|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 46/2025/HS-ST
Ngày: 28-02-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đình Hưng.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sỹ và bà Lê Thị Ngọc .
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Thao - Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Nhất - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2025/HSST ngày 20.01.2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST-HS ngày 13.02.2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn K, giới tính: Nam; sinh ngày 30/01/1989 tại tỉnh Bình ĐịnhNơi thường trú: Thôn K, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định; Tạm trú: Hẻm D L, thành phố P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Kỹ sư xây dựng; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn T và bà: Nguyễn Thị H; Vợ: Phạm Thị Thu T1, sinh năm 1992; Con: 01 người, sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 10/9/2024 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1.
Địa chỉ: Số A H, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Tấn Đ – Giám đốc (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Phan Huỳnh Đ1, sinh năm 1998 (Vắng mặt).
Nơi thường trú: Tổ A, khu phố G, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
Nơi ở hiện tại: Tổ D, khu phố H, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
2. Bà Bùi Thị H1, sinh năm 1972 và ông Vũ Tuấn D, sinh năm 1974 (Có mặt).
Đồng cư trú: Thôn M, xã C, huyện K, tỉnh Gia Lai.
- Người làm chứng: Lê Ngọc C.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 05/02/2023, Nguyễn Văn K ký hợp đồng thuê xe ô tô biển kiểm soát 77A-153.99 với Công ty Trách nhiệm hữu hạn D1 (Gọi tắt là Công ty D1) trong thời hạn 03 tháng, giá thuê xe 26.000.000 đồng/tháng, nhưng trong hợp đồng chỉ ghi 15.000.000 đồng/tháng. Ngày 05/5/2023, hai bên thỏa thuận miệng tiếp tục kéo dài thời hạn thuê xe đến ngày 05/12/2023, các điều khoản giữ nguyên như trong hợp đồng đã ký trước đó.
Ngày 22/5/2023, do cần tiền tiêu xài cá nhân, Nguyễn Văn K mang xe ô tô biển kiểm soát 77A-153.99 đến gặp bà Bùi Thị H1, nói dối chiếc xe ô tô biển kiểm soát 77A-153.99 là của mình rồi cầm cố cho bà H1 để mượn số tiền 100.000.000 đồng. Đến ngày 08/6/2023, K tiếp tục mượn bà H1 số tiền 35.000.000 đồng. Cả 02 lần mượn tiền, K đều tự viết giấy mượn tiền và cam kết sẽ trả tiền để lấy xe trong thời hạn 01 tháng. Tháng 08/2023, K nhận được 180.000.000 đồng tiền lời từ công trình nhưng chỉ trả cho bà H1 10.000.000 đồng, số tiền còn lại K sử dụng để tiêu xài cá nhân. Sau khi hết thời hạn cho thuê xe, Công ty D1 nhiều lần yêu cầu K trả xe nhưng K không trả. Sau đó, K thông báo cho Công ty D1 biết chiếc xe ô tô trên đã được Khoa cầm cố tại xã C, huyện K, tỉnh Gia Lai lấy 135.000.000 đồng, hiện tại K không có tiền để lấy xe.
Ngày 09/4/2024, anh Lê Tấn Đ làm Đơn tố cáo Nguyễn Văn K có hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” gửi đến Công an thành phố Q.
Ngày 25/4/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q kết luận: Chiếc xe ô tô nhân hiệu MITSUBISHI; số loại XPANDER GLP NC1WLRQHLVVT; số khung MK2XRNC1WKN058398; số máy 4A91HH0093; loại xe ô tô con; màu sơn: Trắng; số chỗ ngồi: 07; năm sản xuất: 2019, đã qua sử dụng bị chiếm đoạt có giá trị 410.000.000 đồng.
Vật chứng vụ án, Cơ quan Công an đã thu giữ và trả lại cho công ty D1: 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu MITSUBISHI; Số loại XPANDER GLP NC1WLRQHLVVT; Số khung MK2XRNC1WKN058398; Số máy 4A91HH0093; Loại xe ô tô con; Màu sơn: Trắng; Số chỗ ngồi: 07; Năm sản xuất: 2019, đã qua sử dụng.
Tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKSQN ngày 17/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Văn K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo Cáo trạng.
2
Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 175, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù.
Về dân sự:
- Bị hại Công ty D1 không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.
- Buộc bị cáo có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Bùi Thị H1 và ông Vũ Tuấn D số tiền 125.000.000 đồng.
Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo Nguyễn Văn K thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Nguyễn Văn K xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Q tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử có cơ sở để kết luận: Do nhu cầu sử dụng xe ô tô làm phương tiện đi lại, vào ngày 05/02/2023, bị cáo Nguyễn Văn K ký hợp đồng thuê xe ô tô biển kiểm soát 77A-153.99 của Công ty D1 để sử dụng, sau đó gia hạn đến ngày 05/12/2023 kết thúc hợp đồng thuể xe, khi hết đồng thuê xe bị cáo có nghĩa vụ trả lại xe ô tô biển số 77A-153.99 và các giấy tờ liên quan cho công ty D1. Tuy nhiên, trrong thời gian thuê xe, do cần tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt xe ô tô của công ty D1 nên đem xe ô tô biển số 77A-153.99 đến gặp vợ chồng bà Bùi Thị H1, ông Vũ Tuấn D nói dối đây là xe ô tô của bị cáo và thế chấp cho bà H1, ông D lấy số tiền 135.000.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Văn K có đầy đủ sức khỏe, năng lực trách nhiệm hình sự nên phải biết việc bị cáo ký kết hợp đồng thuê xe với công ty D1 là hợp đồng dân sự, các bên phải có nghĩa vụ thực hiện. Sau khi kết thúc hợp đồng thuê xe, bị cáo phải có nghĩa vụ trả lại ô tô biển số 77A-153.99 cho công ty D1 theo hợp đồng. Nhưng vì tham lam, xem thường pháp luật, trong thời gian thuê xe bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt xe ô tô biển số 77A-153.99 của công ty D1, đã đem xe ô tô
3
cầm cố lấy số tiền 135.000.000 đồng tiêu xài rồi bỏ trốn, bỏ mặc hậu quả xảy ra. Theo Hội đồng định giá tài sản, xe ô tô bị cáo chiếm đoạt của bị hại có trị giá 410.000.000 đồng. Vì vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung “Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi do bị cáo Nguyễn Văn K gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương nên phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thì thấy rằng:
4.1 Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, trước đó chưa vi phạm gì.
4.2 Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
4.3 Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo an tâm cải tạo tốt.
[5] Về bồi thường thiệt hại:
5.1 Xe ô tô biển số 77A-153.99 do anh Phan Huỳnh Đ1 đứng tên đăng ký, anh Đ1 cho công ty D1 thuê, đồng thời Tấn Đ cho bị cáo Nguyễn Văn K thuê lại. Hiện nay xe ô tô đã được thu hồi trả lại cho công ty D1 và công ty D1 đã trả lại xe ô tô trên cho anh Phan Huỳnh Đ1, đại diện công ty D1 và anh Đ1 không có yêu cầu bồi thường nên HĐXX không xem xét giải quyết.
5.2 Bị cáo thế chấp xe ô tô trên cho vợ chồng bà Bùi Thị H1, ông Vũ Tuấn D lấy số tiền 135.000.000 đồng, bị cáo đã trả cho bà H1 được 10.000.000 đồng, còn lại số tiền 125.000.000 đồng bà H1, ông D yêu cầu bị cáo phải hoàn trả. Do đó, buộc bị cáo K phải bồi thường cho bà H1, ông D số tiền 125.000.000 đồng.
[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và có nghĩa vụ hoàn trả nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo và án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
[7] Về vấn đề khác: Đối với hành vi của bà Bùi Thị H1 nhận cầm cố chiếc xe ô tô biển kiểm soát 77A-153.99 từ Nguyễn Văn K. Xét thấy, bà H1 không biết xe ô tô này do Nguyễn Văn K chiếm đoạt của Công ty D1 nên không phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự.
[8] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tại phiên toà, về mức hình phạt của bị cáo và các phần đề nghị khác phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
4
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 175, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 579, Điều 580 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/9/2024.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn K có nghĩa vụ hoàn trả lại cho vợ chồng bà Bùi Thị H1, ông Vũ Tuấn D số tiền 125.000.000 (Một trăm hai mươi lăm triệu) đồng.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 6.250.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
6 Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
6.1 Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
6.2 Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã kí và đóng dấu Ngô Đình Hưng |
6
Bản án số 46/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự: lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 46/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do nhu cầu sử dụng xe ô tô làm phương tiện đi lại, vào ngày 05/02/2023, bị cáo Nguyễn Văn K ký hợp đồng thuê xe ô tô biển kiểm soát 77A-153.99 của Công ty T để sử dụng, sau đó gia hạn đến ngày 05/12/2023 kết thúc hợp đồng thuể xe, khi hết đồng thuê xe bị cáo có nghĩa vụ trả lại xe ô tô biển số 77A-153.99 và các giấy tờ liên quan cho công ty T. Tuy nhiên, trrong thời gian thuê xe, do cần tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt xe ô tô của công ty T nên đem xe ô tô biển số 77A-153.99 đến gặp vợ chồng bà Bùi Thị H, ông Vũ Tuấn D nói dối đây là xe ô tô của bị cáo và thế chấp cho bà H, ông D lấy số tiền 135.000.000 đồng.
