 lít, chưa qua sử dụng có giá: 38.332.000 đồng.
Vật chứng thu giữ và xử lý:
- - 01 (một) chày lưới bắt cá; 01 tuýp sắt tròn, dài 34 cm; 01 tuýp sắt tròn, dài 34 cm; 01 xà beng, dài 52 cm; 01 xà beng dài 62 cm; 01 cây cù ngéo bằng kim loại, cán gỗ dài 20 cm; 01 cây búa kim loại, dài 40cm; 01 cây búa kim loại, dài 45 cm; 01 búa kim loại, cán gỗ dài 35 cm; 02 đèn pin; 01 sợi dây thừng dài 12 m; 01 thùng kim loại đựng dụng cụ: kiềm, chìa khóa, tua vít, cờ lê và 01 điện thoại di động, màu đen, nhãn hiệu N. Là tài sản của bị can H, trong quá trình điều tra, chứng minh được không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra trả lại cho bị can H.
- - 01 (một) áo thun có cổ, màu đỏ ngắn tay; 01 (một) quần thun ngắn màu đen, có sọc đỏ; 01 (một) áo thun, màu đen ngắn tay, phía trước có hình đầu cọp; 01 (một) quần short jean, màu trắng xanh (tất cả đã qua sử dụng), là của các bị can H và D mặc khi thực hiện lấy trộm tài sản của bị hại P.
- - 01 (một) điện thoại, màu bạc ánh kim, nhãn hiệu OPPO, kiểu máy CPH2251. Là tài sản của bị can D trong quá trình điều tra, chứng minh được không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra trả lại cho bị can D.
- - 26 thùng nhựa màu cam được đóng kín, nhãn hiệu “CATER PLUS dầu nhờn”, chưa qua sử dụng. Là tài sản mất trộm của bị hại P, ngày 04/11/2024 Cơ quan điều trả lại cho anh P.
- - Tiền Việt Nam 3.000.000 đồng (bị can H 2.700.000 đồng; bị can D 300.000 đồng) các bị can tự nguyện giao nộp, khắc phục hậu quả. Ngày 19/11/2024, Cơ quan điều tra trao trả cho bị hại P.
- - 01 (một) võ lãi composite, màu xanh trắng có ghi “VTC Vạn Trường” có gắn máy ngoài màu cam nhãn hiệu HINOTA, 18.0 HP (đã qua sử dụng), tài sản của bị can H. Các bị can H, D dùng làm phương tiện để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 68/2024/HS-ST ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Ngô Thanh H, Hà Văn D cùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điều 17, các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Ngô Thanh H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điều 17, các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hà Văn D (tên gọi khác: Cao) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo tuyên theo luật định.
Ngày 07 tháng 01 năm 2025, các bị cáo Ngô Thanh H và Hà Văn D cùng có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt hoặc xử phạt cải tạo không giam giữ hoặc cho các bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của các bị cáo Ngô Thanh H và Hà Văn D bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Các bị cáo Ngô Thanh H và Hà Văn D cùng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt hoặc xử phạt cải tạo không giam giữ hoặc cho các bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo Ngô Thanh H có cung cấp chứng cứ mới là bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính, bản thân bị cáo đang mang bênh tiểu đường, nuôi mẹ già mất khả năng lao động, vợ bỏ nên bị cáo phải nuôi con nhỏ mới học lớp một có xác nhận của chính quyền địa phương; bị cáo Hà Văn D có cung cấp chứng cứ mới là bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính nuôi vợ đang mang thai và nuôi hai con còn nhỏ có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết mới mà các bị cáo cung cấp không là điều kiện cho bị cáo được cải tạo không giam giữ hoặc hưởng án treo theo quy định. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Thanh H và Hà Văn D, giữ nguyên phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo H và D.
Các bị cáo Ngô Thanh H và Hà Văn D thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin được hưởng án treo để có điều kiện chăm lo gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, các bị cáo Ngô Thanh H và Hà Văn D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị cáo đồng phạm, bị hại, người làm chứng cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Khoảng 05 giờ 15 phút ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại thủy phận sông tiền thuộc ấp C, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo H phát hiện xà lan của bị hại Trần Thanh P neo đậu, không đóng cửa canbin, bị cáo H nảy sinh ý định lấy trộm tài sản và rủ D tìm tài sản lấy trộm. Cả hai bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm tài sản là 28 (hai mươi tám) thùng nhựa màu cam, được đóng kín, mang nhãn hiệu “CATER PLUS dầu nhờn”, thể tích thực mỗi thùng 18 lít, chưa qua sử dụng của bị hại Trần Thanh P, với tổng giá trị là 38.332.000 (ba mươi tám triệu ba trăm ba mươi hai nghìn) đồng.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của các bị cáo Ngô Thanh H và Hà Văn D là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu của người khác một cách trái pháp luật. Hành vi đó đã gây xôn xao dư luận, gây hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Các bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe để lao động chân chính tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà không cần phải lao động vất vả nên các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt tài sản là 28 (hai mươi tám) thùng dầu nhờn, với tổng giá trị là 38.332.000 (ba mươi tám triệu ba trăm ba mươi hai nghìn) đồng của bị hại Trần Thanh P. Các bị cáo thừa biết việc thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, là có tội nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện, chứng tỏ việc phạm tội của bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Ngô Thanh H và Hà Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Sau khi án sơ thẩm tuyên, các bị cáo Ngô Thanh H và Hà Văn D cùng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt hoặc xử phạt cải tạo không giam giữ hoặc cho các bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo Ngô Thanh H có cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình để nuôi mẹ già mất khả năng lao động, vợ bỏ nên bị cáo phải nuôi con nhỏ mới học lớp một, bản thân bị cáo đang bị bệnh tiểu đường; bị cáo Hà Văn D có cung cấp chứng cứ mới bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, vợ đang mang thai và hai con còn nhỏ có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, xét mức hình phạt mà án sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là không nặng, hoàn toàn phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra và đã có cân nhắc, xem xét về nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo. Mặt khác, các tình tiết mới mà các bị cáo cung cấp cũng không là điều kiện để cho các bị cáo được cải tạo không giam giữ hoặc hưởng án treo theo quy định. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo Ngô Thanh H và Hà Văn D.
[4] Từ những nội dung trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Do kháng cáo của các bị cáo Ngô Thanh H và Hà Văn D không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được cải tạo không giam giữ hoặc được hưởng án treo của các bị cáo Ngô Thanh H và Hà Văn D. Giữ nguyên phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo Ngô Thanh H và Hà Văn D.
-
Tuyên bố các bị cáo Ngô Thanh H và Hà Văn D cùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Ngô Thanh H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
Xử phạt bị cáo Hà Văn D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
-
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Buộc các bị cáo Ngô Thanh H và Hà Văn D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Khắc Thịnh |
Bản án số 46/2025/HS-PT ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 46/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRỘM CẮP TÀI SẢN
