Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HNGĐ-ST

Ngày 28-02-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Xuân Quyết;

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Khánh Sơn - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Văn Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 216/2024/TLST-HNGĐ, ngày 23 tháng 7 năm 2024, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 22/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 03 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đăng D; sinh năm 1979; địa chỉ: Số F, ngách B, ngách C, ngõ B, đường Đ, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1988; địa chỉ: Số F, ngách B, ngách C, ngõ B, đường Đ, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng; hiện cư trú: Đài Loan; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/7/2024; bản tự khai đề ngày 23/7/2024 và tại phiên toà, nguyên đơn (anh Nguyễn Đăng D) trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phạm Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn việc tại Ủy ban nhân dân phường C, quận N, thành phố Hải Phòng vào ngày 18/11/2008. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian. Đến năm 2019 thì giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do cách sống không hoà hợp. Khi mâu thuẫn chưa được giải quyết thì chị T đã sang Đài Loan lao động; vợ chồng sống ly thân, không ai còn quan tâm đến ai. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và không còn khả năng đoàn tụ được nữa nên anh D đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phạm Thị T

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Khánh H, sinh ngày 03/5/2009 và Nguyễn Nam K, sinh ngày 25/11/2010. Hiện nay cả hai con đang do anh trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn anh đề nghị Toà án giải quyết giao cả hai con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Việc cấp dưỡng nuôi con do anh và chị T sẽ tự thỏa thuận và tự giao cho nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh và chị T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai của ông Phạm Bá T1 (là bố đẻ chị Phạm Thị T) trình bày: Gia đình đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án và Thông báo yêu cầu cung cấp địa chỉ của bị đơn (chị Phạm Thị T). Sau khi nhận được Thông báo của Toà án, gia đình đã liên lạc và thông báo cho chị T nội dung khởi kiện xin ly hôn của anh D nhưng chị T không cung cấp địa chỉ cụ thể ở bên Đài Loan cho gia đình, vì vậy gia đình không thể cung cấp địa chỉ của chị T cho Toà án được. Quan điểm của gia đình về việc ly hôn giữa anh D và chị T đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

Về con chung: Giữa anh D và chị T có hai con chung là Nguyễn Khánh H, sinh ngày 03/5/2009 và Nguyễn Nam K, sinh ngày 25/11/2010. Ông T1 đề nghị Toà án giải quyết việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn theo quy định pháp luật.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết

Tại đơn trình bày nguyện vọng, các cháu Nguyễn Khánh H, sinh ngày 03/5/2009 và Nguyễn Nam K, sinh ngày 25/11/2010 đều nêu ý kiến mong được ở với bố là Nguyễn Đăng D để đảm bảo cho việc sinh hoạt và học tập.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán và Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng; bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự và các tài liệu Tòa án đã thu thập thể hiện mâu thuẫn tình cảm giữa anh D và chị T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51; Điều 56 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; xử cho anh Nguyễn Đăng D được ly hôn với chị Phạm Thị T.

Về con chung: Anh D và chị T có hai con chung là Nguyễn Khánh H, sinh ngày 03/5/2009 và Nguyễn Nam K, sinh ngày 25/11/2010. Ly hôn, anh D yêu cầu được nuôi cả hai con nên đề nghị Toà án giao cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do nguyên đơn không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Bị đơn (chị Phạm Thị T) có địa chỉ nơi cư trú tại phường V, quận N, thành phố Hải Phòng. Theo nguyên đơn và người thân trong gia đình của bị đơn cung cấp thì hiện bị đơn đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan nhưng không xác định được rõ địa chỉ cụ thể. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn (chị T) vắng mặt tại phiên toà đến lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đăng D và chị Phạm Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, quận N, thành phố Hải Phòng theo quy định của pháp luật (Giấy chứng nhận kết hôn số 145, ngày 18/11/2008). Do đó, quan hệ hôn nhân giữa anh D và chị T là hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện trong thời gian chung sống giữa anh D và chị T phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và lối sống. Khi mâu thuẫn chưa được giải quyết thì chị T đã đi lao động và sinh sống tại Đài Loan. Vợ chồng sống ly thân, xa cách nhau đã lâu, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn và không có khả năng đoàn tụ nên anh D đã khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với chị T.

[5] Xét thấy, anh D và chị T đã không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và chung sống với nhau; vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 và Điều 21 Luật Hôn nhân và gia đình; làm cho cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh D theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[6] Về con chung: Anh D và chị T có hai con chung là Nguyễn Khánh H, sinh ngày 03/5/2009 và Nguyễn Nam K, sinh ngày 25/11/2010. Ly hôn, anh D nhận nuôi cả hai con và không yêu cầu chị T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn. Các cháu Nguyễn Khánh H và Nguyễn Nam K đều có đơn trình bày nguyện vọng muốn được ở cùng với bố. Do vậy cần giao cho anh D được trực tiếp nuôi cả hai con là phù hợp với nguyện vọng của các con và điều kiện, hoàn cảnh thực tế; phù hợp quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[7] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh D không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về tài sản chung: Anh D không đề nghị Tòa án giải quyết phân chia tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[9] Về án phí: Anh Nguyễn Đăng D là nguyên đơn nên phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Đăng D và chị Phạm Thị T đều có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đăng D, cụ thể:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đăng D được ly hôn với chị Phạm Thị T.
  2. Về con chung: Giao hai con là Nguyễn Khánh H, sinh ngày 03/5/2009 và Nguyễn Nam K, sinh ngày 25/11/2010 cho anh Nguyễn Đăng D trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo qui định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con do anh D không yêu cầu nên Toà án không xem xét, giải quyết.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Nguyên đơn (anh Nguyễn Đăng D) phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0000566, ngày 23/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh Nguyễn Đăng D đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo của các đương sự:

    Anh Nguyễn Đăng D được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

    Chị Phạm Thị T được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - UBND phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quang Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 46/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 46/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chpaas nhận
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger