TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 42/2025/DS-PT Ngày: 14-03-2025 V/v: “Yêu cầu tuyên bố chấm dứt hợp đồng thuê nhà; kiện đòi tài sản và yêu cầu tuyên bố hủy bỏ HĐCNQSDĐ và tài sản gắn liền với đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hà Giang;
Các thẩm phán: ông Nguyễn Việt Hùng và bà Nguyễn Thị Hằng;
Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Ngọc Thương Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: ông Lương Thất Tùng – Kiểm sát viên trung cấp.
Trong các ngày 14/01/2025, 14/02/2025 và 14/03/2025, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 215/2024/TLPT-DS ngày 06/11/2024 về việc “Yêu cầu tuyên bố chấm dứt hợp đồng thuê nhà, kiện đòi tài sản và yêu cầu tuyên bố hủy bỏ HĐCNQSDĐ và tài sản gắn liền với đất” do bản án dân sự sơ thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 292/2024/QĐ-PT ngày 15/11/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 423/2024/QĐ-PT ngày 28/11/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 465/2024/QĐ-PT ngày 25/12/2024; Quyết định tạm ngừng phiên toà số 07/2025/QĐ-PT ngày 14/01/2025 và Quyết định tạm ngừng phiên toà số 30/2025/QĐ-PT ngày 14/02/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1977 (vắng mặt). Địa chỉ: Lô A, BLK A, khu F, đường N, tổ dân phố T, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị H là Văn phòng Luật sư Kim Vĩnh A. Văn phòng Luật sư Kim Vĩnh A cử bà Giáp Thị V (có mặt) và bà Nguyễn Thị L (vắng mặt) là Luật sư tham gia tố tụng.
Địa chỉ: số nhà D, đường X, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Bị đơn: ông Phùng Văn T, sinh năm 1979 và bà Tạ Thị H1, sinh năm 1987 (đều có mặt);
Đều có địa chỉ: thôn Q, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Hoàng Thế S, Công ty L1, Đoàn luật sư thành phố H (có mặt).
Địa chỉ: số nhà A, phố Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân (UBND) xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);
- UBND huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);
- Văn phòng C. Địa chỉ: Lô G, phân khu A, khu S, khu đô thị P, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);
- Ngân hàng TMCP V1 (V2). Địa chỉ: số nhà H, phố L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội do ông Ngô Văn T1, bà Vũ Thị Hồng N và ông Nguyễn Văn D - Đều là chuyên viên xử lý nợ đại diện theo uỷ quyền. Địa chỉ: số nhà B, đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
- Văn phòng C1; Địa chỉ: số B, đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
Người kháng cáo: anh Nguyễn Văn T2 và chị Tạ Thị H1 là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án dân sự sơ thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang thì nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn - bà Nguyễn Thị H trình bày: đề nghị Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
- Tuyên bố chấm dứt hợp đồng thuê nhà ngày 14/9/2022 giữa bên cho thuê là bà Nguyễn Thị H và bên thuê là ông Phùng Văn T, bà Tạ Thị H1. Tài sản cho thuê là 01 ngôi nhà trần xây dựng khoảng 150m² được xây trên thửa đất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) số Q 878479, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 01866 QSDĐ/QĐ số 663 QĐ-CT (H) T155-Q12 do UBND huyện L cấp ngày 24/10/2001 cho hộ ông Phùng Văn T3; ngày 12/9/2022 được Chi nhánh Văn phòng Đ xác nhận đã chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị H.
- Buộc ông Phùng Văn T, bà Tạ Thị H1 phải di chuyển đi chỗ khác, trả lại nhà đất cho bà Nguyễn Thị H.
- Buộc ông Phùng Văn T và bà Tạ Thị H1 phải thanh toán toàn bộ tiền thuê nhà từ thời điểm ký hợp đồng cho đến khi bàn giao xong nhà. Tạm tính đến ngày nộp đơn khởi kiện là 102.000.000 đồng (một trăm linh hai triệu đồng).
Căn cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện như sau: năm 2022 thông qua người quen giới thiệu vợ chồng ông Phùng Văn T, bà Tạ Thị H1 có nhu cầu chuyển nhượng nhà đất tại GCNQSDĐ số Q878479, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 01866 QSDĐ/QĐ số 663 QĐ-CT (H) T155-Q12 do UBND huyện L cấp ngày 24/10/2001 cho hộ ông Phùng Văn T3. Ngày 31/8/2015, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện L xác nhận tặng cho quyền sử dụng đất cho ông T và bà H1 với diện tích 813 m² đất vườn, 360 m² đất ở; thời hạn sử dụng lâu dài; tài sản gắn liền với đất là 01 ngôi nhà trần có diện tích xây dựng khoảng 150 m²; địa chỉ thửa đất tại thôn Q, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi trao đổi thoả thuận hai bên đã thống nhất giao dịch mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên và được thực hiện tại Văn phòng công chứng (viết tắt VPCC) Nguyễn Văn T4.
