|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 46/2025/HS-ST Ngày: 11/03/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lý Anh Tuấn
Bà Vũ Thị Mai
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Linh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Bá Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 03 năm 2025 tại Toà án nhân dân quận Đống Đa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 20/2025/TLST- HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN VĂN N, sinh ngày 11 tháng 01 năm 1988; Tại: Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHK TT: Đ, thôn P, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn V, con bà Nguyễn Thị T; Vợ: Nguyễn Thị C; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: 01 tiền án: Ngày 05/09/2022, bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/11/2023 (Chưa nộp án phí, tiền truy thu; chưa xóa án tích); Nhân thân: 02 tiền sự: + Ngày 11/7/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức buộc Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; + Ngày 09/5/2022, bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông buộc Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Danh chỉ bản số 1092 do Công an quận Đ lập ngày 12/12/2024. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 02/12/2024, bị tạm giữ và tạm giam từ ngày 03/12/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Chị Đinh Thị P, sinh năm 2000; HKTT: xóm B, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 02/12/2024, Nguyễn Văn N (sinh năm 1988; trú tại Đ, P, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội) mang theo 01 vam và 01 cờ lê đi bộ lang thang để hoạt động trộm cắp xe máy. Khi đi đến trước số nhà A ngách I ngõ I phố C, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội, Ngợi phát hiện 01 (một) chiếc xe máy Honda Wave, màu đỏ đen, biển kiểm soát 18F1-119.87 của chị Đinh Thị P (sinh năm 2000; trú tại xóm B, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định). Quan sát thấy chiếc xe máy không có ai trông giữ nên N đã tiến lại gần dùng bộ "vam" mang theo chọc vào ổ khóa, vặn phá khóa nhưng xe không lên điện. Lúc này, N bị người dân phát hiện, hô hoán truy đuổi và khống chế, bắt giữ đưa về trụ sở Công an phường T để làm việc.
Tại Cơ quan Công an, Nguyễn Văn N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Ngợi khai do bản thân không có việc làm, cần tiền tiêu xài cá nhân nên đã nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản. Chiều ngày 02/12/2024 N mang theo 01 vam và 01 cờ lê đi bộ lang thang quanh khu phố C tìm các xe máy sơ hở không có ai trông giữ để trộm cắp. Khi đi đến khu vực ngõ I phố C phát hiện 01 (một) chiếc xe máy Honda Wave, màu đỏ đen không có ai trông giữ N đã dùng bộ vam mang sẵn trong người và phá ổ khoá cổ của xe. Sau khi N phá được ổ khoá cổ xe nhưng xe không lên điện. Ngợi chuẩn bị dắt xe đi thì bị người dân phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 279/KL-HĐĐGTS ngày 09/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân quận Đ, kết luận:
“01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ đen, biển kiểm soát 18F1-119.87, SK 541074, SM 393803, đã qua sử dụng, đã thu hồi xác định giá trị thời điểm tháng 12/2024 định giá 4.450.000 đồng.”
Vật chứng vụ án:
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ đồ vật, tài sản gồm:
- - 01 (một) vam lục giác bằng kim loại dài khoảng 06cm, một đầu được mài nhọn hai cạnh;
- - 01 (một) cờ lê số 8 bằng kim loại;
- - 01 (một) xe máy Honda Wave, màu đỏ đen, biển kiểm soát 18F1-119.87.
Đối với chiếc xe máy 01 (một) chiếc xe máy Honda Wave, màu đỏ đen, mang biển kiểm soát 18F1-119.87, là tài sản hợp pháp của chị Đinh Thị P. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả tài sản cho chị P.
Trách nhiệm dân sự: Người bị hại là chị Đinh Thị P đã nhận lại tài sản bị mất trộm nên không có yêu cầu đề nghị gì.
Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 05/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân Quận Đống Đa truy tố Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố sau khi phân tích đánh giá tính chất mức độ phạm tội của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 57; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 10 đến 12 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) vam lục giác bằng kim loại dài khoảng 06cm và 01 (một) cờ lê số 8 bằng kim loại là công cụ phạm tội của bị cáo nên đề nghị tịch thu tiêu huỷ; Về phần dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường về dân sự nên không đề nghị gì; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo xuất trình các tài liệu, chứng cứ phù hợp quy định pháp luật, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Lời khai bị hại, nhân chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, bản kết luận định giá tài sản... có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 15 giờ 40 phút, ngày 02/12/2024, Nguyễn Văn N đã có hành vi dùng vam mang theo phá khóa để trộm cắp chiếc xe máy Honda Wave, màu đỏ đen, biển kiểm soát 18F1-119.87 trị giá 4.450.000 đồng của chị Đinh Thị P tại trước số A ngõ I Chùa B, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội thì bị quần chúng nhân dân phát hiện bắt giữ.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Trong vụ án này, bị cáo chưa chiếm đoạt được tài sản, bị cáo mới mở được khoá cổ xe, chuẩn bị dắt xe đi chưa dịch chuyển được chiếc xe thì bị người dân phát hiện hô hoán bắt giữ đưa về trụ sở công an phường T để làm rõ nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự ở giai đoạn phạm tội chưa đạt theo quy định tại các Điều 15, Điều 57 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc lén lút trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Mặc dù, đã được cơ quan pháp luật giáo dục nhưng không chịu sửa đổi, lười lao động, tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, chủ động chuẩn bị công cụ phương tiện mang theo 01 vam và 01 cờ lê để thực hiện hành vi phá khoá trộm cắp xe máy. Vì vậy cần phải xét xử bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời nhằm giáo dục răn đe phòng ngừa chung.
[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa xóa án tích, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không xét.
[6] Về những vấn đề khác: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) vam lục giác bằng kim loại dài khoảng 06cm và 01 (một) cờ lê số 8 bằng kim loại đã thu giữ của bị cáo. Xét đây là công cụ bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc xe máy 01 (một) chiếc xe máy Honda Wave, màu đỏ đen, mang biển kiểm soát 18F1-119.87, qua xác minh xác định là tài sản hợp pháp của chị Đinh Thị P. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả tài sản cho chị Đinh Thị P là có căn cứ.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Từ lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 15; Điều 57; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn N 15 (Mười lăm) tháng tù, Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/12/2024.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) vam lục giác bằng kim loại dài khoảng 06cm, một đầu được mài nhọn hai cạnh; - 01 (một) cờ lê số 8 bằng kim loại. Hiện các vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa, theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 145 ngày 17/02/2025.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký, đóng dấu) Nguyễn Thị Bình |
Bản án số 46/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 46/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn N phạm tội Trộm cắp tài sản