Sau khi thực hiện công chứng chuyển nhượng, tại VPCC bà đã thanh toán đủ 1,5 tỷ đồng cho vợ chồng ông T, bà H1. Việc giao tiền cho ông T, bà H1 bà giao tay, không làm giấy giao nhận, có bà Cao Thị T5 là bạn bà đi cùng làm chứng. Ông T, bà H1 cũng đã thực hiện nghĩa vụ giao nhà đất cho bà quản lý, sử dụng đồng thời hai bên cũng đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ xác nhận chỉnh lý và cấp sổ mới cho bà được toàn quyền quản lý, sử dụng đối với diện tích nhà đất này. Ngày 10/11/2022, bà đã được UBND huyện L cấp GCNQSDĐ số DH 147368 với diện tích 1419,5m².
Tuy nhiên, sau đó vợ chồng ông T, bà H1 có đề nghị với bà cho vợ chồng họ thuê lại diện tích nhà đất này trong thời hạn 3 năm kể từ ngày 14/9/2022 đến ngày 13/9/2025 với giá 6 triệu đồng/tháng trong năm đầu tiên; từ năm thứ 2 giá thuê tăng thêm 10% so với giá thuê của năm trước. Khi cho thuê nhà thì giữa bà với vợ chồng ông T, bà H1 có lập hợp đồng thuê tại VPCC.
Sau khi bàn giao nhà đất cho vợ chồng ông T, bà H1 theo hợp đồng thuê nhà, bà đã nhiều lần yêu cầu vợ chồng ông T, bà H1 phải thanh toán tiền thuê đầy đủ, tuy nhiên, ông T, bà H1 cố tình không thanh toán cho bà theo thoả thuận. Bà H1, ông T cũng chưa thanh toán cho bà số tiền đặt cọc 12 triệu đồng đảm bảo khi thuê nhà. Do đó tháng 5/2023 bà đã gọi điện thông báo cho ông T, bà H1 và gửi cả thông báo bằng văn bản yêu cầu ra khỏi nhà đất để trả lại tài sản cho bà nhưng ông T, bà H1 không trả. Mặt khác ông T, bà H1 lại gửi đơn khởi kiện bà đến Tòa án đề nghị giải quyết liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng đất với bà, nhưng sau đó lại rút đơn khởi kiện.
Sau khi bà mua nhà đất trên của bà H1, ông T, bà đã làm thủ tục thế chấp tài sản, vay tiền Ngân hàng TMCP V1 (viết tắt là V3) số tiền 2,9 tỷ đồng để trả cho một số người bà đã vay tiền trước đó để lấy tiền trả tiền mua nhà đất cho bà H1, ông T. Đến nay bà vẫn chưa trả, Ngân hàng vẫn đang giữ GCNQSDĐ của bà.
Việc mua bán nhà đất, cho thuê nhà đất này không liên quan đến bất cứ ai, không liên quan đến chồng con của bà vì chồng bà đã mất trước khi bà mua đất và cho vợ chồng ông T, bà H1 thuê nhà; còn các con của bà ở riêng không ở chung với bà.
Nay vợ chồng ông T, bà H1 cố tình không thực hiện đúng các thoả thuận tại hợp đồng thuê nhà ngày 14/9/2022, không thanh toán tiền thuê nhà cho bà. Do đó bà đề nghị Toà án xem xét giải quyết.
Bà Nguyễn Thị L đại diện theo ủy quyền của bà H trình bày: Bà xác định bà H đã trả cho ông T, bà H1 1.500.000.000 đồng (một tỷ năm trăm triệu đồng) cùng ngày giao kết hợp đồng 22/8/2022 tại VPCC Nguyên Văn T6. Việc giao nhận tiền không làm giấy tờ gì, do sơ suất nên bà H không làm giấy tờ gì và cũng không có người làm chứng. Nếu trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà sẽ xem xét khởi kiện ông T, bà H1 trả lại 1.500.000.000 đồng (một tỷ năm trăm triệu đồng) bằng vụ án dân sự khác, không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
Bà không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Bị đơn - ông Phùng Văn T, bà Tạ Thị H1 trình bày: đề nghị Tòa án tuyên bố hủy bỏ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (viết tắt HĐCNQSDĐ) và tài sản gắn liền với đất ngày 22/8/2022 giữa bên chuyển nhượng là ông Phùng Văn T, bà Tạ Thị H1 và bên nhận chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị H; hợp đồng được công chứng ngày 22/8/2022 tại VPCC Nguyễn Văn T4, số công chứng: 1174; quyển số: 03/2022 TP/CC-SCC/HĐGD.
Lý do yêu cầu hủy Hợp đồng trên vì: ngày 22/8/2022 bị đơn thỏa thuận giao kết HĐCNQSDĐ với nguyên đơn; giá chuyển nhượng là 1.500.000.000 đồng. Tuy nhiên đến nay bà H chưa trả tiền cho bị đơn nên bà H đã vi phạm hợp đồng; ông bà cũng chưa bàn giao đất nhà cho bà H, hiện tại vợ chồng ông bà vẫn đang quản lý nhà đất trực tiếp; bà H chưa quản lý đất ngày nào.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông T ý kiến: ông xác nhận ông và bà H1 có lập HĐCNQSDĐ ngày 22/8/2022 với bà H, giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 1,5 tỷ đồng; hợp đồng được công chứng theo quy định của pháp luật. Ông biết việc lập hợp đồng trên thì bà H sẽ được đăng ký quyền sử dụng đất tên bà H. Sau khi đăng ký quyền sử dụng đất mang bà H, ông và bà H1 có ký hợp đồng thuê nhà ngày 14/9/2022, hai bên đều ký vào hợp đồng. Hợp đồng thuê nhà đã được VPCC Nguyễn Văn T4 chứng thực cùng ngày 14/9/2022.
Bà H có làm thủ tục vay tiền Ngân hàng, cán bộ Ngân hàng có đến gia đình ông xem đất, nhà và chụp ảnh, ông có biết, có phối hợp với Ngân hàng để bà H vay tiền Ngân hàng. Thời điểm này ông đã biết bà H được GCNQSDĐ, ông xác định bà H vay tiền để trả tiền nhận chuyển nhượng đất cho ông, nên ông không khiếu nại gì. Tuy nhiên bà H sau khi vay tiền Ngân hàng bà H không trả cho ông. Vợ chồng ông đã đòi nhiều lần nhưng bà H không trả. Nay ông xác định bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng nên ông yêu cầu Tòa án hủy bỏ HĐCNQSDĐ và tài sản gắn liền với đất ngày 22/8/2022 giữa vợ chồng bà và bà H; các hợp đồng, giao dịch ký về sau sẽ không có giá trị.
Nếu yêu cầu khởi kiện của ông không được chấp nhận, ông sẽ khởi kiện yêu cầu bà H trả bà 1.500.000.000 đồng bằng một vụ kiện khác.
Ông T và bà H1 thống nhất rút yêu cầu: “Đề nghị Tòa án tuyên hủy GCNQSDĐ số DH 147368 do UBND huyện L cấp cho bà Nguyễn Thị H ngày 10/11/2022, số vào sổ GCN: CH 01856.
Đề nghị Tòa án tuyên ông, bà có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký, kê khai lại quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở theo quy định của pháp luật”.
Ông T, bà H1 không yêu cầu gì đối với Hợp đồng thuê nhà ngày 14/9/2022 giữa bên cho thuê là bà H và bên thuê là ông T, bà H1 và Hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất với Ngân hàng. Nếu sau này có vướng mắc gì, ông và bà H1 khởi kiện bằng vụ án khác.
Đối với các đơn ông T và bà H1 đã nộp: Đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang khoảng tháng 8-2023, nhưng Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang không thụ lý; đơn tố cáo đến Công an huyện L khoảng tháng 10/2023, Công an huyện L cũng đã gọi ông lên lấy lời khai, đến nay vẫn chưa nhận được kết quả trả lời. Nay ông xác định nộp đơn phản tố tại Tòa án Lục Nam giải quyết. Ông và bà H1 xin rút đơn tại Công an huyện L, không yêu cầu giải quyết nữa.
Bà Tạ Thị H1 trình bày: nhất trí lời trình bày của ông T và ủy quyền cho ông T tham gia tố tụng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - UBND xã Y, huyện L trình bày: các đương sự tranh chấp HĐCNQSDĐ không gửi đơn đến UBND xã giải quyết, Ủy ban không ban hành văn bản gì về giải quyết tranh chấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - UBND huyện L trình bày: thửa đất bà Nguyễn Thị H có nguồn gốc nhận chuyển nhượng từ ông Phùng Văn T và bà Tạ Thị H1. Ông T và bà H1 chuyển nhượng đất cho bà H là đúng quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - VPCC Nguyễn Văn N1 trình bày: ngày 04/01/2023, VPCC Nguyễn Văn N1 đã chứng nhận hợp đồng thế chấp số công chứng: 14, quyển số 01/2023.TP/CC- SCC/HĐGD giữa bên thế chấp là bà Nguyễn Thị H với bên nhận thế chấp là V3. Theo đó bà H thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất của bà H cho Ngân hàng để đảm bảo cho nghĩa vụ vay vốn. Tài sản là các quyền sử dụng đất gồm: thửa đất số 86; tờ bản đồ số 32 theo GCNQSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DH 147368 do UBND huyện L cấp ngày 10/11/2022 và thửa đất số 22; tờ bản đồ số 56 theo GCNQSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CC 448652 do UBND huyện L cấp ngày 27/8/2014. VPCC Nguyễn Văn N1 đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
Cụ thể: ngày 04/01/2023, VPCC tiếp nhận phiếu yêu cầu công chứng và đầy đủ giấy tờ văn bản liên quan. Qua kiểm tra hồ sơ và xét năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu công chứng, VPCC nhận thấy: người yêu cầu công chứng có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, hồ sơ công chứng đầy đủ, hợp lệ; các giấy tờ liên quan được các cơ quan nhà nước cấp đúng thẩm quyền. Nội dung của hợp đồng không trái với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, các bên cam đoan việc giao kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện không bị lừa dối, ép buộc, VPCC tiến hành thực hiện việc công chứng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - VPCC Nguyễn Văn T4 trình bày: VPCC Nguyễn Văn T4 đã thực hiện chứng nhận HĐCNQSDĐ ngày 22/8/2022 giữa bên chuyển nhượng là ông Phùng Văn T, bà Tạ Thị H1 và bên nhận chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị H; tài sản chuyển nhượng là quyền sử dụng đất đã được cấp GCNQSDĐ số Q 878479, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 01866 QSDĐ/QĐ số 663 QĐ-CT (H) T155-Q12 do UBND huyện L cấp ngày 24/10/2001 cho hộ ông Phùng Văn T3. Ngày 31/8/2015, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện L xác nhận tặng cho ông Phùng Văn T và bà Tạ Thị H1. VPCC đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục đúng pháp luật.
Đối với hợp đồng thuê nhà ngày 14/9/2022,VPCC đã nhận được Phiếu yêu cầu công chứng của bà H1. Cán bộ VPCC yêu cầu Bên cho thuê cung cấp GCNQSDĐ, Chứng minh nhân dân, Sổ hộ khẩu, Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; Bên thuê cung cấp Căn cước công dân, Sổ hộ khẩu. Sau khi nghiên cứu hồ sơ do hai bên cung cấp thấy đảm bảo đầy đủ thủ tục, cán bộ VPCC tiến hành soạn thảo Hợp đồng thuê nhà. Bên cho thuê là bà Nguyễn Thị H; bên thuê là ông Phùng Văn T và bà Tạ Thị H1. Tài sản cho thuê là một ngôi nhà trần diện tích xây dựng 150 m² gồm 03 phòng ngủ, 02 nhà vệ sinh và 01 bếp được xây dựng trên thửa đất theo GCNQSDĐ số: Q 878879, số vào sổ cấp GCN: 01856 do UBND huyện L cấp ngày 24/10/2001 cho Hộ ông Phùng Văn T3. Ngày 31/8/2015, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện L xác nhận tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Phùng Văn T và bà Tạ Thị H1. Ngày 12/9/2022, Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ xác nhận chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị H diện tích 1173 m² đất, trong đó 813 m² đất vườn, 360 m² đất ở tại xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Thời hạn thuê nhà là: 03 năm tính từ 14/9/2022 đến ngày 13/9/2025. Mục đích thuê nhà: để ở. Giá thuê nhà là: 6.000.000 đồng/tháng, trong vòng 01 năm đầu tiên và từ năm thứ 2 giá thuê tăng 10% so với giá thuê của năm liền trước. Bên thuê đặt cọc trước cho Bên cho thuê 12.000.000 đồng ngay sau khi ký Hợp đồng này. Việc giao và nhận số tiền thuê nhà do hai bên tự thực hiện và chịu trách nhiệm trước pháp luật, không có sự chứng kiến của công chứng viên.
Sau khi Hợp đồng đã được soạn xong và in ra làm 05 bản, giao cho Bên thuê cho thuê và Bên thuê đọc lại, hai bên đều nhất trí không có ý kiến thêm hoặc bớt điều khoản nào, sau đó hai bên cùng ký vào từng trang của Hợp đồng, trang cuối có ghi rõ họ tên và điểm chỉ. Cán bộ soạn thảo soạn Lời chứng của Công chứng viên, trong Lời chứng có nêu các bên tự nguyện giao kết Hợp đồng này; Tại thời điểm ký và điểm chỉ vào Hợp đồng này các bên có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật; Các bên giao kết cam đoan bàu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, hợp pháp của các giấy tờ đã cung cấp liên quan đến việc giao kết Hợp đồng này; Mục đích, nội dung của Hợp đồng không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Sau đó vào số công chứng số 1249 Quyển 03/2022, Công chứng viên đã ký tên và đóng dấu vào lời chứng gắn vào Hợp đồng thuê nhà, sau đó giao cho B cho thuê 02 bản, Bên thuê 02 bản, 01 bản lưu tại VPCC Nguyễn Văn T4.
VPCC Nguyễn Văn T4 khẳng định việc công chứng Hợp đồng thuê nhà giữa bà H và ông T, bà H1 là đúng trình tự, thủ tục theo Luật công chứng quy định. Tài sản cho thuê là tài sản hợp pháp của bà H, bên thuê có đủ năng lực hành vi dân sự, không bị ép buộc, lừa dối.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Ngân hàng V1 (V3) trình bày: ngày 04/01/2023, V3 và bà Nguyễn Thị H ký hợp đồng tín dụng số LN22121377905, bà H vay V3 2.860.000.000 đồng. Để đảm bảo cho khoản vay tại V2, bà H đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 14/HĐTC-2023 ngày 04/01/2023 tại Văn phòng C1 các tài sản sau:
- Tài sản 1: toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (thửa đất số 86, tờ bản đồ số 32) tại địa chỉ: thôn Q, Xã Y, Huyện L theo GCNQSDĐ và quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DH 147368, số vào sổ cấp GCN: CH01856 do UBND huyện L cấp ngày 10/11/2022.
- Tài sản 2: toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (thửa đất số 22, tờ bản đồ số 56) tại địa chỉ: thôn T, Xã L, Huyện L theo GCNQSDĐ và quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CC 448652, số vào sổ cấp GCN: CH00052 do UBND Huyện L cấp ngày 27/08/2014; cập nhật thay đổi thông tin chủ sở hữu/ sử dụng lần cuối ngày 12/09/2022.
Người làm chứng - bà Cao Thị T5 trình bày: bà và bà Nguyễn Thị H có quan hệ bạn bè, chơi thân với nhau từ bé. Việc bà H mua đất của ông T và bà H1, lúc đầu bà không biết. Khi làm hợp đồng tại VPCC Nguyễn Văn T4 thì bà đi cùng và chứng kiến làm hợp đồng cũng như trả tiền cho ông T bà H1. Mọi giao dịch là bà H và ông T trao đổi, bà không biết là bao nhiêu tiền, bà chỉ thấy bà H trả tiền cho ông T, bà H1, không biết trả bao nhiêu tiền.
Với nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam đã căn cứ: khoản 1 Điều 11, khoản 5 Điều 26 của Luật đất đai năm 2024; các Điều 115, 117, 119, 164, 166, 385, 398, 401, 422, ,357, 468, 472, 474, 481, 482, 500, 501, 502, 503 của Bộ luật dân sự. Xử:
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H:
- Tuyên bố chấm dứt hợp đồng thuê nhà ngày 14/9/2022 giữa bên cho thuê là bà Nguyễn Thị H và bên thuê là ông Phùng Văn T, bà Tạ Thị H1. Tài sản cho thuê là 01 ngôi nhà trần xây dựng khoảng 150m² được xây trên thửa đất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 878479, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 01866 QSDĐ/QĐ số 663 QĐ-CT (H) T155-Q12 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang cấp ngày 24/10/2001 cho hộ ông Phùng Văn T3; ngày 12/9/2022 được Chi nhánh Văn phòng Đ xác nhận đã chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị H (ngày 10/11/2022 Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH 14368; số vào sổ cấp GCN: CH 1856 T110, Q19 mang tên bà Nguyễn Thị H). Buộc ông Phùng Văn T và bà Tạ Thị H1 phải di chuyển đi chỗ khác, trả lại nhà đất trên cho bà Nguyễn Thị H.
- Buộc ông Phùng Văn T và bà Tạ Thị H1 phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị H tiền thuê nhà từ thời điểm ký hợp đồng cho đến ngày xét xử sơ thẩm là 144.000.000 đồng (một trăm bốn mươi bốn triệu đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Phùng Văn T và bà Tạ Thị H1 về việc: đề nghị Tòa án tuyên bố hủy bỏ HĐCNQSDĐ và tài sản gắn liền với đất ngày 22/8/2022 giữa bên chuyển nhượng là ông Phùng Văn T, bà Tạ Thị H1 và bên nhận chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị H; hợp đồng được công chứng ngày 22/8/2022 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn T4, số công chứng: 1174; quyển số: 03/2022 TP/CC-SCC/HĐGD.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/10/2024, ông Phùng Văn T và bà Tạ Thị H1 kháng cáo (đơn kháng cáo ghi ngày 01/10/2024), đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại bản tự khai ngày 10/3/2025, ông Nguyễn Văn D là đại diện theo uỷ quyền của V3 trình bày sau khi xét xử sơ thẩm, đến tháng 12/2024 bà Nguyễn Thị H đã thanh toán toàn bộ khoản vay tại V3. V3 đã tiến hành thu nợ và giải chấp toàn bộ tài sản bảo đảm là thửa đất nêu trên của bà H. Hiện tại giữa V3 và bà H không còn bất kỳ quyền và nghĩa vụ nào với nhau và V3 cũng không còn quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên kháng cáo, các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết nội dung vụ án.
Phần tranh luận:
Luật sư Hoàng Thế S bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: có căn cứ khẳng định ông T, bà H1 chưa nhận được bất cứ đồng tiền nào từ bà H theo HĐCNQSDĐ giữa các bên ký ngày 22/8/2022. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án sơ thẩm cũng chưa làm rõ nhiều vấn đề như nghĩa vụ thực hiện của các bên theo hợp đồng. Vì vậy đề nghị HĐXX sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Huỷ HĐCNQSDĐ đã ký giữa các bên, hợp đồng thuê nhà không có giá trị pháp lý và huỷ các thủ tục hành chính liên quan. Bà H1, ông T được quyền liên hệ các cơ quan hành chính để thực hiện đăng ký lại QSDĐ.
Bà H1, ông T nhất trí với ý kiến tranh luận của Luật sư S, không bổ sung gì thêm.
Bà V đại diện theo uỷ quyền của bà H trình bày tranh luận: không nhất trí với ý kiến của phía bị đơn vì thực tế các bên đã thực hiện xong nghĩa vụ theo hợp đồng, việc trả tiền không lập biên bản nhưng thực tế đã trả hết và đã được bàn giao giấy tờ để thực hiện thủ tục chỉnh lý, sang tên GCNQSDĐ cho bà H. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư S đối đáp phía nguyên đơn trình bày trước sau mâu thuẫn như việc không ký hợp đồng tại nhà ông T, bà H1 nhưng nay lại thừa nhận trước đó có ký hợp đồng tại nhà ông T, bà H1 sau bị huỷ đi và ký lại tại VPCC. Vì vậy lời trình bày của nguyên đơn không có căn cứ tin cậy.
Bà V tranh luận: ở đây chúng tôi chỉ trình bày về những nội dung liên quan đến giao dịch đang tranh chấp, khẳng định nguyên đơn đã trả đủ tiền cho bị đơn và đã được bàn giao giấy tờ liên quan đến QSDĐ này.
Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thẩm phán, HĐXX, Thư ký đã thực hiện đúng, đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng quy định của BLTTDS do vắng mặt tại các phiên toà không có lý do. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của ông Phùng Văn T và bà Tạ Thị H1, phân tích nội dung, các tình tiết của vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 308 BLTTDS chấp nhận kháng cáo của ông Phùng Văn T và bà Tạ Thị H1, sửa bản án sơ thẩm, ông Phùng Văn T và bà Tạ Thị H1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai không có lý do hoặc có đơn xin vắng mặt, HĐXX quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 296 của BLTTDS.
Xét nội dung kháng cáo của bị đơn, HĐXX thấy:
[2] Xét HĐCNQSDĐ các bên đã ký: các đương sự đều thừa nhận: ngày 22/8/2022, ông T, bà H1 và bà H thực hiện ký HĐCNQSDĐ và tài sản gắn liền đất (đất đã được cấp GCNQSDĐ số Q878479; Số vào sổ cấp GCNQSDĐ số 01856 QSDĐ/QĐ số 663QĐ-CT(H) ngày 24/10/2001 mang tên hộ ông Phùng Văn T3; tại trang 4 của giấy đăng ký biến động ngày 31/8/2015 mang tên ông Phùng Văn T) tại VPCC Nguyễn Văn T4.
[3] Ngày 12/9/2022, bà H được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Đ đăng ký biến động quyền sử dụng đất tại trang 4 của GCNQSDĐ. Ngày 10/11/2022, UBND huyện L cấp GCNQSDĐ cho bà Nguyễn Thị H số DH 147368; thửa đất số: 86, tờ bản đồ số: 32; đại chỉ: thôn Q, xã Y, huyện L. Ngày 04/01/2023, bà H và Ngân hàng V3 thoả thuận lập hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất trên để vay tiền Ngân hàng; ông T và bà H1 biết, đồng thời đã phối hợp với Ngân hàng để bà H thế chấp quyền sử dụng đất; hợp đồng được VPCC Nguyễn Văn N1 chứng nhận cùng ngày. Như vậy việc bà H ông T, bà H1 giao kết HĐCNQSDĐ; bà H được UBND cấp GCNQSDĐ và thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm cho việc vay tiền là đúng quy định. Việc thế chấp tài sản của H đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ đã có hiệu lực pháp luật.
[4] HĐXX thấy, việc các bên ký HĐCNQSDĐ nêu trên là hợp đồng song vụ nên các bên phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 410 của Bộ luật dân sự, theo đó bà H phải có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ số tiền chuyển nhượng là 1.500.000.000 đồng, đồng thời ông T, bà H1 phải thực hiện nghĩa vụ bàn giao đất và tài sản trên đất cho bà H quản lý, sở hữu, sử dụng.
[5] Bà H và người đại diện theo ủy quyền của bà H trình bày: ngày 22/8/2022, bà và vợ chồng ông T, bà H1 đã đến VPCC Nguyễn Văn T4 để công chứng, chứng thực HĐCNQSDĐ và tài sản gắn liền với đất. Hai bên đã đọc kỹ hợp đồng và cùng nhau ký kết, sau khi ký kết xong thì bà đã thanh toán đủ số tiền 1.500.000.000 đồng cho ông T, bà H1, có bà Cao Thị T5 chứng kiến việc mua bán, trả tiền giữa các bên.
[6] Ông T, bà H1 thừa nhận có xác lập hợp đồng chuyển nhượng thửa đất nêu trên và giá chuyển nhượng là 1.500.000.000 đồng như bà H trình bày. Sau khi thỏa thuận xong, ông bà đã ký vào hợp đồng; các chữ ký trong hợp đồng là chữ ký của ông bà. Sau khi Công chứng viên chứng thực, ông bà có được nhận 1 bản của hợp đồng. Bà H nói để vay tiền ngân hàng X sẽ trả cho ông bà 1.500.000.000 đồng như hợp đồng, ông bà đồng ý. Tuy nhiên sau khi vay tiền Ngân hàng, bà H không trả cho ông bà. Ông bà đã đòi nhiều lần, nhưng bà H không trả. Vì vậy thực tế vợ chồng ông bà vẫn trực tiếp quản lý, sử dụng toàn bộ thửa đất cũng như các tài sản trên đất mà chưa khi nào bàn giao đất, tài sản trên đất cho bà H.
[7] VPCC Nguyễn Văn T4 trình bày: khi các bên ký HĐCNQSDĐ trên tại VPCC thì bà H và vợ chồng ông T, bà H1 thỏa thuận giá chuyển nhượng là 1.500.000.000 đồng và giá chuyển nhượng đã được ghi tại Điều 2 của hợp đồng. VPCC không chứng kiến hai bên giao nhận tiền cho nhau, các bên giao tiền mặt hay chuyển khoản thì VPCC không được biết.
[8] Bà Cao Thị T5 trình bày có chứng kiến việc hai bên làm hợp đồng cũng như bà H trả tiền cho ông T, bà H1 tại VPCC Nguyễn Văn T4. Mọi giao dịch là bà H và ông T trao đổi, bà không biết là bao nhiêu tiền, bà chỉ thấy bà H trả tiền cho ông T, bà H1, không biết trả bao nhiêu tiền.
[9] Quá trình giải quyết vụ án bà H không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho việc bà đã thanh toán số tiền 1.500.000.000 đồng cho ông T, bà H1 cũng như việc ông T, bà H1 đã thực hiện nghĩa vụ giao nhà đất cho bà H quản lý, sử dụng; cũng như tài liệu, chứng cứ chứng minh bà H đã trực tiếp quản lý, sử dụng nhà đất này.
[10] Như vậy, bà H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong việc thực hiện HĐCNQSDĐ và tài sản gắn liền với đất nêu trên; bà H1, ông T chưa thực hiện nghĩa vụ bàn giao nhà, QSDĐ và tài sản trên đất cho bà H. Như vậy các bên đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của mình theo thoả thuận trong hợp đồng đã ký. Do vậy ông T, bà H1 có quyền yêu cầu huỷ HĐCNQSDĐ và tài sản gắn liền với đất được lập tại VPCC Nguyễn Văn T4 ngày 22/8/2022 theo quy định tại Điều 413, Điều 423 và Điều 424 của Bộ luật dân sự và yêu cầu phản tố này của bị đơn là có căn cứ chấp nhận.
[11] Xét Hợp đồng thuê nhà ngày 15/9/2022 giữa bà H và ông T, bà H1, HĐXX thấy: thực tế các bên đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ khi thực hiện HĐCNQSDĐ đã ký, bà H chưa được ông T, bà H1 bàn giao nhà đất này mà ông T, bà H1 vẫn trực tiếp quản lý, sử dụng nhà đất nên không có việc thuê nhà như hợp đồng các bên đã ký ngày 14/9/2022. Do có căn cứ huỷ HĐCNQSDĐ đã ký giữa các bên nên Hợp đồng thuê nhà ngày 15/9/2022 không có giá trị pháp lý. Vì vậy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và có căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
[12] Do hợp đồng thuê nhà ngày 14/9/2022 không có giá trị pháp lý nên số tiền thuê nhà theo yêu cầu của nguyên đơn cũng không có căn cứ chấp nhận.
Từ phân tích nêu trên, Tòa sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc: Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 22, tờ bản đồ số 56, diện tích 1.859,1m²; địa chỉ: thôn T, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang giữa bên chuyển nhượng là Phùng Văn T và bà Tạ Thị H1 với bên nhận chuyển nhượng là Nguyễn Thị H lập tại Văn phòng C ngày 22/8/2022 theo số công chứng 1175, quyển số 03/2022 TP/CC-SCC-DHHGD là không có căn cứ.
[13] HĐXX thấy đối với việc đăng ký biến động quyền sử dụng đất từ ông Phùng Văn T sang tên bà H được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Đ đăng ký biến động quyền sử dụng đất tại trang 4 của GCNQSDĐ ngày 12/9/2022 là việc thực hiện thủ tục hành chính về đất đai theo HĐCNQSDĐ giữa các bên. Ngày 10/11/2022, UBND huyện L cấp GCNQSDĐ cho bà Nguyễn Thị H số DH 147368; thửa đất số: 86, tờ bản đồ số: 32; địa chỉ: thôn Q, xã Y, huyện L là việc thực hiện đăng ký biến động về đất đai theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 95 của Luật đất đai năm 2013 và điểm a khoản 1 Điều 133 của Luật đất đai 2024 trên cơ sở HĐCNQSDĐ đã ký giữa các bên. Do các bên vi phạm nghiêm trọng việc thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận tại HĐCNQSDĐ và tài sản gắn liền với đất nên cần phải hủy hợp đồng này. Vì vậy việc đăng ký biến động quyền sử dụng đất từ ông Phùng Văn T sang bà Nguyễn Thị H và việc UBND huyện L thực hiện đăng ký biến động đất đai, cấp GCNQSDĐ cho bà Nguyễn Thị H số DH 147368 ngày 10/11/2022 cần phải bị huỷ bỏ theo quy định tại Điều 47 Nghị định 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính Phủ và Điều 133, khoản 2, khoản 3 Điều 152 của Luật đất đai năm 2024. Như vậy sau khi bản án phúc thẩm có hiệu lực Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ cần phải hủy giao dịch đăng ký biến động quyền sử dụng đất từ ông T, bà H1 sang bà H. UBND huyện L cần huỷ Quyết định cấp GCNQSDĐ và GCNQSDĐ cấp cho bà Nguyễn Thị H số DH 147368 ngày 10/11/2022
[14] Đối với hợp đồng thế chấp ký kết giữa bà Nguyễn Thị H và Ngân hàng thương mại cổ phần V1 có nội dung thể hiện: bà H thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (thửa đất số 86, tờ bản đồ số 32) tại địa chỉ: thôn Q, Xã Y, Huyện L theo GCNQSDĐ và quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DH 147368, số vào sổ cấp GCN: CH01856 do UBND huyện L cấp ngày 10/11/2022 để đảm bảo cho khoản vay của bà H tại V3. Hiện Ngân hàng cung cấp bà H đã trả hết khoản vay này và V3 đã giải chấp tài sản bảo đảm này nên HĐXX không đặt ra xem xét.
Từ những phân tích trên HĐXX thấy có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông T, bà H, sửa bản án dân sự sơ thẩm như đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tại phiên toà, theo đó không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
[15] Ngoài ra bản án sơ thẩm còn có các sai sót sau cần rút kinh nghiệm:
- Việc tính án phí có giá ngạch đối với diện tích đất mà nguyên đơn yêu cầu bị đơn chấm dứt hợp đồng thuê nhà để trả lại nhà đất là không đúng quy định, HĐXX phúc thẩm cần tính lại theo quy định.
- Bản án sơ thẩm nhận định không có căn cứ chấp nhận việc bà H trình bày đã thanh toán đủ 1.500.000.000 đồng cho bị đơn và tách cho bị đơn có quyền khởi kiện để đòi bà H số tiền này bằng một vụ án khác là không đảm bảo giải quyết vụ án được toàn diện, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án.
[16] Về chi phí tố tụng và án phí:
- Về chi phí tố tụng: do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị H phải chịu toàn bộ tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 6.405.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Cụ thể: 300.000 đồng án phí đối với yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê nhà; án phí trên số tiền thuê nhà yêu cầu trả là 144.000.000 đồng x 5% = 7.200.000 đồng và 300.000 đồng do yêu cầu phản tố huỷ bỏ HĐ CNQSDĐ ngày 22/8/2022 của bị đơn được chấp nhận. Tổng cộng án phí dân sự sơ thẩm bà H phải chịu là: 7.800.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của BLTTDS; khoản 1, khoản 5 Điều 26; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa .
- Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận nên ông T bà H1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phùng Văn T, bà Tạ Thị H1. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 62/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Căn cứ Điều 167, Điều 168 của Luật đất đai năm 2013; Điều 133, khoản 2, khoản 3 Điều 152 của Luật đất đai năm 2024;
Căn cứ Điều 409, Điều 410, Điều 413, Điều 424, Điều 427, Điều 500, Điều 501, Điều 502, Điều 503 của Bộ luật dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1, khoản 5 Điều 26; khoản 2, khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Nguyễn Thị H về việc:
- + Tuyên bố chấm dứt hợp đồng thuê nhà ngày 14/9/2022 giữa bên cho thuê là bà Nguyễn Thị H và bên thuê là ông Phùng Văn T, bà Tạ Thị H1. Tài sản cho thuê là 01 ngôi nhà trần xây dựng khoảng 150m² được xây trên thửa đất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q 878479, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 01866 QSDĐ/QĐ số 663 QĐ-CT (H) T155-Q12 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang cấp ngày 24/10/2001 cho hộ ông Phùng Văn T3; ngày 12/9/2022 được Chi nhánh Văn phòng Đ xác nhận đã chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị H (ngày 10/11/2022 Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DH 14368; số vào sổ cấp GCN: CH 1856 T110, Q19 mang tên bà Nguyễn Thị H).
- + Buộc ông Phùng Văn T và bà Tạ Thị H1 phải di chuyển đi chỗ khác, trả lại nhà đất trên cho bà Nguyễn Thị H.
- + Buộc ông Phùng Văn T và bà Tạ Thị H1 phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị H tiền thuê nhà từ thời điểm ký hợp đồng cho đến ngày xét xử sơ thẩm là 144.000.000 đồng (một trăm bốn mươi bốn triệu đồng).
- - Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Phùng Văn T và bà Tạ Thị H1: Hủy bỏ HĐCNQSDĐ và tài sản gắn liền với đất ngày 22/8/2022 giữa bên chuyển nhượng là ông Phùng Văn T, bà Tạ Thị H1 và bên nhận chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị H; hợp đồng được công chứng ngày 22/8/2022 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Văn T4, số công chứng: 1174; quyển số: 03/2022 TP/CC-SCC/HĐGD.
- Việc đăng ký biến động quyền sử dụng đất từ ông Phùng Văn T sang bà Nguyễn Thị H của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai ngày 12/9/2022 và việc UBND huyện L thực hiện đăng ký biến động đất đai, cấp GCNQSDĐ cho bà Nguyễn Thị H số DH 147368 ngày 10/11/2022 cần phải bị huỷ bỏ theo quy định của pháp luật.
- Bà Tạ Thị H1 và ông Phùng Văn T có quyền liên hệ với các cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện quyền đăng ký lại quyền sử dụng đất của chủ sử dụng đất hợp pháp theo quy định của pháp luật.
- - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Nguyễn Thị H về việc:
- Về chi phí tố tụng: bà Nguyễn Thị H phải chịu toàn bộ tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 6.405.000 đồng. Xác nhận bà H đã nộp đủ số tiền này.
- Về án phí:
- - Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Nguyễn Thị H phải chịu 7.800.000 đồng án phí dân sơ thẩm, được trừ và o 3.300.000 đồng theo biên lại số 00088203 ngày 25/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam. Bà H còn phải nộp tiếp 4.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Phùng Văn T bà Tạ Thị H1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả ông T 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0008408 ngày 02/10/2024; Hoàn trả bà H1 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0008409 ngày 02/10/2024 đều của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hà Giang |
Bản án số 42/2025/DS-PT ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về yêu cầu tuyên bố chấm dứt hợp đồng thuê nhà; kiện đòi tài sản và yêu cầu tuyên bố hủy bỏ hđcnqsdđ và tài sản gắn liền với đất
- Số bản án: 42/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu tuyên bố chấm dứt hợp đồng thuê nhà; kiện đòi tài sản và yêu cầu tuyên bố hủy bỏ HĐCNQSDĐ và tài sản gắn liền với đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng thue tài sản
